Hôm nay,  

Chữ Vạn: Từ Biểu Tượng Của Sự May Mắn Đến Dấu Ấn Ác Nghiệt Của Đức Quốc Xã

18/10/202400:00:00(Xem: 2066)

Chữ Vạn
Một tấm bưu thiếp tuyên truyền từ những năm 1930 Wikimedia Commons theo CC BY-SA 4.0

Năm 1868, nhà khảo cổ người Đức Heinrich Schliemann đến Ithaca, Hy Lạp với mong muốn tìm ra thành Troy, dựa trên những mô tả trong thi tập hùng sử ca Iliad của thi hào Homer. Nhiều nhà sử học thời đó cho rằng Iliad chỉ là câu chuyện huyền thoại, nhưng Schliemann tin rằng bản trường ca có thể dẫn dắt ông đến với những thành phố cổ đại đã biến mất trong lịch sử.
 
Trong suốt nhiều năm, Schliemann đã lang thang khắp Địa Trung Hải, mang theo niềm tin đối với từng câu chữ trong thi tập hùng sử ca Iliad, từ những tập tục địa phương cho đến các phương pháp điều trị bệnh tật. Ông hy vọng rằng các mô tả của Homer sẽ giúp mình tìm ra những địa điểm có thực. Học giả về văn học cổ điển D.F. Easton từng viết trên tạp chí The Classical World vào năm 1998 rằng: “Schliemann có niềm đam mê mạnh mẽ với lịch sử và muốn xác thực sự tồn tại của thế giới mà Homer mô tả và cuộc chiến thành Troy.
 
Đến những năm 1870, Schliemann đã hiện thực hóa giấc mơ của mình khi khám phá ra thành Troy. Phát hiện này không chỉ mang lại danh tiếng cho ông mà còn khiến cả thế giới quan tâm. Tuy nhiên, bên cạnh thành cổ nổi tiếng, ông còn phát hiện ra một biểu tượng khác: chữ Vạn (swastika) – biểu tượng về sau bị lợi dụng để định hình lịch sử thế giới.

postcard chữ vạn
Một tấm bưu thiếp năm 1907 xác định chữ vạn là "biểu tượng của sự may mắn" - Brycesteiner via Wikimedia Commons under CC BY-SA 4.0

Schliemann tìm thấy chữ Vạn trong quá trình khai quật ở bờ biển Aegean, Thổ Nhĩ Kỳ, tại Hisarlik. Phương pháp khai quật của ông tuy thô bạo, nhưng lại mang lại kết quả đáng kinh ngạc. Schliemann đã khám phá ra nhiều lớp di tích từ các nền văn minh khác nhau tồn tại qua hàng ngàn năm. Bên cạnh thành Troy, Schliemann còn tìm thấy hơn 1,800 biến thể của chữ Vạn trên các mảnh gốm và hiện vật khác.
 
Chữ Vạn không chỉ xuất hiện ở thành Troy mà còn ở nhiều nơi khác trên thế giới, từ Tây Tạng, Paraguay cho đến Phi Châu. Thời kỳ đó, swastika được coi là biểu tượng của may mắn và xuất hiện rộng rãi trên các sản phẩm của Coca-Cola, tài liệu của Hướng Đạo Sinh, và thậm chí trên quân phục Hoa Kỳ. Trong hầu hết các trường hợp, chữ Vạn vẫn được xem như biểu tượng của sự may mắn, đúng với ý nghĩa tích cực ban đầu của mình trong hàng ngàn năm qua. Tuy nhiên, sau Thế Chiến I, chữ Vạn đã bị gắn liền với một phong trào nguy hiểm: làn sóng chủ nghĩa dân tộc lan rộng khắp nước Đức, được thúc đẩy bởi niềm tin vào sự ưu việt của “chủng tộc Aryan.
 
Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc Aryan
 
Ban đầu, “Aryan” được sử dụng để mô tả nhóm ngôn ngữ Ấn-Âu, không có liên quan gì đến phân biệt chủng tộc. Nhưng vào cuối thế kỷ 19, với sự phát triển của thuyết tinh hoa nòi giống (eugenics) và “thanh lọc chủng tộc” (racial hygiene), thuật ngữ này bị biến thành một khái niệm để mô tả một “chủng tộc thượng tôn” cổ đại, có liên quan trực tiếp với nước Đức đương thời và người Đức được cho là hậu duệ. Trong những năm 1800, nhà quý tộc người Pháp Arthur de Gobineau đã phát triển quan điểm này trong tác phẩm “Luận về sự bất bình đẳng giữa các chủng tộc,” khẳng định rằng người Đức là hậu duệ ưu việt của người Aryan cổ đại, được định sẵn là mang mệnh lãnh đạo, dẫn dắt thế giới tiến bộ hơn, bằng việc chinh phục và mở rộng ảnh hưởng lên các dân tộc khác.
 
Đối với những người theo chủ nghĩa dân tộc Đức, các phát hiện của Schliemann mang ý nghĩa mới cho một hệ tư tưởng. Họ coi chữ Vạn là biểu tượng “thuần chủng Aryan,” thể hiện sự vượt trội của họ. Các nhóm như Reichshammerbund (một phong trào bài Do Thái thành lập năm 1912) và Freikorps xứ Bavaria (lực lượng bán quân sự chống lại Cộng hòa Weimar) đã sử dụng swastika để khẳng định bản sắc chủng tộc của mình. Mặc cho nguồn gốc chữ Vạn xuất phát từ nhiều nền văn hóa khác nhau như Hy Lạp cổ đại, Ấn Độ giáo, Phật giáo, họ chỉ tập trung vào ý nghĩa mà họ muốn gán cho swastika: biểu tượng của sự thống trị của người Aryan.
 
Nhà nhân chủng học Gwendolyn Leick từng viết trên tạp chí Folklore vào năm 1997 rằng: “Khi Schliemann phát hiện ra các họa tiết giống chữ Vạn trên những mảnh gốm ở các tầng khảo cổ tại thành Troy, những người theo chủ nghĩa dân tộc Đức đã xem đó là bằng chứng cho sự liên tục chủng tộc, chứng minh rằng cư dân cổ đại của Troy là người Aryan. Mối liên quan giữa chữ Vạn và nguồn gốc Ấn-Âu, một khi đã được hình thành, là đã không thể xóa bỏ. Sự liên kết này cho phép cảm xúc và tư tưởng dân tộc gắn liền với một biểu tượng chung, từ đó vẽ ra ranh giới phân định giữa người Đức (Aryan) và những người không phải người Đức (không Aryan).
 
Chữ Vạn và Đức Quốc xã
 
Hình 3
Kể từ sau Thế Chiến I, chữ Vạn đã bị gắn liền với một chế độ tàn bạo, trở thành biểu tượng của sự áp bức và bạo lực. (Nguồn: pixabay.com)
Khi chữ Vạn ngày càng gắn liền với chủ nghĩa dân tộc Đức, cũng đang là lúc ảnh hưởng của Adolf Hitler ngày càng lớn. Năm 1920, Hitler đã chọn chữ Vạn, hay còn gọi là “chữ thập móc” (hooked cross) làm biểu tượng chính thức cho Đảng Quốc xã. Theo Steven Heller, tác giả cuốn “The Swastika: Symbol Beyond Redemption?” Hitler bị thu hút bởi swastika vì biểu tượng này đã được sử dụng trong nhiều nhóm dân tộc chủ nghĩa và phân biệt chủng tộc khác, và vì Đảng Quốc xã cần một biểu tượng thật mạnh mẽ để khẳng định sức mạnh và bản sắc riêng của mình.
 
Để củng cố vị thế của chữ Vạn như một biểu tượng của quyền lực Quốc xã, ngày 19 tháng 5 năm 1933, Joseph Goebbels, Bộ trưởng Tuyên truyền của Hitler, đã ban hành lệnh cấm việc sử dụng swastika trong thương mại, mậu dịch mà không có sự cho phép. Biểu tượng swastika cũng xuất hiện nổi bật trong bộ phim tuyên truyền nổi tiếng Triumph of the Will năm 1936 của đạo diễn Leni Riefenstahl. Nhà sử học Malcolm Quinn viết trong The Swastika: Constructing the Symbol rằng: “Trong bộ phim, khi Hitler vắng mặt, chữ Vạn đã thay thế hắn, trở thành biểu tượng cho bản sắc cá nhân và quốc gia, đại biểu cho thứ quyền lực tối thượng của Quốc trưởng.
 
Chữ Vạn đã xuất hiện trên đồng phục, cờ và trong các cuộc diễu hành của Đức Quốc xã, gắn liền với chế độ tàn bạo và trở thành biểu tượng của sự áp bức và bạo lực.
 
Ngày nay chữ Vạn có ý nghĩa gì?
 
Sau Thế Chiến II, Đức đã ban hành lệnh cấm sử dụng công khai chữ Vạn và kiểu chào của Đức Quốc xã. Dù có một số ngoại lệ, chẳng hạn như trong trường, lớp để giảng dạy về lịch sử hoặc văn hóa, việc trưng bày biểu tượng này ở những nơi bị cấm có thể sẽ bị phạt nặng.
 
Tuy nhiên, một số nhà sử học nghĩ rằng những nỗ lực cấm đoán đó chỉ càng làm cho ‘quyền lực’ của chữ Vạn lớn hơn. Hiện nay, biểu tượng swastika thường được các nhóm thượng tôn da trắng sử dụng trên toàn thế giới. Những kẻ phá hoại bài Do Thái thường lén sơn vẽ biểu tượng này lên các giáo đường Do Thái, trung tâm cộng đồng người Do Thái, sân chơi trẻ em, và thậm chí là các đài tưởng niệm Holocaust.
 
Heller cho biết: “Muốn xóa bỏ ý nghĩa tiêu cực của chữ Vạn là điều không thể. Muốn như vậy ta sẽ cần phải ‘tẩy não’ rất nhiều người. Còn nếu cứ để swastika tiếp tục tồn tại, thì chính biểu tượng này lại đi ‘tẩy não’ rất nhiều người khác. Chừng nào mà chữ Vạn còn khơi gợi cho mọi người rằng đó là biểu tượng của cái ác và thu hút sự tò mò, thì chúng ta đừng nghĩ tới chuyện có thể ‘thanh tẩy’.
 
Cung Đô biên dịch
Nguồn: “How the Swastika, an Ancient Symbol of Good Fortune Used Around the World, Became the Nazi Logo” được đăng trên trang Smithsonianmag.com.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi ngày kỷ niệm 250 năm Tuyên Dương Độc Lập đang đến gần, Hoa Kỳ đứng trước một câu hỏi quan trọng: Liệu một trong những giá trị cốt lõi nhất của bản Tuyên Dương – rằng chính phủ phải hoạt động minh bạch, có trách nhiệm trước nhân dân và tuân thủ pháp luật – có còn được giữ vững? Trước khi bản Tuyên Dương Độc Lập ra đời, các nhà lập quốc đã lên án việc chính quyền Vua George III chà đạp nhân quyền của các thuộc địa. Không chỉ vậy, họ còn đưa nguyên tắc bảo vệ vào Hiến pháp sau này, thông qua khái niệm gọi là “quyền được xét xử công bằng” (due process).
Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, Donald Trump đã khiến nhiều người sửng sốt vì tốc độ thay đổi chóng mặt trong hàng ngũ các viên chức nội các và cố vấn thân cận. Nhưng khi bước vào nhiệm kỳ hai, hiện tượng ấy gần như biến mất; chỉ còn một vài người rút lui. Nhưng theo các chuyên gia, điều đó không đồng nghĩa với sự hòa hợp. Thay vào đó, sự “ổn định” ấy đến từ việc Trump chỉ chọn những người không dám làm trái ý mình. Những người sẵn sàng nghe và vâng lời ông, bất kể đúng sai.
Ở Hoa Kỳ, khi nghe đến cụm từ “giáo dục tổng quát,” người ta thường hình dung về những khóa học nhập môn trong các lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và toán học. Tùy vào mỗi trường, chương trình này có thể mang những cái tên khác nhau như “chương trình căn bản” (core curriculum) hay “các môn học bắt buộc” (distribution requirements). Ngoài ra, chương trình này đôi khi còn có một tên gọi khác là “giáo dục khai phóng” (liberal education). Hội các trường Cao đẳng và Đại học Hoa Kỳ (American Association of Colleges and Universities, AACU) mô tả đây là chương trình giúp bồi dưỡng “tinh thần trách nhiệm xã hội, cùng với các kỹ năng trí tuệ và thực tiễn vững vàng có thể vận dụng linh hoạt.”
Trong nhiều năm kể từ khi Jeffrey Epstein được phát hiện chết trong phòng giam tại Metropolitan Correctional Center (MCC), New York, giới chức liên bang luôn khẳng định rằng cái chết này là một vụ tự sát. Tuy nhiên, một cuộc điều tra độc lập do CBS News thực hiện đã phơi bày hàng loạt mâu thuẫn giữa các tuyên bố của chính phủ và những gì thực sự hiện ra trong đoạn phim giám sát vừa được công bố.
Cuối mùa Hè năm 1955, Till-Mobley tiễn con trai của bà, Emmett Till 14 tuổi lên một chuyến tàu từ Chicago đến thăm chú và các anh em họ của Emmett ở quê hương Mississippi của bà. Giống như những phụ nữ và đàn ông da đen nói với con cái họ về việc chú ý các điểm dừng giao thông và các cuộc chạm trán khác với cảnh sát, Till-Mobley đã căn dặn Emmett rất kỹ. Bà cho cậu biết cậu đang đi đến một nơi mà an toàn phụ thuộc vào khả năng kiềm chế sự bốc đồng, tính cách không khuất phục của cậu với người da trắng. Linh cảm của người mẹ mang đến trong lòng bà nỗi bất an không giải thích được. Bà đưa cho Emmett chiếc nhẫn bạc của ông Louis Till, cha của cậu. Chiếc nhẫn khắc chữ L.T.
“Đi về Miền Nam, miền hương thơm bông lúa tràn ngập đầy đồng; Đi về Miền Nam, miền xinh tươi đất rộng cùng chung nguồn sống” Và cứ như thế, với tiếng hát trong tâm tưởng, từng đoàn người gồng gánh ra đi. Họ đi về hướng Nam giống như cha ông của mình từ bao nhiêu thế kỷ trước. Bây giờ lại còn một động lực mới và mãnh liệt khác, đó là đi tìm tự do: ‘chúng tôi muốn sống!’, như tên gọi một cuốn phim nổi tiếng của đồng bào di cư sau này. Cuối tháng 6, dù hiệp định đình chiến chưa ký kết nhưng quân đội Pháp và Quốc gia đã rút lui khỏi nhiều địa điểm ở đồng bằng Bắc Việt nên nhiều người bắt đầu di tản về các đô thị, đặc biệt là Hải phòng.
Cõi này ngày càng bất an! Tình trạng hâm nóng toàn cầu đã dẫn tới nhiều thảm họa như bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng cao, dịch bệnh, mất mùa, đói khát lầm than. Chiến tranh thù hận ngày càng hung bạo đã làm cho hàng triệu người thương vong, nhà cửa ruộng vườn bị phá hoại. Các chế độ độc tài, quân phiệt, và nạn kỳ thị sắc tộc đã thẳng tay đàn áp dân lành. Tất cả những điều trên đã dẫn đến thảm trạng bỏ nước đi của hàng triệu người trên thế giới! Theo Population Division of the United Nations Department of Economic and Social Affairs (UNDESA), năm 2024 có tới 304 triệu di dân trên toàn cầu, là một con số tăng gần gấp đôi kể từ năm 1990, khi lúc đó có 154 triệu di dân trên thế giới. Đó là 3.7% tổng dân số địa cầu. Theo Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tính tới cuối năm 2024, có 43.7 triệu người tị nạn, gồm 6 triệu người tị nạn từ Palestine và 8 triệu người xin được nhận vào quy chế tị nạn trên toàn cầu.
Trong số người Việt, thế hệ thứ nhất có 29% học xong cử nhân hay cao hơn. Thế hệ sinh ra lớn lên tại Hoa Kỳ con số này là 59%. Như thế có thể lý giải là phụ huynh không có cơ hội học cao nhưng khuyến khích con theo đuổi đường học vấn cho tương lai.
Khi các chuyên gia quan ngại về mối quan hệ của giới trẻ với thông tin trực tuyến, họ thường cho rằng giới trẻ tuổi không hiểu biết về phương tiện truyền thông như những người lớn tuổi hơn. Nhưng công trình nghiên cứu dân tộc học do Jigsaw – cơ sở công nghệ của Google - thực hiện lại tiết lộ một thực tế phức tạp và tinh tế hơn: Thế hệ Z, thường được hiểu là những người sinh sau năm 1997 và trước năm 2012, đã phát triển các chiến lược khác biệt rõ rệt để đánh giá thông tin trực tuyến, những chiến lược sẽ khiến bất kỳ ai trên 30 tuổi trở nên bối rối. Họ không tiếp thu thông tin như những người lớn tuổi hơn bằng cách đầu tiên đọc tiêu đề và sau đó là nội dung.
Người Việt Nam không ai xa lạ với từ ‘Gulag’ - trại tù lao động khổ sai khét tiếng của Liên Bang Xô Viết. Ước tính trong khoảng hai thập niên từ 1930-1953, nơi đây giam giữ khoảng 4 triệu tù nhân; 1.5 triệu đã chết trong tù hay sau khi được thả một thời gian ngắn. Gulag từng được xem là địa ngục trần gian, là biểu tượng cho sự tàn bạo của nhà tù cộng sản. Trong những ngày cuối tháng 6, khi mà người dân Mỹ chuẩn bị pháo hoa đón mừng Lễ Độc Lập, cái tên Gulag được sử dụng khi nói đến một nhà tù mới được hình thành ở Florida. Nhà tù này có tên gọi là Alligator Alcatraz. Trong một bài viết được đăng trên trang mạng Amrican Community Media ngày 30/06/2025, nhà báo Laszlo Bartus đã cảnh báo rằng nó sẽ là nhà tù vô nhân đạo nhất thế giới.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.