Hôm nay,  

Cứu Gạo Hại Dân

11/29/200600:00:00(View: 9565)

Cứu Gạo Hại Dân

...nếu lại bị thiên tai, thì một xứ bán gạo như Việt Nam vẫn bị khốn đốn vì yêu cầu tiêu thụ rất lớn trong nước...

Với viễn ảnh gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, một hồ sơ mà Việt Nam cần chú ý là chế độ trợ giá lúa gạo trên thế giới vì gạo là nông sản trọng yếu của Việt Nam và chi phối sinh hoạt của đại đa số dân chúng miền quê. Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu bối cảnh của hồ sơ này qua phần trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây.

- Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, trong một kỳ trước, khi phân tích về Thượng đỉnh APEC và vòng đàm phán Doha của Tổ chức WTO, ông nói đến việc trợ giá nông sản của các nước công nghiệp khiến các quốc gia đang phát triển và sống về nông nghiệp bị thiệt thòi.

Kỳ này, chúng tôi xin đề nghị là ta sẽ cùng tìm hiểu về hồ sơ trợ giá lúa gạo vì lúa gạo là lương thực và nguồn lợi tức xuất khẩu chính yếu của Việt Nam. Ông nghĩ sao"

- Đề tài này đáng quan tâm với viễn ảnh gia nhập WTO. Việt Nam xuất khẩu gạo thứ nhì thế giới, bằng 16,4% của toàn cầu từ ba năm qua, vậy mà vừa rồi, chính Thủ tướng của Hà Nội phải ra lệnh tạm ngưng xuất khẩu khi vựa lúa miền Nam ở vùng đồng bằng sông Cửu Long bị thất thu hơn 640 nghìn tấn so với năm ngoái, một phần ba vì sâu rầy và dịch bệnh. Trong khi ấy, dân Việt Nam tiêu thụ gạo nhiều nhất thế giới, bình quân là 232 ký một người trong một năm, hơn gấp đôi Trung Quốc, và lúa gạo còn chi phối đời sống của ít ra là 70% dân số Việt Nam. Cảnh ngộ bất trắc ấy càng đáng ngại khi trên thế giới, lúa gạo là nông sản được bảo vệ kỹ nhất và trợ cấp nhiều nhất, đặc biệt là tại một nước công nghiệp tiên tiến như Hoa kỳ.

- Hỏi: Trước khi đi vào hiện tượng bảo vệ bằng trợ cấp, xin ông trình bày khái quát về nông sản rất đặc biệt này của Việt Nam và thế giới.

- Nói chung, gạo là lương thực chính của phân nửa dân số thế giới, là ba tỷ dân. Tại Việt Nam, nói đến bữa ăn, người ta nói là "ăn cơm", là gạo nấu chín. Năm 2005, thế giới sản xuất ra 628 triệu tấn thóc, xay ra 409 triệu tấn gạo. Gạo có nhiều loại, chính yếu là gạo hạt dài, gạo hạt tròn, gạo thơm và gạo nếp. Quan trọng là loại gạo hạt dài, chiếm khoảng ¾ sản lượng giao dịch trên thế giới, kế tiếp là hạt tròn và gạo thơm- một loại hạt dài - mỗi thứ 12%, thấp nhất là gạo nếp chỉ có 1% sản lượng buôn bán. Việt Nam bước vào thị trường gạo quốc tế với loại gạo hạt dài và phải cạnh tranh rất mạnh với Thái Lan và cả Ấn Độ về loại gạo thơm.

- Hỏi: Đó là về bối cảnh chung, còn về sản lượng và số xuất nhập khẩu thì sao"

- Câu hỏi này rất hay vì chỉ ra sự khác biệt giữa sản lượng rất lớn với lượng xuất nhập rất nhỏ, lại tập trung vào mươi nước mà thôi. Nếu có trợ cấp, giá cả bên ngoài dễ dội ngược về sản lượng và lợi tức của nông dân ở bên trong các nước nghèo. Và nếu lại bị thiên tai, thì một xứ bán gạo như Việt Nam vẫn bị khốn đốn vì yêu cầu tiêu thụ rất lớn trong nước.

Về sản xuất, bốn xứ trồng gạo nhiều nhất là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Bangladesh. Sau đó mới tới Việt Nam rồi Thái Lan; Hoa Kỳ chỉ đứng hàng thứ 10, với sản lượng chỉ có 1,7% của thế giới, chưa bằng 1/3 của Việt Nam. Nhưng, về xuất khẩu, Thái Lan dẫn đầu với số lượng gần 32%, rồi Việt Nam 16,4%, và Ấn Độ, Mỹ và Pakistan. Năm nước trên cung cấp đến 80% lượng gạo buôn bán trên thế giới. Về nhập khẩu thì ta có một thị trường phân tán, có Indonesia và Nigeria đứng đầu với 5,2% số nhập toàn cầu, sau đó là Philippines, Liên hiệp Âu châu, Brazil, Bangladesh, v.v…. không nước nào mua quá 5%.

- Hỏi: Bây giờ, ta mới nói đến tình hình trợ cấp trên thị trường toàn cầu. Ông có thể mô tả đại lược về hiện tượng ấy được không"

- Thế giới có hơn 200 quốc gia, trong số này, 24 xứ liên hệ đến lúa gạo đều có chính sách bảo vệ hay trợ cấp, tùy tư thế nhập khẩu hay xuất khẩu, và có là hội viên WTO hay không.

Đáng chú ý là Trung Quốc với biện pháp trợ cấp sản xuất, nhà nước độc quyền xuất khẩu và kiểm soát nhập khẩu. Kế đó, có Liên hiệp Âu châu là thuần nhập khẩu, vì tiêu thụ hơn sản xuất, nhưng vừa bảo vệ sản xuất nội địa vừa kiểm soát nhập khẩu. Nhật, Nam Hàn hay Indoniesia cũng là các nước thuần nhập và đang tháo gỡ dần các biện pháp trợ giá bên trong và hạn chế bên ngoài theo khuôn khổ của WTO. Trong số các nước gây vấn đề nhiều nhất có Hoa Kỳ, là nước thuần xuất khẩu và là hội viên WTO lại có chính sách trợ cấp nông nghiệp không kém gì Âu châu, và trong khu vực nông nghiệp lại bảo vệ ngành lúa gạo chặt chẽ nhất.

- Hỏi: Các quốc gia này bảo vệ lúa gạo của họ hay kỳ thị lúa gạo nhập khẩu như thế nào"

- Về đại thể, các nước có sáu hình thức can thiệp vào thị trường gạo.

Các nước thuần nhập khẩu thì nhân danh "an ninh về lương thực" hay bảo vệ nông gia mà lập hàng rào quan thuế, đặt hạn ngạch theo thuế biểu, nâng cao thuế suất theo độ chế biến xay sát của lúa và gạo nhập khẩu. Các nước sản xuất thì trợ cấp nông gia để tăng sản lượng và trợ giá lúa gạo gọi là để ổn định giá lương thực. Còn các nước xuất khẩu hay nhập khẩu đều can thiệp vào việc thu mua phân phối bằng các cơ sở kinh doanh hay quản lý của nhà nước.

Theo ước lượng của Ngân hàng Thế giới thì trong năm 2000, số bình quân gia trọng của giá biểu hải quan đánh trên gạo nhập khẩu vượt quá 43%. Còn Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD quy tụ hơn 20 xứ công nghiệp nhất địa cầu có tính ra là việc bảo vệ và trợ cấp lúa gạo đã nâng lợi tức của nông gia tại các nước giàu đến hơn 75%. Về dân số, thành phần nông gia này chỉ là thiểu số, nhưng biện pháp ấy gây thiệt hại cho cả tỷ người trên thế giới, là giới tiêu thụ và dân thọ thuế tại các nước giàu, và nông gia ở các xứ nghèo, sống chủ yếu nhờ canh nông.

- Hỏi: Xin ông giải thích thêm mối thiệt hại của việc trợ giá lúa gạo và chúng ta lấy ngay thí dụ là Hoa Kỳ, quốc gia công nghiệp tiên tiến và vẫn thường đề cao tự do mậu dịch trên thế giới.

- Hoa Kỳ có chế độ bảo hộ lúa gạo tinh vi mà cũng bất công nhất, nhìn trên quan điểm quyền lợi của cả người Mỹ lẫn nông gia các nước nghèo.

Mỹ có khoảng 9.000 nông gia sản xuất chừng 10 triệu tấn gạo tập trung trong sáu tiểu bang, 45% tại Arkansas, 18% tại California, còn lại là các bang Missouri, Mississippi, Louisiana và Texas. Xứ này xuất khẩu 40% sản lượng gạo qua Nam Mỹ, một số nhỏ từ California bán qua Đông Á và nhập khẩu 13% sản lượng, chủ yếu là gạo thơm từ Ấn Độ, Pakistan và Thái Lan.

Chế độ bảo vệ của Hoa Kỳ gồm hai mặt trong ngoài, thể hiện dưới nhiều hình thức. Với gạo nhập thì họ có hàng rào quan thuế áp dụng ngay cả cho các nước đã được hưởng quy chế tối huệ quốc là mậu dịch bình thường. Với bên trong, họ có ba chế độ trợ cấp cho nông gia như trực tiếp cấp tiền, trợ giá khi bị trái chu kỳ và tín dụng nhẹ lãi cho việc tiếp thị.

- Hỏi: Xin đề nghị ông trình bày thêm cho thính giả về ba chế độ trợ cấp ấy cho nông gia Mỹ.

- Thứ nhất, chế độ cấp tiền có mục tiêu tưởng thưởng nông gia và cả chủ đất - dù chẳng là nông gia - căn cứ trên diện tích canh tác và thu hoạch bình quân đã qua. Thứ hai, chế độ trợ giá là khi giá sụt dưới chỉ tiêu thì nông gia vẫn được bù lỗ để tiếp tục sản xuất. Thứ ba, chế độ tài trợ tiếp thị là nông gia có thể dùng sản lượng lúa gạo làm tài sản cầm thế để vay tiền mà giá cả lên hay xuống vẫn không bị thiệt hại. Tính bình quân thì ba chế độ ấy khiến chính quyền chi ra chừng một tỷ Mỹ kim một năm.

Ngoài ra, Hoa Kỳ còn giúp nông gia trồng lúa và xuất khẩu gạo qua chế độ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và thu mua để viện trợ lương thực cho các nước nghèo trong khuôn khổ của đạo luật PL480 hay Tiết II của Đạo luật Lương thực Phụng sự Hoà bình. Các loại viện trợ ấy thực tế giúp nông gia bán lúa cho nhà nước theo điều kiện ưu đãi.

- Hỏi: Và kết quả của chế độ trợ cấp ấy lợi hại ra sao"

- Trên diễn đàn này, ta hay nói đến quy luật kinh tế là "cái lợi thì dễ thấy mà cái mất lại khó nhìn." Chuyện trợ cấp lúa gạo tại Mỹ có thể minh diễn điều ấy.

"Được" ở đây không phải là nông dân nghèo khổ mà là một số nông gia hay doanh gia canh tác và chế biến nông nghiệp Mỹ. Ngoài ra là một số chủ đất may mắn có đất đang hay đã từng là đất trồng lúa. Tức là khoản trợ cấp cho nông gia đã lọt qua giới chủ đất nhiều khi chăng liên hệ gì đến việc canh tác nhưng tác động rất mạnh vào giới làm luật và soạn thảo ngân sách.

- Hỏi: Đấy là khoản "được" cho một thiểu số, bây giờ ta nói đến khoản "mất", cho những ai" 

- Từ 1998 đến năm ngoái, hàng năm chính quyền liên bang đã chi từ 473 triệu đến một tỷ 774 triệu cho việc trợ cấp, hơn bù kém là một tỷ Mỹ kim một năm. Cái mất đầu tiên là dân thọ thuế phải chi thêm một tỷ cho một thiểu số chưa tới một vạn người. Kế tiếp, giới tiêu thụ bị mất tiền vì phải mua gạo hay nhập gạo với giá cao hơn vì hàng rào quan thuế.

Rộng lớn hơn vậy, và nhìn trên toàn cảnh của việc sung dụng tài nguyên, chế độ trợ cấp lúa gạo ấy khiến đất đai, lao động, tư bản và các nhập lượng khác bị dồn cho một mức sản xuất cao hơn yêu cầu bình thường của thị trường. Nói cho dễ hiểu, nếu không có trợ cấp thì tư liệu canh tác và sản xuất đã được dùng cho việc khác có ích hơn. Cái mất ấy là điều ít ai muốn tính ra, nhưng là một thất thu thực tế. Mà đấy không phải là những thiệt hại duy nhất…

- Hỏi: Ông nói như vậy tức là còn nhiều thiệt hại khác cũng đáng kể nữa hay sao"

- Kỳ trước, ta nói đến sự tan vỡ của vòng Doha vì lãnh vực nông nghiệp dù nông sản chỉ chiếm 8% trong giá trị trao đổi trên thế giới và bế tắc Doha lại gây thiệt hại cho các ngành ở ngoài nông nghiệp như công nghiệp và dịch vụ. Chế độ trợ cấp lúa gạo có làm giảm uy tín và sức thương thảo của Hoa Kỳ về các lãnh vực ngoại thương khác. Đấy cũng là những cái "mất" ta khó tính ra. Đây là chưa nói đến cái "mất" của các ngành nông nghiệp khác cũng của Hoa Kỳ nếu sau này bị các nước khác trả đũa, như trường hợp bông vải chẳng hạn.

- Hỏi: Đã thế, vì sao Hoa Kỳ vẫn duy trì" Đâu là những lý do biện minh cho chế độ này"

- Một lý luận then chốt là Hoa Kỳ phải có "an ninh về lương thực", nôm na là để phòng ngừa bị xứ khác bắt bí nên bị đói gạo! Lý luận kỳ quái ấy vẫn được một Dân biểu đảng Dân chủ nêu lên gần đây.

Lý do chính là các chính trị gia chỉ nhìn thấy quyền lợi cục bộ ở địa phương và lấy quyết định có lợi cho thành phần ta gọi là "được" của họ mà bất cần đến thiệt hại của thành phần ta gọi là "mất". Và họ được các nhóm nông gia hay doanh nghiệp lúa gạo ủng hộ rất mạnh về tiền. "Mạnh vì gạo, bạo vì tiền" là như vậy!

- Hỏi: Câu hỏi cuối thưa ông, các xứ nghèo lãnh hậu quả ra sao vì chế độ trợ cấp lúa gạo ấy"

Trợ cấp lúa gạo tại Mỹ làm giá gạo sút giảm trên thế giới từ 4 đến 6% và gây thiệt hại lợi tức cho hàng trăm triệu nông gia ở các nước nghèo. Đấy là điều dễ thấy nhất, đáng nói nhất và được nói lên trên nhiều diễn đàn quốc tế. Ngoài ra, chế độ bảo hộ cũng khiến các nước khó bán gạo vào Mỹ. Trợ cấp lúa gạo còn khiến giá gạo hết là tín hiệu có giá trị về cung cầu khiến nông gia Mỹ cứ tiếp tục sản xuất và được bảo vệ dù giá đã sụt trên thế giới, như điều đã xảy ra khi Đông Á bị khủng hoảng sau năm 1997.

Khi lợi tức nông dân ở các xứ nghèo gia tăng, cuộc sống của họ, gia đình và con em có được cải thiện như ta thấy ngay tại Việt nam trong những năm sau đổi mới. Vì vậy, người ta mới cần chú ý đến hồ sơ lúa gạo này vào năm tới, khi Quốc hội Mỹ sẽ thảo luận lại về Đạo luật Nông nghiệp, là điều chúng ta có thể sẽ tìm hiểu trong một kỳ khác.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.