Hôm nay,  

Từ diệt chủng Do Thái đến ‘diệt chủng’ Palestine

15/08/202500:00:00(Xem: 2289)

Diet chung

Khi nào con người còn sẵn sàng gây chiến tranh để giành đất đai, tài nguyên; giết người nhân danh tôn giáo, chủng tộc, vẫn sẽ có một quốc gia nào đó trở thành nạn nhân của lòng thù hận, sự độc ác. Ảnh: Gaza đổ nát. Chụp lại từ youtube.

 
Trong những tháng qua, thảm họa đói của người Palestine ở dải Gaza đã làm thế giới rúng động. Tin tức về trẻ em Palestine bị bắn chết trong khi cố len lỏi tới rào sắt để nhận thức ăn viện trợ được truyền đi; nhiều người đặt câu hỏi về lương tri của những kẻ tổ chức “công tác nhân đạo” này (công ty Gaza Humanitarian Foundation do chính phủ Trump hậu thuẫn). UN ước tính có khoảng 1,400 người Palestine đã chết khi tìm cách nhận thực phẩm cứu trợ.
 
Vào tháng 12 năm 2023, Nam Phi đã đệ đơn kiện Israel lên Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) cáo buộc quốc gia này phạm tội diệt chủng ở Gaza. Một số quốc gia khác tham gia hoặc bày tỏ sự ủng hộ đối với vụ kiện, bao gồm: Nicaragua, Bỉ, Colombia, Thổ Nhĩ Kỳ, Libya, Ai Cập, Maldives, Mexico, Ireland, Chile Palestine…
 
Nếu nhìn xa hơn về quá khứ, những ai từng theo dõi tình hình bất ổn tại Gaza trong nhiều thập niên qua có thể nhận ra cuộc “diệt chủng” người Palestine ngày hôm nay bắt nguồn từ một cuộc diệt chủng khác, xảy ra cách nay đã gần một thế kỷ. Đó là khi những lò thiêu người của Đức Quốc Xã trong thời Đệ II Thế Chiến cướp đi sinh mạng của khoảng sáu triệu người Do Thái. Cuộc diệt chủng đó làm thức tỉnh lương tri nhân loại, khiến thế giới phải đồng thuận để cho một quốc gia Do Thái ra đời tại vùng đất mà người Palestine đã sinh sống từ nghìn năm. Nhưng cũng từ đó, cả thế giới Phương Tây lẫn Hồi Giáo đều thất bại trong việc tìm ra một giải pháp để hai dân tộc Palestine và Israel có thể chung sống hòa bình; dẫn đến chiến tranh, thảm họa nhân đạo tiếp diễn trong hơn nửa thế kỷ ở Dải Gaza nhuộm đầy máu và nước mắt.
 
Có thể xem lịch sử xung đột Israel-Palestine trong thế kỷ 20 khởi nguồn từ  năm 1917, khi Tuyên Ngôn Balfour của chính phủ Anh hứa hẹn hỗ trợ "một quê hương cho người Do Thái" tại Palestine.  Một phần vì Anh đồng cảm với nỗi thống khổ của người Do Thái trên toàn thế giới; một phần vì lợi ích chiến lược của các thuộc địa ở Trung Đông. Những năm sau đó, căng thẳng gia tăng giữa những người Do Thái mới nhập cư và cộng đồng người Ả Rập tại Palestine.
 
Sau Đệ II Thế Chiến, Liên Hợp Quốc đề nghị chia Palestine thành quốc gia Do Thái và Ả Rập riêng biệt. Đến năm 1948, nhà nước Israel được thành lập, cũng là lúc 700,000 người Palestine bị đẩy ra khỏi nơi sinh sống của mình. Sự thanh trừng sắc tộc đối với người Ả Rập Palestine (Nakba), chiến tranh giữa Israel và các quốc gia Ả Rập láng giềng bắt đầu bùng nổ.
 
Đến năm 1967, cuộc Chiến Tranh Sáu Ngày dẫn đến việc Israel chiếm đóng Bờ Tây, Dải Gaza và Đông Jerusalem, khiến xung đột càng gia tăng. Cuộc nổi dậy Intifada lần thứ nhất của người Palestine chống lại sự chiếm đóng của Israel bắt đầu vào năm 1987.
 
Thế giới có nhiều nỗ lực nhằm tìm kiếm hòa bình cho khu vực Trung Đông. Một cột mốc quan trọng là vào ngày 13 tháng 9 năm 1993, Hiệp Định Oslo được ký kết giữa Israel và PLO (Palestine Liberation Organization) tại Tòa Bạch Ốc dưới sự chứng kiến của Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton. Theo đó, cả hai bên đồng ý hòa bình để bắt đầu đàm phán về quyền tự trị của người Palestine.
 
Nhưng những hy vọng đàm phán hòa bình tắt dần khi cả hai phía không thể tìm được tiếng nói chung. Bạo lực lại gia tăng, dẫn đến cuộc nổi dậy Intifada lần thứ hai bùng nổ vào năm 2000. Một năm sau, vụ tấn công khủng bố 911 xảy ra, là cuộc tấn công lớn nhất của các nhóm khủng bố Hồi Giáo nhắm vào Hoa Kỳ. Hy vọng hòa bình Trung Đông càng thêm xa vời. Nhận thức được rằng sự ủng hộ dành cho Israel là một trong những nguyên nhân khiến Hoa Kỳ trở thành mục tiêu khủng bố, chính quyền Mỹ tạo sức ép để vào năm 2005, Israel rút khỏi Gaza, nhưng vẫn duy trì quyền kiểm soát biên giới và không phận. Chỉ một năm sau, năm 2006, Hamas-nhóm ủng hộ dùng vũ lực chống lại Israel- giành chiến thắng trong cuộc bầu cử lập pháp của Palestine. Cũng từ đó, xung đột ở Gaza leo thang với các hoạt động quân sự của Israel liên quan đến các khu định cư Do Thái, các vấn đề về Jerusalem. Bất ổn triền miên trong khu vực. Năm 2025 là đỉnh điểm của sự cùng khổ kéo dài của người Palestine, với nguyên nhân trực tiếp là cuộc tấn công khủng bố của Hamas vào Israel vào ngày ngày 7 tháng 10 năm 2023.
 
Chính sách của Hoa Kỳ đối với xung đột Israel-Palestine có thay đổi tùy thuộc vào các đời tổng thống; nhưng cũng có điểm hầu như không thay đổi là ủng hộ an ninh của Israel, đồng thời cố gắng tìm ra giải pháp dài hạn cho vùng Trung Đông. Đi ngược dòng lịch sử đến năm 1948, Tổng Thống Truman công nhận nhà nước Israel chỉ 11 phút sau khi nước này tuyên bố độc lập. Trong những năm đầu thập niên 1960s, Kennedy trở thành tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên bán vũ khí hiện đại cho Israel. Ông bày tỏ mối quan tâm đối với người Palestine, nhưng vẫn ưu tiên cho an ninh của Israel. Trong cuộc Chiến Tranh Sáu Ngày (1967), Tổng Thống Johnson ủng hộ Israel nhưng không can thiệp quân sự trực tiếp. Sau khi Israel chiếm đóng Bờ Tây, Dải Gaza và Đông Jerusalem, Johnson đã thúc đẩy Nghị quyết 242 của Liên Hợp Quốc, buộc Israel rút khỏi các vùng lãnh thổ chiếm đóng để đổi lấy hòa bình.
 
Trong cuộc Chiến tranh Yom Kippur (1973), Tổng Thống Nixon ủng hộ Israel mạnh mẽ, gửi một cuộc vận chuyển vũ khí bằng đường hàng không quy mô lớn. Từ thời điểm này, Hoa Kỳ trở thành nước hậu thuẫn quân sự chính cho Israel. Sang đến thời Tổng Thống Ford, Hoa Kỳ lại gây sức ép ngắn hạn với Israel, thúc đẩy các cuộc đàm phán hòa bình. Vào năm 1978, Tổng Thống Carter làm trung gian cho Hiệp Định Trại David giữa Israel và Ai Cập, dẫn đến việc Ai Cập công nhận Israel. Carter cũng đồng thời ủng hộ "quyền hợp pháp" của người Palestine.
 
Sang thập niên 1980s, Tổng Thống Reagan củng cố quan hệ quân sự với Israel trong Chiến Tranh Lạnh. Đến thập niên 1990s, Tổng Thống Bush “cha” phản đối việc mở rộng các khu định cư của Israel, giữ lại 10 tỷ đô la tiền bảo lãnh nợ vay để gây sức ép buộc Israel đàm phán hòa bình. Vào năm 1993, Tổng Thống Clinton làm trung gian cho Hiệp định Oslo (1993), dẫn đến việc chính quyền Palestine được cai trị tại một số khu vực Bờ Tây/Gaza.
 
Vào thiên niên kỷ mới với cuộc khủng bố 911, George W. Bush trở thành tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên công khai kêu gọi thành lập một nhà nước Palestine vào năm 2002. Ông khởi động “Lộ trình Hòa bình” với các đối tác quốc tế vào năm 2003, ủng hộ việc Israel rút quân khỏi Gaza năm 2005. Sau đó, Tổng Thống Obama có lập trường kêu gọi Israel phải nhượng bộ. Ông cố gắng đóng băng việc xây dựng các khu định cư của Israel; tiếp tục ủng hộ giải pháp hai nhà nước. Vào năm 2016, lần đầu tiên trong lịch sử, Hoa Kỳ bỏ phiếu trắng một nghị quyết của Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc lên án các khu định cư của Israel, một thay đổi lớn trong chính sách Trung Đông. Nhưng chính ông Obama cũng đã ký gói viện trợ quân sự lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ cho Israel trị giá 38 tỷ đô la trong 10 năm.
 
Ngược lại với Obama, Trump trở thành tổng thống Hoa Kỳ ủng hộ Israel mạnh mẽ nhất. Trong nhiệm kỳ đầu, Trump công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel vào năm 2017, chuyển đại sứ quán Hoa Kỳ đến đó. Trump công nhận chủ quyền của Israel đối với Cao nguyên Golan; công bố kế hoạch “Từ Hòa Bình Đến Thịnh Vượng” hoàn toàn có lợi cho Israel. Ông cũng cắt giảm viện trợ của Hoa Kỳ cho Palestine, đóng cửa văn phòng PLO tại Washington.
 
Ngay sau khi Trump tuyên bố công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel, nhiều người tiên đoán một cuộc khủng bố lớn sẽ xảy ra. Và điều đó đã thành sự thật vào ngày 7 tháng 10 năm 2023, khi Hamas bất ngờ tấng công vào lãnh thổ Israel, khiến khoảng 1,200 người Israel và nước ngoài thiệt mạng; 250 người bị bắt làm con tin.
 
Lịch sử cho thấy rằng cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ đều có những nỗ lực giải quyết xung đột Israel-Palestine, nhưng cho đến nay vẫn thất bại. Các nước Tây Phương cũng thế. Đa số họ ủng hộ Israel vì có nhiều điểm chung: chính trị- quân sự (trong thời chiến tranh lạnh, các nước Ả Rập được Liên Xô hậu thuẫn), văn hóa (các giá trị Do Thái-Cơ đốc giáo chung), kinh tế… Họ cũng có nhiều nỗ lực nhưng không thành công cho vấn đề Trung Đông.
 
Các quốc gia Âu Mỹ là vậy. Nhưng ngay cả các quốc gia Ả Rập và Hồi giáo cũng không thể giúp ích gì cho Palestine. Các quốc gia Ả Rập coi việc phương Tây công nhận và ủng hộ Israel là tiếp tay trực tiếp cho việc tước đoạt đất đai của người Palestine. Cuộc khủng hoảng người tị nạn Palestine trở thành một nỗi đau cho thế giới Hồi giáo. Nhưng chính trong nội bộ của họ cũng đầy mâu thuẫn. Tính bộ lạc lâu đời đã khiến các quốc gia Hồi Giáo thường xuyên gây chiến lẫn nhau trong suốt chiều dài lịch sử. Đến thời cận đại, quyền lợi kinh tế khiến một số quốc gia Hồi Giáo phải bắt tay với Âu Mỹ: Ai Cập vì quyền lợi kinh đào Suez; Saudi Arab vì quyền lợi dầu mỏ… Những người Hồi Giáo anh em mà còn bất lực, huống gì các thế lực ngoại bang?
 
Trong khi thế giới loay hoay tìm giải pháp, máu của người Palestine tiếp tục đổ. Nỗi thống khổ của dân tộc Palestine vẫn còn đó sau hơn nửa thế kỷ. Khi nào con người còn sẵn sàng gây chiến tranh để giành đất đai, tài nguyên; giết người nhân danh tôn giáo, chủng tộc, vẫn sẽ có một quốc gia nào đó trở thành nạn nhân của lòng thù hận, sự độc ác. Là Somali ở Phi Châu; là Kosovo ở Âu Châu. Và nay là Palestine, hiện đang chịu đựng nỗi thống khổ kéo dài đã qua hai thiên niên kỷ.
 
Lịch sử diệt chủng đang lập lại, chỉ đổi tên nạn nhân. Nhưng mong rằng lịch sử cũng sẽ lập lại những điều tốt lành. Cuộc diệt chủng người Do Thái đã dẫn đến sự hình thành quốc gia Israel. Hy vọng những thảm họa mà người dân Palestine đang phải gánh chịu sẽ đánh thức lương tri nhân loại, đủ để có được sự đồng thuận trong việc hình thành một quốc gia độc lập cho dân tộc cùng khổ này.
 
Doãn Hưng 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.