Hôm nay,  

Vì Sao Ngũ Giác Đài Sợ Báo Chí?

27/09/202521:08:00(Xem: 1315)
Pentagon-journalist
Những câu chuyện hay nhất là những câu chuyện được tìm thấy một cách bất ngờ, khi đi dạo quanh hành lang Ngũ Giác Đài và làm quen với những người chỉ huy lực lượng vũ trang Hoa Kỳ. (Ảnh: Việt Báo)

 

Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ:

“Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.”

The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.

Cùng lúc đó, cây bút Nancy A. Youssef của The Atlantic có bài phân tích vì sao Ngũ Giác Đài lại sợ báo chí?

Trong suốt 18 năm tôi làm công việc đưa tin tại Ngũ Giác Đài, các lãnh đạo quân sự hiếm khi thoải mái vui vẻ khi thấy tôi. Tôi đã có những cuộc trò chuyện khá sôi nổi với các tướng lĩnh, người phát ngôn và lãnh đạo dân sự. Tôi đã tường thuật những tin tức mà các quan chức bộ này không muốn công khai, cũng như thông tin mà họ mong muốn chia sẻ. Tôi đã di chuyển qua lại giữa Iraq và Afghanistan, sẵn sàng hy sinh để theo đuổi việc cung cấp thông tin cho độc giả. Tôi đã từng mất đồng nghiệp trên đường tác nghiệp và bản thân mình cũng bị thương nặng. Chứng kiến ​​những nỗi kinh hoàng của chiến tranh đồng nghĩa với việc mang theo những vết sẹo mãi mãi. Vậy mà, tôi lại là một trong số những người may mắn. Tôi đã sống sót.

Công việc của tôi là đặt câu hỏi thay mặt cho người dân, tìm kiếm thông tin mà tất cả chúng ta đều có quyền biết về an ninh quốc gia ở Mỹ. Tu Chính Án Thứ Nhất bảo vệ quyền của tôi để làm công việc này. Nhưng một tuần trước, Ngũ Giác Đài đã thông báo rằng các nhà báo sẽ không còn được cấp phép vào tòa nhà trừ khi họ ký một thỏa thuận mới. Trước đây, các phóng viên được yêu cầu ký một thỏa thuận dài một trang với các điều khoản như đeo thẻ làm việc, tuyệt đối bảo mật an ninh ra vào nơi làm việc. Mặc dù được diễn đạt hơi mơ hồ, nhưng chúng dường như đặt ra những hạn chế mới, nghiêm ngặt đối với các hoạt động báo chí và có thể áp dụng hình phạt đối với những người đưa tin – bao gồm cả thông tin không thuộc loại bí mật quốc gia – bên cạnh những thông tin mà người ra quyết định muốn chia sẻ.

Theo các quy tắc mới, dài 17 trang, “thông tin phải được một viên chức có thẩm quyền phê duyệt để công bố công khai trước khi được công bố, ngay cả khi thông tin đó không thuộc phạm trù của bí mật quốc gia.” Về mặt lý thuyết, bất kỳ ai công bố thông tin chưa được phê duyệt đều có thể bị thu hồi giấy phép, điều này sẽ khiến họ bị cấm vào Ngũ Giác Đài - và có thể cả các cơ sở quân sự trên toàn thế giới. Các phóng viên từ chối ký sẽ mất thẻ báo chí, thứ mà cho đến nay vẫn mang lại cho họ quyền làm việc ở nơi cho phép báo chí thể tác nghiệp - qua các cuộc chiến tranh và khủng hoảng quốc gia, dưới thời các chính quyền Dân chủ và Cộng hòa - kể từ khi Ngũ Giác Đài mở rộng cánh cửa của nó vào ngày 15/1/1943.

Ủy ban Phóng viên vì Tự do Báo chí đã yêu cầu Ngũ Giác Đài làm rõ và lưu ý tính chất khó hiểu của một số quy tắc. Đáp lại, hôm Thứ Tư, người phát ngôn Ngũ Giác Đài Sean Parnell cho biết, các hạn chế này nhằm nhắc nhở các phóng viên rằng nhân viên ở Ngũ Giác Đài tuân thủ theo các kỷ cương nghiêm ngặt về những gì họ có thể và không thể tiết lộ. Thêm vào đó, Ngũ Giác Đài muốn ngăn chặn “những dụ dỗ khuyến khích nhân viên DoW vi phạm các quy tắc tiết lộ thông tin này.” Từ viết tắt này ám chỉ “Bộ Chiến Tranh,” cái tên mà Hegseth thích thú đặt cho cơ quan có gần 3 triệu nhân viên do ông ta điều hành.

Cho đến thông báo tuần trước, tôi chưa bao giờ lo mình sẽ bị đuổi ra khỏi nơi này, dù tôi có quyết liệt theo đuổi đề tài của mình như thế nào. Chính sách mở cửa Ngũ Giác Đài cho báo chí của quân đội Hoa Kỳ chưa bao giờ là một sự ưu ái dành cho các nhà báo đưa tin về quân đội, mà đúng hơn là một nghĩa vụ đối với một đất nước luôn yêu cầu con cháu mình tình nguyện phục vụ quốc gia. Nếu chính phủ muốn người Mỹ hy sinh cho tự do của chúng ta, thì những người có thẩm quyền đưa họ vào nơi nguy hiểm sẽ sẵn sàng trả lời các câu hỏi, đặc biệt là những câu hỏi hóc búa. Quyết định cho phép báo chí vào tòa nhà của Ngũ Giác Đài phục vụ lợi ích riêng của họ.

Tôi khó mà nhìn thấy những quy định mới này sẽ không làm giảm khả năng tiếp cận thông tin mà công chúng mong đợi. Ví dụ như: nhóm hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ đang hoạt động ở vùng biển nào? Bộ trưởng có nói chuyện với người đồng cấp Trung Quốc không? Tại sao Hoa Kỳ lại từ chối vận chuyển vũ khí đã được phê duyệt đến Ukraine? Các quy tắc giao chiến dành cho Lực lượng Vệ binh Quốc gia được khai triển trên đường phố Hoa Kỳ như thế nào?

Các tổ chức truyền thông, bao gồm cả The Atlantic, đã bày tỏ rõ sự phản đối những thay đổi này.

Trong các cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan, Ngũ Giác Đài muốn các phóng viên cùng ra trận với quân đội, ngay cả khi chúng tôi phải ghi chép lại những cái chết của dân thường, tình trạng lạm dụng tại các nhà tù quân sự, việc Hoa Kỳ ngụy biện là đang xoay chuyển tình thế trong những cuộc xung đột bi thảm đó. Các tướng lĩnh và lãnh đạo dân sự thường trả lời phỏng vấn trong phòng họp báo. Ngũ Giác Đài từng muốn chúng tôi chú ý đến những gì họ đang làm, đặc biệt là khi đến lúc thảo luận về nhu cầu tăng ngân sách Bộ Quốc Phòng, hiện đã lên tới gần $1 ngàn tỷ đô la. Việc yêu cầu thêm tiền sẽ dễ dàng hơn nhiều khi người Mỹ có thể thấy được những gì quân đội Hoa Kỳ đang làm. Người Mỹ có thể sẽ không sẵn lòng đóng góp quá nhiều —về mặt tài chính hoặc thông qua những người đang phục vụ – nếu họ được nhìn thấy tất cả sự thật.

Nếu các nhà lãnh đạo của quân đội tiên tiến nhất thế giới không thoải mái khi trả lời những câu hỏi quan trọng từ nhà báo, đó là sự yếu đuối – chứ không phải mạnh mẽ. Hegseth đã nhiều lần hứa sẽ khôi phục lại “đạo đức chiến binh,” một viễn cảnh không thể tưởng tượng được nếu việc tiếp nhận câu hỏi từ công chúng Mỹ là quá đáng sợ để chấp nhận.

Trong quá khứ, một số cựu lãnh đạo Bộ Quốc Phòng hoan nghênh việc đặt câu hỏi như một hình thức giải trình – hoặc ít nhất là một thước đo về cách những người bên ngoài quân đội Hoa Kỳ tiếp nhận thông điệp của họ. Tướng Không Quân Richard Myers, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân vào thời điểm 11/9, nhiều năm sau cuộc tấn công đó, đôi khi bắt đầu các cuộc họp báo bằng cách hỏi các phóng viên: “Hôm nay chúng ta thế nào?”
Trong hồi ký của mình, cựu Bộ trưởng Quốc Phòng Bob Gates, người từng làm việc dưới thời Tổng thống Barack Obama và George W. Bush, đã nhiều lần nói rằng ông sẽ không biết về điều kiện sống khủng khiếp của quân nhân và gia đình họ tại Trung tâm Y tế Walter Reed nếu không có báo chí.

Bod Gates đã viết: “Nhìn chung, Ngũ Giác Đài may mắn khi có một nhóm phóng viên giàu kinh nghiệm và năng lực làm việc được giao, hầu hết đều quan tâm đến bản chất vấn đề chứ không phải cá nhân. Tôi chưa bao giờ có vấn đề gì thực sự với họ. Tôi ghét việc rò rỉ thông tin. Tuy nhiên, tôi hiếm khi đổ lỗi cho các phóng viên vì đã đăng tải thông tin bị rò rỉ; tôi chỉ tức giận với những người trong chính phủ được giao nhiệm vụ giữ bí mật mà lại không làm vậy.”

Hoặc, như ông đã từng nói với các học viên Học viện Không Quân Hoa Kỳ trong bài phát biểu tốt nghiệp năm 2007: “Tôi muốn khuyến khích các bạn luôn ghi nhớ tầm quan trọng của hai trụ cột tự do của chúng ta theo Hiến Pháp – Quốc Hội và báo chí. Cả hai chắc chắn đôi khi thử thách sự kiên nhẫn của chúng ta, nhưng chúng là những người bảo đảm chắc chắn nhất cho tự do của người dân Mỹ.”

“Báo chí không phải là kẻ thù,” ông nói thêm, “và coi báo chí là kẻ thù là tự chuốc lấy thất bại.”

Mark Esper, Bộ trưởng Quốc Phòng dưới thời chính quyền Trump đầu tiên, đã tiết lộ trong hồi ký của mình số lần ông trả lời các câu hỏi của giới truyền thông hoặc phát biểu trước công chúng để giải thích về việc ra quyết định của Ngũ Giác Đài: “Đến cuối nhiệm kỳ của mình, tôi đã tổ chức gần hai mươi hai cuộc họp báo tại Phòng Họp Báo Ngũ Giác Đài, tám cuộc họp toàn thể, ba mươi hai cuộc họp báo, hai mươi chín cuộc phỏng vấn được truyền hình hoặc ghi âm, hai mươi hai phiên họp không chính thức, mười sáu cuộc họp báo với các buổi hỏi đáp tại các viện nghiên cứu, chín thông điệp gửi đến lực lượng và mười một bài phát biểu chính sách quan trọng.”

Đối với cựu Bộ trưởng Quốc Phòng Esper, việc sẵn sàng trả lời các câu hỏi của công chúng dường như là một niềm tự hào và là một phần cơ bản trong nhiệm vụ của ông. Và đúng như vậy.

Mùa Xuân năm ngoái, tờ The Atlantic đã rất thận trọng khi lựa chọn đăng tải các tin nhắn mà Hegseth và các thành viên khác trong nhóm an ninh quốc gia của chính quyền Trump bất cẩn gửi qua Signal cho tổng biên tập của chúng tôi. The Atlantic đã thông báo cho chính phủ trước khi bài viết được đăng tải và xác minh trước rằng nhóm trò chuyện là hợp pháp. Cho đến khi Giám đốc Tình báo Quốc gia Tulsi Gabbard khẳng định, một cách khó tin, rằng “không có tài liệu mật nào được chia sẻ trong nhóm Signal đó.” Tại sao cuối cùng chúng tôi lại đăng toàn bộ các tin nhắn trao đổi của họ? Bởi vì người dân Mỹ có quyền tự đánh giá.

Phóng viên thường xuyên che giấu thông tin có thể gây nguy hiểm cho quân đội Hoa Kỳ. Và thậm chí còn thường xuyên hơn, các nhà báo đã viết những bài báo vạch trần những lời dối trá có thể gây nguy hiểm cho lực lượng Mỹ. Các lãnh đạo Ngũ Giác Đài cho biết, nếu không đưa tin về chất nổ do Iran sản xuất ở Iraq, sẽ không có sự cấp bách trong việc cung cấp xe chống mìn, hay còn gọi là MRAP, cho quân đội ở xa. Báo chí đã tiết lộ việc tiếp xúc với khói độc tại các căn cứ của Hoa Kỳ đã gây hại cho quân đội như thế nào. Báo chí đã ghi nhận những sơ hở về an ninh trong vụ tấn công lãnh sự quán Benghazi năm 2012 và những thất bại trong việc rút quân của Hoa Kỳ khỏi Afghanistan.

Tôi được giới thiệu với quân đội Hoa Kỳ ngay ở tuyến đầu của cuộc chiến tranh Iraq. Tôi ngồi cạnh những người lính, một số người trong số họ chưa từng ra khỏi Hoa Kỳ. Chúng tôi cùng ngồi trên xe Humvee, xe thiết giáp và Stryker, chuẩn bị cho một cuộc tấn công. Tôi chứng kiến ​​những người lính bị trúng chất nổ, né tránh hỏa. Tôi chứng kiến ​​quân đội đột kích vào nhà của người Iraq và cảm nhận được nỗi sợ hãi của những người mà chúng tôi nói rằng chúng tôi đang giải phóng. Tôi đã dành nhiều năm trong cuộc đời mình để đếm số giày chất đống sau các vụ đánh bom để xác định số sinh mạng đã mất. Tôi đã viết những câu chuyện về cả người Iraq và quân đội Hoa Kỳ chiến đấu để sinh tồn, mà không bao giờ thực sự biết tất cả những điều đó là vì điều gì.

Lần đầu tiên tôi bước vào Ngũ Giác Đài, ngay sau khi trở về từ Iraq, tôi đã trải qua một cú sốc thời chiến khác thường. Tôi mang một cảm giác vô hồn khi mọi người sống đời sống như thể họ không phải chịu trách nhiệm cho nỗi đau khổ cách xa hàng ngàn dặm. Không người nào tôi gặp mà có vẻ ngây thơ bị tước đoạt như một người bị chiến tranh lấy đi tuổi trẻ đã hằn sâu vĩnh viễn trên gương mặt. Những người phục vụ trong tòa nhà này có thể phải nghĩ về chiến tranh vào ban ngày, nhưng đến đêm họ lại trở về nhà với gia đình.

Vậy mà họ cũng phải chịu đựng. Cựu Bộ trưởng Quốc Phòng Bod Gates yêu cầu nhân viên của mình cho ông xem báo chí địa phương tường thuật về từng binh sĩ thiệt mạng trong nhiệm kỳ của ông. Có lần, trên chuyên cơ của ông, tôi đã lén nhìn vào phòng làm việc của ông và thấy ông khóc khi đọc câu chuyện về một quân nhân hy sinh ở Iraq. Trong nhiệm kỳ đầu của chính quyền Trump, tôi đã thấy nỗi lo lắng hiện rõ trên khuôn mặt các chỉ huy trước các cuộc không kích của Mỹ ở Syria. Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến ở Afghanistan, tôi đã chứng kiến ​​nỗi kinh hoàng của họ khi số lượng binh sĩ và thường dân thiệt mạng do một kẻ đánh bom liều chết bên ngoài Abbey Gate tăng lên theo từng ngày. Các quan chức Ngũ Giác Đài biết rằng họ đã phụ lòng những người lính đó và những người Afghanistan đang tuyệt vọng muốn rời chiến trường.

Không một cuộc gọi điện thoại nào có thể thay thế cho việc đến văn phòng của một vị tướng và nhìn thấy những đồng xu may mắn mà họ đã thu thập được, những tác phẩm nghệ thuật được trưng bày trên tường văn phòng, hay những mối liên hệ nhỏ nhặt hàng ngày cho bạn một góc nhìn về con người của người đó. Những câu chuyện hay nhất là những câu chuyện được tìm thấy một cách bất ngờ, khi đi dạo quanh hành lang và làm quen với những người chỉ huy lực lượng vũ trang Hoa Kỳ.

Khả năng nhìn thấy nhiều điều như vậy đã khiến Ngũ Giác Đài trở thành cơ quan tốt nhất ở Washington để đưa tin – và đặt ra một trách nhiệm to lớn cho các nhà báo được phân công. Sự hiện diện của chúng tôi là cách quân đội thể hiện rằng họ nhìn thấy giá trị của một nền báo chí tự do, không chỉ trong việc giúp thực hiện sứ mệnh mà còn là một tinh thần Mỹ. Theo kinh nghiệm của tôi, các nhà lãnh đạo mạnh mẽ luôn hoan nghênh cơ hội bảo vệ cách họ xử lý vấn đề an ninh quốc gia Hoa Kỳ. Họ luôn mở rộng cánh cửa, theo đúng nghĩa đen của từ này.

Linh Đoàn biên dịch

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.