Hôm nay,  

Từ diệt chủng Do Thái đến ‘diệt chủng’ Palestine

15/08/202500:00:00(Xem: 2294)

Diet chung

Khi nào con người còn sẵn sàng gây chiến tranh để giành đất đai, tài nguyên; giết người nhân danh tôn giáo, chủng tộc, vẫn sẽ có một quốc gia nào đó trở thành nạn nhân của lòng thù hận, sự độc ác. Ảnh: Gaza đổ nát. Chụp lại từ youtube.

 
Trong những tháng qua, thảm họa đói của người Palestine ở dải Gaza đã làm thế giới rúng động. Tin tức về trẻ em Palestine bị bắn chết trong khi cố len lỏi tới rào sắt để nhận thức ăn viện trợ được truyền đi; nhiều người đặt câu hỏi về lương tri của những kẻ tổ chức “công tác nhân đạo” này (công ty Gaza Humanitarian Foundation do chính phủ Trump hậu thuẫn). UN ước tính có khoảng 1,400 người Palestine đã chết khi tìm cách nhận thực phẩm cứu trợ.
 
Vào tháng 12 năm 2023, Nam Phi đã đệ đơn kiện Israel lên Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) cáo buộc quốc gia này phạm tội diệt chủng ở Gaza. Một số quốc gia khác tham gia hoặc bày tỏ sự ủng hộ đối với vụ kiện, bao gồm: Nicaragua, Bỉ, Colombia, Thổ Nhĩ Kỳ, Libya, Ai Cập, Maldives, Mexico, Ireland, Chile Palestine…
 
Nếu nhìn xa hơn về quá khứ, những ai từng theo dõi tình hình bất ổn tại Gaza trong nhiều thập niên qua có thể nhận ra cuộc “diệt chủng” người Palestine ngày hôm nay bắt nguồn từ một cuộc diệt chủng khác, xảy ra cách nay đã gần một thế kỷ. Đó là khi những lò thiêu người của Đức Quốc Xã trong thời Đệ II Thế Chiến cướp đi sinh mạng của khoảng sáu triệu người Do Thái. Cuộc diệt chủng đó làm thức tỉnh lương tri nhân loại, khiến thế giới phải đồng thuận để cho một quốc gia Do Thái ra đời tại vùng đất mà người Palestine đã sinh sống từ nghìn năm. Nhưng cũng từ đó, cả thế giới Phương Tây lẫn Hồi Giáo đều thất bại trong việc tìm ra một giải pháp để hai dân tộc Palestine và Israel có thể chung sống hòa bình; dẫn đến chiến tranh, thảm họa nhân đạo tiếp diễn trong hơn nửa thế kỷ ở Dải Gaza nhuộm đầy máu và nước mắt.
 
Có thể xem lịch sử xung đột Israel-Palestine trong thế kỷ 20 khởi nguồn từ  năm 1917, khi Tuyên Ngôn Balfour của chính phủ Anh hứa hẹn hỗ trợ "một quê hương cho người Do Thái" tại Palestine.  Một phần vì Anh đồng cảm với nỗi thống khổ của người Do Thái trên toàn thế giới; một phần vì lợi ích chiến lược của các thuộc địa ở Trung Đông. Những năm sau đó, căng thẳng gia tăng giữa những người Do Thái mới nhập cư và cộng đồng người Ả Rập tại Palestine.
 
Sau Đệ II Thế Chiến, Liên Hợp Quốc đề nghị chia Palestine thành quốc gia Do Thái và Ả Rập riêng biệt. Đến năm 1948, nhà nước Israel được thành lập, cũng là lúc 700,000 người Palestine bị đẩy ra khỏi nơi sinh sống của mình. Sự thanh trừng sắc tộc đối với người Ả Rập Palestine (Nakba), chiến tranh giữa Israel và các quốc gia Ả Rập láng giềng bắt đầu bùng nổ.
 
Đến năm 1967, cuộc Chiến Tranh Sáu Ngày dẫn đến việc Israel chiếm đóng Bờ Tây, Dải Gaza và Đông Jerusalem, khiến xung đột càng gia tăng. Cuộc nổi dậy Intifada lần thứ nhất của người Palestine chống lại sự chiếm đóng của Israel bắt đầu vào năm 1987.
 
Thế giới có nhiều nỗ lực nhằm tìm kiếm hòa bình cho khu vực Trung Đông. Một cột mốc quan trọng là vào ngày 13 tháng 9 năm 1993, Hiệp Định Oslo được ký kết giữa Israel và PLO (Palestine Liberation Organization) tại Tòa Bạch Ốc dưới sự chứng kiến của Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton. Theo đó, cả hai bên đồng ý hòa bình để bắt đầu đàm phán về quyền tự trị của người Palestine.
 
Nhưng những hy vọng đàm phán hòa bình tắt dần khi cả hai phía không thể tìm được tiếng nói chung. Bạo lực lại gia tăng, dẫn đến cuộc nổi dậy Intifada lần thứ hai bùng nổ vào năm 2000. Một năm sau, vụ tấn công khủng bố 911 xảy ra, là cuộc tấn công lớn nhất của các nhóm khủng bố Hồi Giáo nhắm vào Hoa Kỳ. Hy vọng hòa bình Trung Đông càng thêm xa vời. Nhận thức được rằng sự ủng hộ dành cho Israel là một trong những nguyên nhân khiến Hoa Kỳ trở thành mục tiêu khủng bố, chính quyền Mỹ tạo sức ép để vào năm 2005, Israel rút khỏi Gaza, nhưng vẫn duy trì quyền kiểm soát biên giới và không phận. Chỉ một năm sau, năm 2006, Hamas-nhóm ủng hộ dùng vũ lực chống lại Israel- giành chiến thắng trong cuộc bầu cử lập pháp của Palestine. Cũng từ đó, xung đột ở Gaza leo thang với các hoạt động quân sự của Israel liên quan đến các khu định cư Do Thái, các vấn đề về Jerusalem. Bất ổn triền miên trong khu vực. Năm 2025 là đỉnh điểm của sự cùng khổ kéo dài của người Palestine, với nguyên nhân trực tiếp là cuộc tấn công khủng bố của Hamas vào Israel vào ngày ngày 7 tháng 10 năm 2023.
 
Chính sách của Hoa Kỳ đối với xung đột Israel-Palestine có thay đổi tùy thuộc vào các đời tổng thống; nhưng cũng có điểm hầu như không thay đổi là ủng hộ an ninh của Israel, đồng thời cố gắng tìm ra giải pháp dài hạn cho vùng Trung Đông. Đi ngược dòng lịch sử đến năm 1948, Tổng Thống Truman công nhận nhà nước Israel chỉ 11 phút sau khi nước này tuyên bố độc lập. Trong những năm đầu thập niên 1960s, Kennedy trở thành tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên bán vũ khí hiện đại cho Israel. Ông bày tỏ mối quan tâm đối với người Palestine, nhưng vẫn ưu tiên cho an ninh của Israel. Trong cuộc Chiến Tranh Sáu Ngày (1967), Tổng Thống Johnson ủng hộ Israel nhưng không can thiệp quân sự trực tiếp. Sau khi Israel chiếm đóng Bờ Tây, Dải Gaza và Đông Jerusalem, Johnson đã thúc đẩy Nghị quyết 242 của Liên Hợp Quốc, buộc Israel rút khỏi các vùng lãnh thổ chiếm đóng để đổi lấy hòa bình.
 
Trong cuộc Chiến tranh Yom Kippur (1973), Tổng Thống Nixon ủng hộ Israel mạnh mẽ, gửi một cuộc vận chuyển vũ khí bằng đường hàng không quy mô lớn. Từ thời điểm này, Hoa Kỳ trở thành nước hậu thuẫn quân sự chính cho Israel. Sang đến thời Tổng Thống Ford, Hoa Kỳ lại gây sức ép ngắn hạn với Israel, thúc đẩy các cuộc đàm phán hòa bình. Vào năm 1978, Tổng Thống Carter làm trung gian cho Hiệp Định Trại David giữa Israel và Ai Cập, dẫn đến việc Ai Cập công nhận Israel. Carter cũng đồng thời ủng hộ "quyền hợp pháp" của người Palestine.
 
Sang thập niên 1980s, Tổng Thống Reagan củng cố quan hệ quân sự với Israel trong Chiến Tranh Lạnh. Đến thập niên 1990s, Tổng Thống Bush “cha” phản đối việc mở rộng các khu định cư của Israel, giữ lại 10 tỷ đô la tiền bảo lãnh nợ vay để gây sức ép buộc Israel đàm phán hòa bình. Vào năm 1993, Tổng Thống Clinton làm trung gian cho Hiệp định Oslo (1993), dẫn đến việc chính quyền Palestine được cai trị tại một số khu vực Bờ Tây/Gaza.
 
Vào thiên niên kỷ mới với cuộc khủng bố 911, George W. Bush trở thành tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên công khai kêu gọi thành lập một nhà nước Palestine vào năm 2002. Ông khởi động “Lộ trình Hòa bình” với các đối tác quốc tế vào năm 2003, ủng hộ việc Israel rút quân khỏi Gaza năm 2005. Sau đó, Tổng Thống Obama có lập trường kêu gọi Israel phải nhượng bộ. Ông cố gắng đóng băng việc xây dựng các khu định cư của Israel; tiếp tục ủng hộ giải pháp hai nhà nước. Vào năm 2016, lần đầu tiên trong lịch sử, Hoa Kỳ bỏ phiếu trắng một nghị quyết của Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc lên án các khu định cư của Israel, một thay đổi lớn trong chính sách Trung Đông. Nhưng chính ông Obama cũng đã ký gói viện trợ quân sự lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ cho Israel trị giá 38 tỷ đô la trong 10 năm.
 
Ngược lại với Obama, Trump trở thành tổng thống Hoa Kỳ ủng hộ Israel mạnh mẽ nhất. Trong nhiệm kỳ đầu, Trump công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel vào năm 2017, chuyển đại sứ quán Hoa Kỳ đến đó. Trump công nhận chủ quyền của Israel đối với Cao nguyên Golan; công bố kế hoạch “Từ Hòa Bình Đến Thịnh Vượng” hoàn toàn có lợi cho Israel. Ông cũng cắt giảm viện trợ của Hoa Kỳ cho Palestine, đóng cửa văn phòng PLO tại Washington.
 
Ngay sau khi Trump tuyên bố công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel, nhiều người tiên đoán một cuộc khủng bố lớn sẽ xảy ra. Và điều đó đã thành sự thật vào ngày 7 tháng 10 năm 2023, khi Hamas bất ngờ tấng công vào lãnh thổ Israel, khiến khoảng 1,200 người Israel và nước ngoài thiệt mạng; 250 người bị bắt làm con tin.
 
Lịch sử cho thấy rằng cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ đều có những nỗ lực giải quyết xung đột Israel-Palestine, nhưng cho đến nay vẫn thất bại. Các nước Tây Phương cũng thế. Đa số họ ủng hộ Israel vì có nhiều điểm chung: chính trị- quân sự (trong thời chiến tranh lạnh, các nước Ả Rập được Liên Xô hậu thuẫn), văn hóa (các giá trị Do Thái-Cơ đốc giáo chung), kinh tế… Họ cũng có nhiều nỗ lực nhưng không thành công cho vấn đề Trung Đông.
 
Các quốc gia Âu Mỹ là vậy. Nhưng ngay cả các quốc gia Ả Rập và Hồi giáo cũng không thể giúp ích gì cho Palestine. Các quốc gia Ả Rập coi việc phương Tây công nhận và ủng hộ Israel là tiếp tay trực tiếp cho việc tước đoạt đất đai của người Palestine. Cuộc khủng hoảng người tị nạn Palestine trở thành một nỗi đau cho thế giới Hồi giáo. Nhưng chính trong nội bộ của họ cũng đầy mâu thuẫn. Tính bộ lạc lâu đời đã khiến các quốc gia Hồi Giáo thường xuyên gây chiến lẫn nhau trong suốt chiều dài lịch sử. Đến thời cận đại, quyền lợi kinh tế khiến một số quốc gia Hồi Giáo phải bắt tay với Âu Mỹ: Ai Cập vì quyền lợi kinh đào Suez; Saudi Arab vì quyền lợi dầu mỏ… Những người Hồi Giáo anh em mà còn bất lực, huống gì các thế lực ngoại bang?
 
Trong khi thế giới loay hoay tìm giải pháp, máu của người Palestine tiếp tục đổ. Nỗi thống khổ của dân tộc Palestine vẫn còn đó sau hơn nửa thế kỷ. Khi nào con người còn sẵn sàng gây chiến tranh để giành đất đai, tài nguyên; giết người nhân danh tôn giáo, chủng tộc, vẫn sẽ có một quốc gia nào đó trở thành nạn nhân của lòng thù hận, sự độc ác. Là Somali ở Phi Châu; là Kosovo ở Âu Châu. Và nay là Palestine, hiện đang chịu đựng nỗi thống khổ kéo dài đã qua hai thiên niên kỷ.
 
Lịch sử diệt chủng đang lập lại, chỉ đổi tên nạn nhân. Nhưng mong rằng lịch sử cũng sẽ lập lại những điều tốt lành. Cuộc diệt chủng người Do Thái đã dẫn đến sự hình thành quốc gia Israel. Hy vọng những thảm họa mà người dân Palestine đang phải gánh chịu sẽ đánh thức lương tri nhân loại, đủ để có được sự đồng thuận trong việc hình thành một quốc gia độc lập cho dân tộc cùng khổ này.
 
Doãn Hưng 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi có một người bạn viết lách văn nghệ. Chị cho rằng mình có chút tài nghệ, đủ để khi cần móc túi lấy ra xài. Chị không viết đều. Chỉ viết khi thích – đôi khi chị viết gửi vài tạp chí mạng, có khi chỉ viết để đó, không gửi ai. Chị sống trên căn gác nhỏ, gọi đó là "giang sơn sáng tác" của riêng mình. Mỗi ngày chị dậy lúc gần trưa, pha ly cà phê nguội, rồi mở máy tính. Có bài chị viết ngay sau ngụm cà-phê đầu tiên – vài chục phút là xong – gửi đi ngay rồi gập máy, đi ngủ tiếp. Có bài để ba năm hôm, không sửa gì cả, gửi đi như vậy. Tôi hỏi: “Sao không đọc lại?” Chị nhún vai: Lúc viết là thật nhất. Sửa nhiều, mất hồn. Tôi hỏi tiếp: Không sợ thiếu sót? Chị cười, lấy ngón tay chỉ lên bức thư pháp trên tường:“Tri túc giả phú” (Biết đủ là đủ).
Kể từ khi Donald Trump tái đắc cử Tổng thống, giới sáng lập và đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao tại Thung lũng Silicon – gồm các tỷ phú như Elon Musk, Jeff Bezos và Mark Zuckerberg – đã được xem là những nhân vật có ảnh hưởng quan trọng đối với chính quyền mới. Họ xuất hiện trong lễ nhậm chức của Trump và nhanh chóng đóng vai trò chính trong việc định hình các chính sách "Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại". Với niềm tin mãnh liệt vào tiềm năng của công nghệ hiện đại, những nhà lãnh đạo này tin rằng họ có thể vận hành nó trong khuôn khổ một nền kinh tế thị trường tự do. Họ cổ súy cho sự phát triển không giới hạn của một hình thái tư bản tự do tuyệt đối và công nghệ có thể giải quyết hầu hết các vấn đề xã hội và quốc gia. Trong tầm nhìn của các cá nhân tiên phong công nghệ, họ muốn có vai trò lãnh đạo trong việc xóa bỏ các thủ tục hành chính phức tạp của nhà nước phúc lợi. Đó là hai điều kiện tiên quyết để tăng tốc cho các tiến bộ xã hội,
Ba giờ sáng của một ngày giữa Tháng Tư, cả hệ thống điện và điện thoại trong trại giam Adelanto Detention Center (California) đồng loạt bị ngắt. Bóng tối phủ trùm khắp các khu vực. Nhân viên trại giam đi từng khu vực, gõ cửa từng phòng, gọi tên “những người được chọn.” Mỗi phòng một, hoặc hai người bị gọi tên. “Thu xếp đồ đạc của các anh” – lệnh được truyền đi vắn tắt, không giải thích. Ông X. Nguyễn, cư dân của Santa Ana, đến Mỹ từ năm 1990, là một trong những người bị đánh thức được lệnh phải thu dọn đồ đạc.Cùng với những người khác - không ai biết ai vì tất cả đèn đã tắt, trong bóng tối họ bị áp tải ra khỏi trại giam trong tình trạng tay bị còng, chân bị xích. Chỉ đến khi bước vào chiếc xe bít bùng, họ mới nhận ra nhau qua cùng tiếng Mẹ đẻ, mới biết mình không đơn độc – mà cùng những người khác cùng ngôn ngữ, cùng cố hương, cùng một chuyến đi không có ngày trở lại. “Họ đưa anh tôi và những người trên xe đến tòa nhà INS (Immigration and Naturalization Service) ở Los Angeles.
Chuyện đời của Tổng thống Donald Trump như một cuốn sách, không phải tự truyện, không phải tiểu sử, là một trường thiên tiểu thuyết đang viết vào chương cuối cùng. Đã gọi là tiểu thuyết, nghĩa là không thật như đời thường, có nhiều diễn biến ly kỳ, bí mật và những âm thầm giấu giếm bên trong. Nhân vật chính là một người có đời sống phóng đảng từ trẻ đến già. Con nhà giàu, đẹp trai, học không giỏi. Bảy mươi mấy năm sống có thể gôm vào sáu chữ: Ham gái. Ham danh. Ham tiền. Ông không có khả năng gì đặc biệt, ngoài trừ khả năng bạo phổi, quen thói tỷ phú quyền lực, ít học, kém tư cách, ông muốn nói gì thì nói, muốn tuyên bố gì thì tuyên bố, bất kể đúng sai, bất kể hậu quả. Việc này khiến ông nổi bật giữa những kiểu mẫu đứng đắn, đạo hạnh, tử tế, trí thức của các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ dọc theo lịch sử. Sự phá vỡ tư cách lãnh đạo theo truyền thống, lạ lùng, được một số đông cử tri ủng hộ.
Tôi có một đứa cháu gái. Mỗi sáng, cháu ngồi trên bậc thềm, chăm chỉ buộc dây giày. Mỗi bên phải đều nhau, mỗi nút thắt phải đúng thứ tự. Nếu lỡ tay thắt ngược, cháu sẽ gỡ ra và làm lại từ đầu – đôi khi ba, bốn lần. Cháu sẽ nhất định không chịu đi học cho đến khi nào giây thắt thật ngay ngắn. Cháu thuộc dạng trẻ em tự kỷ – một khác biệt mà người ngoài mới nhìn vào khó thấy. Và để được hỗ trợ trong lớp học, con bé phải làm điều mà cả hệ thống ép nó làm: thi IQ. Nếu điểm thấp quá, cháu bị đưa ra khỏi lớp chính. Nếu điểm “không thấp đủ,” cháu lại không được hỗ trợ vì không đạt tiêu chuẩn “khuyết tật.” Cùng một con số, khi là tấm thẻ vào cửa, khi là án lệnh đuổi ra khỏi cửa. Và chẳng ai thấy việc này có gì sai. Tất cả đều hợp lệ. Tất cả đều dựa vào một niềm tin: con người có thể đo được bằng ba con số.
Trong tháng 7 năm 2025, Thượng Viện Hoa Kỳ đã bỏ phiếu gần như hoàn toàn theo đường lối đảng phái để hủy bỏ khoản ngân sách trị giá 1.1 tỷ MK đã được chuẩn thuận cấp cho Tập Đoàn Phát Thanh Truyền Hình Công Cộng (Corporation for Public Broadcasting, CPB). Những người ủng hộ quyết định này cho rằng đây là hành động cần thiết để ngừng tài trợ cho “cánh truyền thông thiên tả.” “Phát thanh truyền hình công cộng đã rơi vào tay các nhà hoạt động đảng phái từ lâu rồi,” TNS Ted Cruz (Texas) tuyên bố, khẳng định chính phủ không cần thiết phải tài trợ cho các cơ quan báo chí “thiếu công tâm.” Ông châm biếm: “Muốn xem tuyên truyền của phe cấp tiến hả, cứ bật MSNBC đi.”
Tổng thống Donald Trump đã cố gắng áp đặt Hoa Kỳ lên thế giới và tách đất nước ra khỏi thế giới. Ông bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai bằng cách vung vũ lực cứng của Mỹ, đe dọa Đan Mạch về quyền kiểm soát Greenland, và đề nghị sẽ giành lại kênh đào Panama. Ông đã sử dụng thành công các mối đe dọa về thuế quan trừng phạt để ép buộc Canada, Colombia và Mexico về các vấn đề nhập cư. Ông đã rút khỏi các hiệp định khí hậu Paris và Tổ chức Y tế Thế giới. Vào tháng 4, ông đã khiến thị trường toàn cầu rơi vào hỗn loạn bằng cách công bố thuế quan sâu rộng đối với các quốc gia trên toàn thế giới. Không lâu sau đó, ông đã thay đổi chiến thuật bằng cách rút lại hầu hết các mức thuế bổ sung, mặc dù vẫn tiếp tục gây sức ép cho một cuộc thương chiến với Trung Quốc – mặt trận chủ yếu trong cuộc tấn công hiện nay để chống lại đối thủ chính của Washington...
Tài liệu ghi chép lịch sử Tòa Bạch Ốc cho biết, khi nhân viên dưới thời chính quyền của Woodrow Wilson chuẩn bị dời vị trí của Vườn Hồng, họ nhìn thấy hồn ma của cố Đệ Nhất Phu Nhân Dolley Madison, phu nhân của cố Tổng thống đời thứ tư của Mỹ James Madison. Thế là, để “xoa dịu” bà Madison, họ quyết định không di dời nữa và Vườn Hồng ở nơi đó cho đến tận bây giờ. Ông Jeremiah Jerry Smith làm việc trong Toà Bạch Ốc dưới thời của chính quyền Tổng Thống Ulysses S. Grant vào cuối những năm 1860. Trong suốt 35 năm, ông là một người hầu, quản gia, đầu bếp, gác cửa, dọn dẹp văn phòng. Smith là người được các ký giả, người viết sách tìm đến khi họ muốn biết về tin tức hoặc chuyện hậu cung. Theo tài liệu lịch sử của White House, ông Smith nói từng nhìn thấy hồn ma của Lincoln, Grant, McKinley và một số đệ nhất phu nhân từ năm 1901 đến 1904.
Trong nhóm bạn bè khá thân, chúng tôi có một cặp bạn - anh chồng là người tốt bụng, dễ mến; anh yêu vợ, nhưng lại có tình ý với một người khác. Khi bạn bè nhắc, anh luôn trả lời chắc nịch: “Vợ tôi đơn giản lắm, bả ấy chẳng để ý, cũng chẳng hay biết gì đâu.”Cô vợ cũng là bạn tôi, một người hiền lành, tử tế. Khi nghe tiếng gần tiếng xa, bạn chỉ cười nhẹ nhàng: “Mình chẳng muốn biết, biết chi cho mệt, cứ nhắm mắt, rồi mọi chuyện cũng qua thôi.”
Thế giới vừa điên đảo vì Trump 2.0 lại phải lo đối phó với Trung Quốc 2.0. Trung Quốc 1.0 là công xưởng quốc tế dựa vào giá nhân công rẻ và giá trị gia tăng thấp để sản xuất các hàng hóa tiêu dùng trong dạng Bộ Ba Cũ: (1) quần áo, đồ chơi trẻ em…; (2) vật dụng trong nhà như bàn ghế, tivi, tủ lạnh…(3) đồ điện tử gồm điện thoại cầm tay, máy điện toán,…) Trung Quốc 1.0 kéo dài 25 năm bắt đầu từ lúc Đổi Mới thập niên 1990 cho đến giữa thập niên 2010...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.