Hôm nay,  

Việt Nam, Hoa Kỳ Và Iraq

22/12/200300:00:00(Xem: 5629)
Hoa Kỳ tài trợ các cơ quan nghiên cứu chiến lược (think tank) nơi đó các nhà chuyên môn đặt ra nhiều giả thuyết khác nhau về các tranh chấp trên thế giới và dự trù phản ứng của chính quyền trong trường hợp những biến chuyễn này trở thành sự thật. Vài thí dụ như trường hợp Ấn Độ tấn công Bangladesh, Bắc Hàn vượt biên giới sang Nam Hàn, chiến tranh tái bùng nổ giữa Anh Quốc & Argentina, thành phần quốc gia cực đoan đảo chánh tại Nga và đe dọa các lân bang trong khối Xô Viết cũ như Ba Lan, Tiệp Khắc, Trung Cọng tấn công Việt Nam... Đa số các giả thuyết sẽ không xảy ra, nhưng nếu có (như lần Iraq tấn công Kuwait năm 1990) thì chính phủ Hoa Kỳ không bị động mà đã chuẩn bị sẳn một số kế họach phản ứng cấp thời để huy động binh lực, vận động ngọai giao vân vân..
Cũng trong tinh thần đó, bài viết này đặt ra một giả thuyết về các liên hệ quốc phòng Việt-Mỹ liệu sẽ có dẫn đến việc bộ đội Việt Nam tham gia vào chiến dịch vãn hồi an ninh tại Iraq hay không, và dự liệu phản ứng của cọng đồng người Việt tỵ nạn nếu trường hợp này xảy ra.
Trong thập niên gần đây Hoa Kỳ đang chuyển hướng chiến lược để thích ứng với năm thay đổi trong vùng Đông Á. Thứ nhất, Trung Cọng ngày càng hùng mạnh về kinh tế và quân sự và trong tương lai sẽ tái khẳng định tính ưu việt (supremacy) trong vùng như trong suốt lịch sử mấy ngàn năm. Thứ nhì, Bắc Hàn là một quốc gia nguy hiểm nhất là giờ đây có thể đã có vũ khí nguyên tử trong tầm tay. Thứ ba, hai quốc gia đồng minh nồng cốt là Nhật Bản và Nam Hàn trở nên thịnh vượng và ngày càng độc lập đối với chính sách của Hoa Kỳ, đồng thời có khuynh hướng bảo hòa và thương mại (mercantile) nên chỉ hợp tác rất giới hạn trong khi Hoa Kỳ đang cần sự ủng hộ về chính trị và quân sự tại nhiều nơi như Iraq, Phillipines. Thứ tư là vấn đề bảo đảm an ninh cho Đài Loan. Và cuối cùng là việc lực lượng Hồi Giáo cực đoan dùng khủng bố để thực hiện ý đồ thành hình một khối Hồi Giáo thống nhất trải dài từ Trung Đông đến Indonesia, Phillipines, Mã Lai và Thái Lan, và đe dọa sự hiện diện của các công ty Âu Mỹ trong vùng.
Một lọat các cuộc họp cao cấp đã diễn ra trong một thời gian rất ngắn. Lần đầu tiên Bộ Trưởng Quốc Phòng cộng sản Phạm Văn Trà sang gặp Bộ Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld tại Hoa Kỳ. Sau đó ông Donald Rumsfeld đi Guam, Nhật Bản và Nam Hàn và quyết định rút 7000 binh lính Hoa Kỳ về phía Nam ra khỏi vùng phi quân sự. Tiếp theo là một chiến hạm Mỹ thăm viếng hữu nghị tại cảng Sài - Gòn lần đầu tiên từ hơn 30 năm.
Có lẽ về phía Đông Bắc Á Nhật Bản và Nam Hàn đã đủ hùng mạnh về quân sự, kinh tế và ngọai giao nên phải trực tiếp lo liệu để khu vực này được tiếp tục hòa bình và thịnh vượng. Con số 7000 lính Hoa Kỳ trước đây ở vùng phi quân sự chỉ đủ để làm thiêu thân (speed bump), nhưng là một cảnh giác với Bắc Hàn và Trung Cọng, và cũng là một bảo đảm cho Nam Hàn và Nhật Bản rằng Hoa Kỳ sẽ dùng tòan lực để phản ứng trong trường hợp Bắc Hàn đổ tràn xuống tấn công Hán Thành. Bù lại đây cũng lại là một nhìn nhận không công khai rằng Hoa Kỳ sẽ không đột ngột tấn công vì Bình Nhưỡng sẽ phản công và chôn vùi con số binh lính này trước khi chính họ bị tiêu hủy. Giờ đây số lính Mỹ rút xuống phương Nam có nghĩa là Nam Hàn phải trực tiếp chịu trách nhiệm cho việc phòng thủ ở tuyến đầu, đồng thời nếu Bắc Hàn đe dọa nền an ninh của Hoa Kỳ thì Hoa Kỳ sẽ rãnh tay dùng mọi phương tiện kể cả vũ khí hạch nhân để tấn công trong chính sách đánh phủ đầu (preventive strike) của chính phủ George W. Bush.
Về phía Đông Nam Á Hoa Kỳ cần một đồng minh để cân bằng lực lượng với Trung Cọng, đồng thời làm cứ điểm ngăn chận nhóm khủng bố Hồi Giáo cực đoan. Việt Nam hội đủ các điều kiện về địa dư và văn hóa cho cả hai nhu cầu này. Việt Nam là giáp ranh giữa ba nền văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ và Hồi Giáo, nhưng chịu ảnh hưỡng Trung Hoa nặng nhất trong khi Hồi Giáo và Ấn Độ Giáo là một thiểu số không đáng kể. Dù vậy người Việt vẫn giữ tinh thần độc lập với Trung Hoa. Người Âu Mỹ nói chung, và Hoa Kỳ nói riêng, được bảo đảm an ninh và tiếp đón nồng hậu, nền văn hóa và tư tưởng Tây Âu được dân chúng Việt Nam chấp nhận và ưa chuộng.
Một điều ít được nhắc đến là khi Việt Nam thôn tính Chiêm Thành, Chân Lạp, và khi nền văn minh Hồi Giáo đã lan đến Mã Lai, Indonesia, Phillipines và lấn vào Thái Lan thì hai nền văn hóa Đông và Tây Á sẽ phải va chạm. Sự kiện này bị trì trệ lại ở các thế kỷ 18, 19 và 20 do sự xuất hiện bất ngờ của nền văn hóa Tây Phương và chủ nghĩa thực dân. Đến thế kỷ thứ 21 khi ảnh hưởng của Tây Phương suy thóai thì các cuộc tranh chấp khu vực bắt đầu trở lại theo mô hình tự nhiên. Việt Nam là một nút chận chống bành trướng của Trung Hoa thì cũng có thể là một tiền đồn cho sự ổn định của vùng Đông Nam Á, nhưng hy vọng rằng trong lần thế chiến này Việt Nam là một "điểm lạnh" chớ không còn là "điểm nóng" như trong lần chiến tranh lạnh trước đây.
Việt Nam cần Hoa Kỳ để ngăn chận sự bá quyền của Trung Cọng, và đồng thời cũng nhận một số quyền lợi về kinh tế một khi Hoa Kỳ đặt căn cứ lớn như tại hải cảng Cam Rạnh. Dù vậy mối hợp tác về quốc phòng Việt-Mỹ vẫn phải ở mức độ trung dung (balancing act) để Việt Nam không bị đơn độc mà đồng thời Trung Cọng cũng không cảm thấy quyền lợi của mình bị đe dọa.

Theo sự nhận xét của người viết bài này thì các quan hệ về quốc phòng có thể bắt đầu một cách thuận lý mà không làm Trung Cọng mất thể diện khi Hoa Kỳ đặt căn cứ tại Việt Nam trong chiến dịch ngăn chận làn sóng Hồi Giáo cực đoan. Trung Cọng có lợi vì thiểu số người Hoa nắm giữ các quyền lợi kinh tế tại các nước vùng Đông Nam Á (vốn là đạo quân thứ 5) và có nhiều quan hệ về chủng tộc, văn hóa và thương mại với Trung Cọng và Đài Loan thì thường bị đa số Hồi Giáo kỳ thị và cáp duồng. Trên một khía cạnh khác Trung Cọng hiện nhập cảng 30% con số dầu hỏa tiêu thụ từ Trung Đông và Phi Châu (Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn còn lệ thuộc nhiều hơn nữa vào nguồn nguyên liệu này) và con đường chuyên chở duy nhất từ Tây Á sang Đông Á là ở biển Nam. Đường biển này vốn sẳng nổi tiếng về tệ nạn hải tặc, và một nguy cơ mới là nhóm khủng bố cực đoan Hồi Giáo cũng có thể tấn công vào các tàu chở dầu để làm xáo trộn thương mại quốc tế. Chỉ cần một tàu dầu lớn (supertanker) bị nổ là thị trường chứng khóan (stock market) của khu vực Đông Nam Á bị khủng hỏang nặng nề và có thể lan rộng ra tòan cầu tương tợ như vào năm 1997. Hải quân của Trung Cọng, Nhật Bản, Đại Hàn hiện yếu kém, và sau lần thế chiến thứ hai không một nước Đông Nam Á nào như Việt Nam, Mã Lai, Phi, Singapore, v.v... muốn thấy ba cường quốc này gởi tàu chiến xuống phương Nam. Vì thế tòan vùng trong nhờ vào không và hải quân Hoa Kỳ để bảo vệ an ninh vùng biển Nam. Tàu chiến Mỹ hiện đậu vào cảng Singapore cũng phải canh chừng khủng bố. Vì thế nếu Hoa Kỳ có một căn cứ an tòan như Cam Ranh để bảo vệ đường hàng hải thì Trung Hoa, Nhật Bản và tòan vùng Đông Nam Á cũng trông nhờ.
Hiện nay Hoa Kỳ có một số máy bay và khỏang 5 ngàn thủy quân lục chiến tại Phi Luật Tân để huấn luyện và cố vấn chống khủng bố nhưng chính số lính này cũng bị đe dọa bởi các cuộc tấn công tự sát (suicide attacks). Nội bộ cũa các nước như Indonesia, Thái Lan, Mã Lai và Singapore không cho phép chính quyền chấp nhận sự hiện diện của lính Mỹ trên đất nước họ. Trái lại dân chúng Việt Nam - và ngay cả chính quyền cọng sản - rất sẳng sàng đón tiếp quân đội Hoa Kỳ. Từ Việt Nam Hoa Kỳ có thể dễ dàng cho phi cơ và tàu chiến do thám các lực lượng du kích Hồi Giáo tại Phi, Indonesia và Thái Lan. Lính Mỹ sẽ được an ninh để huấn luyện cho quân đội Phi, Indonesia, Mã lai, Thái Lan chống khủng bố, cũng như trở lại Việt Nam sau các chiến dịch trong vùng Đông Nam Á đễ xả hơi giải trí. Người Hồi Giáo là một thiểu số không được cảm tình lại dễ bị nhận diện nên rất khó thành hình các tổ khủng bố đe doạ căn cứ quân sự Mỹ tại Việt Nam. Con số binh lính, tàu bè trong chiến dịch chống khủng bố cần tin nhuệ hơn là số đông nên cũng không là một đe dọa cho Trung Cọng giống như trong thời gian chiến tranh lạnh. Điều trớ trêu là trước đây quân đội Việt Nam Cọng Hòa được gởi sang Mã Lai và Phi Luật Tân để học chống du kích thì bây giờ lính Mã, lính Phi có thể sẽ sang các đầm lầy Việt Nam để thực tập các bài học cũ!
Một hình thức hợp tác táo bạo hơn, nhưng không phải là không thể xảy ra, là Việt Nam có thể gởi bộ đội trong công tác vãn hồi an ninh tại Iraq! Nhà cầm quyền Hà Nội trước đây lên án việc Hoa Kỳ phong tỏa và tấn công Iraq nên nếu giờ đây thay đổi quyết định thì cũng phải dưới ngọn cờ của Liên Hiệp Quốc. Trước áp lực của dư luận thì năm 2004 Hoa Kỳ bắt buộc phải giảm con số binh lính tại Iraq trong lúc nền an ninh chưa vãn hồi, các đồng minh như Nhật, Nam Hàn thì bảo hòa và thịnh vượng nên miễn cưỡng không muốn gởi quân đội. Trường hợp này cũng tương tợ như tại Âu Châu khi hai đồng minh lâu đời là Pháp và Đức thì chống đối trong lúc Ba Lan, Tiệp Khắc là các nước trong khối Xô-Viết trước đây thì bây giờ lại sốt sắng gởi quân đội tiếp sức, đến nổi Bộ Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld phải lên tiếng phân biệt giữa một "cựu Âu Châu" (old Europe, mà chủ yếu là Pháp và Đức) và một Âu Châu của tương lai trong đó đa số gồm các nước Đông Âu. Hòan cảnh Việt Nam có khác Ba Lan, Tiệp Khắc, nhưng cũng có nhiều tương đồng, nên điều này không phải là không thể xảy ra. Lính Việt Nam giá rẻ, chịu đựng giỏi, quen thuộc với chiến tranh du kích, và trong chiến dịch này lại được huấn luyện bằng phương tiện và vũ khí tối tân của Hoa Kỳ. Với một con số đầu tư tương đối nhỏ - 10 cho đến 30 ngàn binh lính gởi sang Iraq trong một tổng số 80 triệu dân - Việt Nam nhanh chóng trở nên một đồng minh thân cận của Hoa Kỳ, và Hoa Kỳ sẽ nhớ lại các nước nào đã trợ giúp mình trong giai đọan khó khăn để đền đáp lại trong tương lai.
Những quan hệ Việt-Mỹ về ngọai giao, thương mại, và trong tương lai là quốc phòng, đều có lợi cho tiền đồ đất nước, nhưng mặc khác lại giúp cho sự củng cố của nhà cầm quyền cọng sản Hà Nội. Hoa Kỳ cố gắng cân bằng chính sách ngọai giao nên qua mỗi lần hợp tác thì lại lên tiến phản đối các vi phạm nhân quyền, nhưng tiến trình chính yếu vần là để bảo vệ quyền lợi kinh tế, chính trị và nền an ninh quốc gia Hoa Kỳ. Cộng đồng người Mỹ gốc Việt rồi sẽ tiếp tục đối diện với một nan đề từ nhiều năm nay: chống hay không chống các sự hợp tác này, hoặc nếu không chống thì phải đòi hỏi những nhượng bộ nào từ phía cọng sản. Đây mới là vấn đề mà chúng ta cần tiên liệu trước.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.