Hôm nay,  

Vì Sao Ngũ Giác Đài Sợ Báo Chí?

9/27/202521:08:00(View: 1328)
Pentagon-journalist
Những câu chuyện hay nhất là những câu chuyện được tìm thấy một cách bất ngờ, khi đi dạo quanh hành lang Ngũ Giác Đài và làm quen với những người chỉ huy lực lượng vũ trang Hoa Kỳ. (Ảnh: Việt Báo)

 

Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ:

“Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.”

The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.

Cùng lúc đó, cây bút Nancy A. Youssef của The Atlantic có bài phân tích vì sao Ngũ Giác Đài lại sợ báo chí?

Trong suốt 18 năm tôi làm công việc đưa tin tại Ngũ Giác Đài, các lãnh đạo quân sự hiếm khi thoải mái vui vẻ khi thấy tôi. Tôi đã có những cuộc trò chuyện khá sôi nổi với các tướng lĩnh, người phát ngôn và lãnh đạo dân sự. Tôi đã tường thuật những tin tức mà các quan chức bộ này không muốn công khai, cũng như thông tin mà họ mong muốn chia sẻ. Tôi đã di chuyển qua lại giữa Iraq và Afghanistan, sẵn sàng hy sinh để theo đuổi việc cung cấp thông tin cho độc giả. Tôi đã từng mất đồng nghiệp trên đường tác nghiệp và bản thân mình cũng bị thương nặng. Chứng kiến ​​những nỗi kinh hoàng của chiến tranh đồng nghĩa với việc mang theo những vết sẹo mãi mãi. Vậy mà, tôi lại là một trong số những người may mắn. Tôi đã sống sót.

Công việc của tôi là đặt câu hỏi thay mặt cho người dân, tìm kiếm thông tin mà tất cả chúng ta đều có quyền biết về an ninh quốc gia ở Mỹ. Tu Chính Án Thứ Nhất bảo vệ quyền của tôi để làm công việc này. Nhưng một tuần trước, Ngũ Giác Đài đã thông báo rằng các nhà báo sẽ không còn được cấp phép vào tòa nhà trừ khi họ ký một thỏa thuận mới. Trước đây, các phóng viên được yêu cầu ký một thỏa thuận dài một trang với các điều khoản như đeo thẻ làm việc, tuyệt đối bảo mật an ninh ra vào nơi làm việc. Mặc dù được diễn đạt hơi mơ hồ, nhưng chúng dường như đặt ra những hạn chế mới, nghiêm ngặt đối với các hoạt động báo chí và có thể áp dụng hình phạt đối với những người đưa tin – bao gồm cả thông tin không thuộc loại bí mật quốc gia – bên cạnh những thông tin mà người ra quyết định muốn chia sẻ.

Theo các quy tắc mới, dài 17 trang, “thông tin phải được một viên chức có thẩm quyền phê duyệt để công bố công khai trước khi được công bố, ngay cả khi thông tin đó không thuộc phạm trù của bí mật quốc gia.” Về mặt lý thuyết, bất kỳ ai công bố thông tin chưa được phê duyệt đều có thể bị thu hồi giấy phép, điều này sẽ khiến họ bị cấm vào Ngũ Giác Đài - và có thể cả các cơ sở quân sự trên toàn thế giới. Các phóng viên từ chối ký sẽ mất thẻ báo chí, thứ mà cho đến nay vẫn mang lại cho họ quyền làm việc ở nơi cho phép báo chí thể tác nghiệp - qua các cuộc chiến tranh và khủng hoảng quốc gia, dưới thời các chính quyền Dân chủ và Cộng hòa - kể từ khi Ngũ Giác Đài mở rộng cánh cửa của nó vào ngày 15/1/1943.

Ủy ban Phóng viên vì Tự do Báo chí đã yêu cầu Ngũ Giác Đài làm rõ và lưu ý tính chất khó hiểu của một số quy tắc. Đáp lại, hôm Thứ Tư, người phát ngôn Ngũ Giác Đài Sean Parnell cho biết, các hạn chế này nhằm nhắc nhở các phóng viên rằng nhân viên ở Ngũ Giác Đài tuân thủ theo các kỷ cương nghiêm ngặt về những gì họ có thể và không thể tiết lộ. Thêm vào đó, Ngũ Giác Đài muốn ngăn chặn “những dụ dỗ khuyến khích nhân viên DoW vi phạm các quy tắc tiết lộ thông tin này.” Từ viết tắt này ám chỉ “Bộ Chiến Tranh,” cái tên mà Hegseth thích thú đặt cho cơ quan có gần 3 triệu nhân viên do ông ta điều hành.

Cho đến thông báo tuần trước, tôi chưa bao giờ lo mình sẽ bị đuổi ra khỏi nơi này, dù tôi có quyết liệt theo đuổi đề tài của mình như thế nào. Chính sách mở cửa Ngũ Giác Đài cho báo chí của quân đội Hoa Kỳ chưa bao giờ là một sự ưu ái dành cho các nhà báo đưa tin về quân đội, mà đúng hơn là một nghĩa vụ đối với một đất nước luôn yêu cầu con cháu mình tình nguyện phục vụ quốc gia. Nếu chính phủ muốn người Mỹ hy sinh cho tự do của chúng ta, thì những người có thẩm quyền đưa họ vào nơi nguy hiểm sẽ sẵn sàng trả lời các câu hỏi, đặc biệt là những câu hỏi hóc búa. Quyết định cho phép báo chí vào tòa nhà của Ngũ Giác Đài phục vụ lợi ích riêng của họ.

Tôi khó mà nhìn thấy những quy định mới này sẽ không làm giảm khả năng tiếp cận thông tin mà công chúng mong đợi. Ví dụ như: nhóm hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ đang hoạt động ở vùng biển nào? Bộ trưởng có nói chuyện với người đồng cấp Trung Quốc không? Tại sao Hoa Kỳ lại từ chối vận chuyển vũ khí đã được phê duyệt đến Ukraine? Các quy tắc giao chiến dành cho Lực lượng Vệ binh Quốc gia được khai triển trên đường phố Hoa Kỳ như thế nào?

Các tổ chức truyền thông, bao gồm cả The Atlantic, đã bày tỏ rõ sự phản đối những thay đổi này.

Trong các cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan, Ngũ Giác Đài muốn các phóng viên cùng ra trận với quân đội, ngay cả khi chúng tôi phải ghi chép lại những cái chết của dân thường, tình trạng lạm dụng tại các nhà tù quân sự, việc Hoa Kỳ ngụy biện là đang xoay chuyển tình thế trong những cuộc xung đột bi thảm đó. Các tướng lĩnh và lãnh đạo dân sự thường trả lời phỏng vấn trong phòng họp báo. Ngũ Giác Đài từng muốn chúng tôi chú ý đến những gì họ đang làm, đặc biệt là khi đến lúc thảo luận về nhu cầu tăng ngân sách Bộ Quốc Phòng, hiện đã lên tới gần $1 ngàn tỷ đô la. Việc yêu cầu thêm tiền sẽ dễ dàng hơn nhiều khi người Mỹ có thể thấy được những gì quân đội Hoa Kỳ đang làm. Người Mỹ có thể sẽ không sẵn lòng đóng góp quá nhiều —về mặt tài chính hoặc thông qua những người đang phục vụ – nếu họ được nhìn thấy tất cả sự thật.

Nếu các nhà lãnh đạo của quân đội tiên tiến nhất thế giới không thoải mái khi trả lời những câu hỏi quan trọng từ nhà báo, đó là sự yếu đuối – chứ không phải mạnh mẽ. Hegseth đã nhiều lần hứa sẽ khôi phục lại “đạo đức chiến binh,” một viễn cảnh không thể tưởng tượng được nếu việc tiếp nhận câu hỏi từ công chúng Mỹ là quá đáng sợ để chấp nhận.

Trong quá khứ, một số cựu lãnh đạo Bộ Quốc Phòng hoan nghênh việc đặt câu hỏi như một hình thức giải trình – hoặc ít nhất là một thước đo về cách những người bên ngoài quân đội Hoa Kỳ tiếp nhận thông điệp của họ. Tướng Không Quân Richard Myers, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân vào thời điểm 11/9, nhiều năm sau cuộc tấn công đó, đôi khi bắt đầu các cuộc họp báo bằng cách hỏi các phóng viên: “Hôm nay chúng ta thế nào?”
Trong hồi ký của mình, cựu Bộ trưởng Quốc Phòng Bob Gates, người từng làm việc dưới thời Tổng thống Barack Obama và George W. Bush, đã nhiều lần nói rằng ông sẽ không biết về điều kiện sống khủng khiếp của quân nhân và gia đình họ tại Trung tâm Y tế Walter Reed nếu không có báo chí.

Bod Gates đã viết: “Nhìn chung, Ngũ Giác Đài may mắn khi có một nhóm phóng viên giàu kinh nghiệm và năng lực làm việc được giao, hầu hết đều quan tâm đến bản chất vấn đề chứ không phải cá nhân. Tôi chưa bao giờ có vấn đề gì thực sự với họ. Tôi ghét việc rò rỉ thông tin. Tuy nhiên, tôi hiếm khi đổ lỗi cho các phóng viên vì đã đăng tải thông tin bị rò rỉ; tôi chỉ tức giận với những người trong chính phủ được giao nhiệm vụ giữ bí mật mà lại không làm vậy.”

Hoặc, như ông đã từng nói với các học viên Học viện Không Quân Hoa Kỳ trong bài phát biểu tốt nghiệp năm 2007: “Tôi muốn khuyến khích các bạn luôn ghi nhớ tầm quan trọng của hai trụ cột tự do của chúng ta theo Hiến Pháp – Quốc Hội và báo chí. Cả hai chắc chắn đôi khi thử thách sự kiên nhẫn của chúng ta, nhưng chúng là những người bảo đảm chắc chắn nhất cho tự do của người dân Mỹ.”

“Báo chí không phải là kẻ thù,” ông nói thêm, “và coi báo chí là kẻ thù là tự chuốc lấy thất bại.”

Mark Esper, Bộ trưởng Quốc Phòng dưới thời chính quyền Trump đầu tiên, đã tiết lộ trong hồi ký của mình số lần ông trả lời các câu hỏi của giới truyền thông hoặc phát biểu trước công chúng để giải thích về việc ra quyết định của Ngũ Giác Đài: “Đến cuối nhiệm kỳ của mình, tôi đã tổ chức gần hai mươi hai cuộc họp báo tại Phòng Họp Báo Ngũ Giác Đài, tám cuộc họp toàn thể, ba mươi hai cuộc họp báo, hai mươi chín cuộc phỏng vấn được truyền hình hoặc ghi âm, hai mươi hai phiên họp không chính thức, mười sáu cuộc họp báo với các buổi hỏi đáp tại các viện nghiên cứu, chín thông điệp gửi đến lực lượng và mười một bài phát biểu chính sách quan trọng.”

Đối với cựu Bộ trưởng Quốc Phòng Esper, việc sẵn sàng trả lời các câu hỏi của công chúng dường như là một niềm tự hào và là một phần cơ bản trong nhiệm vụ của ông. Và đúng như vậy.

Mùa Xuân năm ngoái, tờ The Atlantic đã rất thận trọng khi lựa chọn đăng tải các tin nhắn mà Hegseth và các thành viên khác trong nhóm an ninh quốc gia của chính quyền Trump bất cẩn gửi qua Signal cho tổng biên tập của chúng tôi. The Atlantic đã thông báo cho chính phủ trước khi bài viết được đăng tải và xác minh trước rằng nhóm trò chuyện là hợp pháp. Cho đến khi Giám đốc Tình báo Quốc gia Tulsi Gabbard khẳng định, một cách khó tin, rằng “không có tài liệu mật nào được chia sẻ trong nhóm Signal đó.” Tại sao cuối cùng chúng tôi lại đăng toàn bộ các tin nhắn trao đổi của họ? Bởi vì người dân Mỹ có quyền tự đánh giá.

Phóng viên thường xuyên che giấu thông tin có thể gây nguy hiểm cho quân đội Hoa Kỳ. Và thậm chí còn thường xuyên hơn, các nhà báo đã viết những bài báo vạch trần những lời dối trá có thể gây nguy hiểm cho lực lượng Mỹ. Các lãnh đạo Ngũ Giác Đài cho biết, nếu không đưa tin về chất nổ do Iran sản xuất ở Iraq, sẽ không có sự cấp bách trong việc cung cấp xe chống mìn, hay còn gọi là MRAP, cho quân đội ở xa. Báo chí đã tiết lộ việc tiếp xúc với khói độc tại các căn cứ của Hoa Kỳ đã gây hại cho quân đội như thế nào. Báo chí đã ghi nhận những sơ hở về an ninh trong vụ tấn công lãnh sự quán Benghazi năm 2012 và những thất bại trong việc rút quân của Hoa Kỳ khỏi Afghanistan.

Tôi được giới thiệu với quân đội Hoa Kỳ ngay ở tuyến đầu của cuộc chiến tranh Iraq. Tôi ngồi cạnh những người lính, một số người trong số họ chưa từng ra khỏi Hoa Kỳ. Chúng tôi cùng ngồi trên xe Humvee, xe thiết giáp và Stryker, chuẩn bị cho một cuộc tấn công. Tôi chứng kiến ​​những người lính bị trúng chất nổ, né tránh hỏa. Tôi chứng kiến ​​quân đội đột kích vào nhà của người Iraq và cảm nhận được nỗi sợ hãi của những người mà chúng tôi nói rằng chúng tôi đang giải phóng. Tôi đã dành nhiều năm trong cuộc đời mình để đếm số giày chất đống sau các vụ đánh bom để xác định số sinh mạng đã mất. Tôi đã viết những câu chuyện về cả người Iraq và quân đội Hoa Kỳ chiến đấu để sinh tồn, mà không bao giờ thực sự biết tất cả những điều đó là vì điều gì.

Lần đầu tiên tôi bước vào Ngũ Giác Đài, ngay sau khi trở về từ Iraq, tôi đã trải qua một cú sốc thời chiến khác thường. Tôi mang một cảm giác vô hồn khi mọi người sống đời sống như thể họ không phải chịu trách nhiệm cho nỗi đau khổ cách xa hàng ngàn dặm. Không người nào tôi gặp mà có vẻ ngây thơ bị tước đoạt như một người bị chiến tranh lấy đi tuổi trẻ đã hằn sâu vĩnh viễn trên gương mặt. Những người phục vụ trong tòa nhà này có thể phải nghĩ về chiến tranh vào ban ngày, nhưng đến đêm họ lại trở về nhà với gia đình.

Vậy mà họ cũng phải chịu đựng. Cựu Bộ trưởng Quốc Phòng Bod Gates yêu cầu nhân viên của mình cho ông xem báo chí địa phương tường thuật về từng binh sĩ thiệt mạng trong nhiệm kỳ của ông. Có lần, trên chuyên cơ của ông, tôi đã lén nhìn vào phòng làm việc của ông và thấy ông khóc khi đọc câu chuyện về một quân nhân hy sinh ở Iraq. Trong nhiệm kỳ đầu của chính quyền Trump, tôi đã thấy nỗi lo lắng hiện rõ trên khuôn mặt các chỉ huy trước các cuộc không kích của Mỹ ở Syria. Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến ở Afghanistan, tôi đã chứng kiến ​​nỗi kinh hoàng của họ khi số lượng binh sĩ và thường dân thiệt mạng do một kẻ đánh bom liều chết bên ngoài Abbey Gate tăng lên theo từng ngày. Các quan chức Ngũ Giác Đài biết rằng họ đã phụ lòng những người lính đó và những người Afghanistan đang tuyệt vọng muốn rời chiến trường.

Không một cuộc gọi điện thoại nào có thể thay thế cho việc đến văn phòng của một vị tướng và nhìn thấy những đồng xu may mắn mà họ đã thu thập được, những tác phẩm nghệ thuật được trưng bày trên tường văn phòng, hay những mối liên hệ nhỏ nhặt hàng ngày cho bạn một góc nhìn về con người của người đó. Những câu chuyện hay nhất là những câu chuyện được tìm thấy một cách bất ngờ, khi đi dạo quanh hành lang và làm quen với những người chỉ huy lực lượng vũ trang Hoa Kỳ.

Khả năng nhìn thấy nhiều điều như vậy đã khiến Ngũ Giác Đài trở thành cơ quan tốt nhất ở Washington để đưa tin – và đặt ra một trách nhiệm to lớn cho các nhà báo được phân công. Sự hiện diện của chúng tôi là cách quân đội thể hiện rằng họ nhìn thấy giá trị của một nền báo chí tự do, không chỉ trong việc giúp thực hiện sứ mệnh mà còn là một tinh thần Mỹ. Theo kinh nghiệm của tôi, các nhà lãnh đạo mạnh mẽ luôn hoan nghênh cơ hội bảo vệ cách họ xử lý vấn đề an ninh quốc gia Hoa Kỳ. Họ luôn mở rộng cánh cửa, theo đúng nghĩa đen của từ này.

Linh Đoàn biên dịch

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.