Hôm nay,  

Quân Đội Trung Quốc Sẽ Man Rợ Hơn Quân Nhật?

9/27/202400:00:00(View: 1335)
Capture

Hình chụp lại từ video Troubled Waters, chương trình Four Corners của Đài truyền hình quốc gia Úc.

 
Biển Đông hiện như một thùng thuốc súng và, liệu nếu xung đột bùng ra, chúng ta có phải đối phó với một quân đội Trung Quốc man rợ mà, so với quân đội Thiên hoàng Nhật trong Thế chiến thứ hai, chỉ có thể hơn chứ khó mà bằng, đừng nói chuyện thua?

Như có thể thấy từ tin tức thời sự, cảnh lính Trung Quốc vác mã tấu xông lên tàu tiếp tế của Philippines chém phá trông man rợ có khác nào quân cướp biển từ tận hai, ba thế kỷ trước? [1] Rồi cảnh chúng – từ chính quy đến dân quân biển, thậm chí cả ngư dân – trấn lột, cướp phá, hành hung và bắt cóc các ngư phủ Việt Nam từ hơn ba thập niên qua cũng thế, cũng chính hiệu là nòi cướp biển.

Suy tưởng này có thể chủ quan và cảm tính nhưng, qua những sử liệu xác thực mà nhà nhân chủng học Robert B. Edgerton nêu ra trong Warriors of the Rising Sun – A History of the Japanese Military, chúng ta sẽ nhận ra rằng đó cũng chính là cảm quan của logic, khoa học. [2]

Thì quân Nhật đã vô cùng man rợ trong Thế chiến thứ hai nhưng vấn đề là trước đó họ chưa từng như thế. Mà nếu sự băng hoại này là sản phẩm của hơn hai thập niên tuyên truyền và gò ép của chính quyền quân phiệt Nhật thì sự man rợ của lính Tàu – như Nguyễn Trãi từng viết trong Bình Ngô đại cáo vào thế kỷ 15, “Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán” – lại có một truyền thống lâu đời.

Từ mấy ngàn năm trước Trung Quốc chẳng đã phi nhân hóa những dân tộc sống bên ngoài cương thổ của mình khi luôn xem là “man di” hay sao? Mà, với chính đồng bào mình, thậm chí cả những đồng chí từng vào sinh ra tử với mình, ngay trong kỷ nguyên hiện đại, họ đã vô cùng man rợ như có thể thấy qua các cảnh đấu tố và đày đọa trong Cách mạng Văn hóa. Sinh trưởng trong một khí quyển văn hóa - chính trị như thế, lại bị nhồi sọ và tuyên truyền từ khi còn học mẫu giáo, chúng ta hoàn toàn có lý do để lo sợ, dè chừng đội quân ấy trong cuộc chiến nay mai..

Nhưng đầu tiên là sự tàn bạo của lính Nhật, trong Thế chiến thứ hai. Nếu tù binh trong các trại tù của Phát xít Đức hay Ý thiệt mạng chừng 4% thì, với quân Nhật, con số lên đến 28% và, nếu may mắn sống sót thì – như có thể thấy qua hình ảnh những tù binh Anh, Úc, Mỹ – đều tàn tạ như những bộ xương cách trí. Thậm chí, ở Singapore, tù binh gốc Sikh trong quân đội Anh đã bị mang ra làm những tấm bia sống trong các buổi huấn luyện tác xạ trong khi tù nhân Trung Hoa thì bị sử dụng để rèn giũa ngón nghề đâm lê. [3]

Thế nhưng vấn đề là không phải lúc nào người Nhật cũng man rợ mà, trái lại, vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, đã được tiếng là hào hiệp, nhân đạo. Thời đó, khi vươn lên như một cường quốc thì giới ngoại giao và quân sự Nhật đã được tiếng là mã thượng và văn minh qua sự biến Nghĩa Hòa Đoàn (1899-1901) và cuộc chiến Nga - Nhật (1904-1905). [3]

Kể ra thì trước đó, trong cuộc chiến Thanh - Nhật (1894 -1895) quân Nhật đã bị tố cáo là man rợ với sự biến “Lữ Thuận đại đồ sát” tại cảng Lữ Thuận (Port Arthur) vào hạ tuần tháng 11 năm 1894, theo đó chỉ trong vòng ba ngày, lính Nhật đã tàn sát từ hàng ngàn đến hàng chục ngàn quân dân Trung Quốc. Tin này, do phóng viên James Creelman người Canada tường thuật đầu tiên trên tờ New York World, đã làm hoen ố hình ảnh Nhật, khiến Mỹ ra lệnh điều tra và trở thành đề tài tranh cãi trong nhiều năm liền, liên quan đến con số nạn nhân thực sự.

Cố thủ trong những pháo đài xây dựng theo kiểu Đức, quân Thanh lại phòng thủ như thể những thế lực cát cứ man rợ của mấy ngàn năm trước. Họ treo tiền thưởng cho những ai nộp xác lính Nhật. Họ treo ngược những tử thi ấy trên những hàng cây long não mọc đầy phố cảng. Và họ “trang trí” lối vào thành phố bằng những hàng cọc nhọn bêu thủ cấp lính Nhật bê bết máu mà, từ xa, bên kia chiến tuyến, có thể quan sát bằng ống nhòm. Bởi vậy, sau khi đè bẹp lực lượng phòng thủ ngày 21/11/1984, quân Nhật đã nổi điên lên mà dùng sự man rợ đáp trả sự man rợ. Những báo cáo về mức độ thương vong thì đầy mâu thuẫn và, theo Edgerton, thì đó là lần duy nhất lính Nhật thể hiện sự tàn bạo nhưng, sau đó, những tù binh sống sót vẫn thừa nhận là được quân Nhật đối xử tử tế, theo đúng Công ước Geneva về tù binh. [4]

Bốn năm sau đó, trong biến cố Nghĩa Hòa Đoàn, người Nhật lại đứng ra bảo vệ tín đồ Thiên Chúa Giáo gốc Hoa. Những nạn nhân này bị các thành phần bài ngoại của triều đình nấp danh Nghĩa Hòa Đoàn để tàn sát và, khi chạy đến tô giới của các nước Âu châu, cũng cùng niềm tin Thiên Chúa giáo, họ đã bị quay lưng một cách phũ phàng, trừ Nhật. Chỉ có người Nhật đứng ra bảo vệ họ, dù không cùng chia sẻ một niềm tin. [5]

Trong khi các nhà ngoại giao bảo vệ các giáo dân thì, trong “bát quốc liên quân”, lính Nhật lại chứng tỏ sự quả cảm và kỷ luật, chiến đấu gan dạ nhất mà cũng tự chế nhất, không bắn giết, cướp phá bừa bãi. Khi trả đũa Triều đình Mãn Thanh vì tội dung dưỡng, lạm dụng Nghĩa Hòa Đoàn để chống lại mình, nhiều đơn vị của liên quân đã, nhân đó, cướp bóc và hãm hiếp và, trong số này, kỷ luật nhất, nghiêm minh nhất, là quân đội Nhật, cùng với quân đội Anh, Mỹ. [6]

Đến Chiến tranh Nga - Nhật (2/1904-9/1905) nhằm giành quyền kiểm soát Mãn Châu và Triều Tiên, Nhật đã làm thế giới sửng sốt khi, lần đầu tiên, một nước Á châu đánh bại một cường quốc Tây phương nhưng họ còn làm Tây phương sửng sốt qua cách ứng xử văn minh với đối thủ. Đó là khi quân Nhật tiến vào cảng Lữ Thuận, Tư lệnh Nogi Maresuke đã không cho phép kéo cờ chiến thắng mà đợi khi quân Nga rút hết khỏi thành phố cảng này, bằng xe lửa. [7]

Giữa chiến trường, trong điều kiện sống tồi tệ và trong sự căng thẳng tâm lý tột cùng, lại chứng kiến cảnh đồng đội thi nhau gục xuống, bên nào cũng dễ bị kích động và say máu trả thù. Nếu đó là phản ứng nóng của chiến trận thì, ở đây, trò trả thù nguội khi chiến trận đã kết thúc chỉ diễn ra từ phía Nga và, nếu có những câu chuyện đó đây về sự tàn bạo của quân Nhật, kết quả điều tra của các nhà báo Tây phương đều dẫn đến kết luận là vô căn cứ. Hơn thế nữa, lúc đó báo chí Tây phương đã ghi nhận là lính Nhật đã đối xử tử tế với thương binh Nga, với tử thi của lính Nga và có thể xem là hình mẫu mà Tây phương có thể học theo. [8]


Nhưng ba thập niên sau đó thì toàn bộ những điều này đã thay đổi mà, để hiểu rõ, cần nhìn vào bối cảnh ngày đó.

Nhật trở thành cường quốc vào đầu thế kỷ 20, hoàn toàn không đúng lúc, quá muộn mà cũng quá sớm. Muộn bởi, như một nước chật hẹp, ít ỏi tài nguyên, không đủ sức tự nuôi mình, Nhật không thể lùi lại hai thế kỷ để “mở rộng không gian sinh tồn” bằng chủ nghĩa thực dân như các quốc gia Âu châu vào thế kỷ 18. Nhưng lại quá sớm bởi kỹ nghệ điện tử vẫn chưa hình thành để giúp Nhật sinh tồn phát triển bằng trí tuệ và kỹ năng như đã thấy vào thập niên 1970. Lúc đó, sự túng bấn tài nguyên cộng với và sự đắc thắng về quân sự qua chiến thắng vang dội trước hai cường quốc đã nuôi dưỡng nên chủ nghĩa dân tộc mang màu sắc quân phiệt.

Nhật từng thán phục và học theo Trung Hoa. Khi đế quốc này bị thực dân xâu xé thì Nhật xem thường rồi, đến lúc tự tay đánh bại, càng khinh hơn. Sau cuộc chiến với nhà Thanh, Nhật gạt bỏ toàn bộ những bài học về văn minh Trung Hoa ra khỏi chương trình giáo dục và, thay vào đó, là tinh thần dân tộc và ưu thế quân sự của Nhật so với Trung Hoa. Rồi chiến thắng trước Nga khiến Nhật xem thường Tây phương để, trong khi ráo riết học hỏi kỹ thuật từ Tây phương, lại tỏ thái độ rẻ rúng, xem Tây phương là thối nát, yếu mềm, dễ mua chuộc. [9]

Nhưng Mỹ không chấp nhận hành vi thực dân, buộc Nhật phải trả vùng Mãn Châu cho Trung Quốc khiến giới cực hữu Nhật sôi lên với khuynh hướng bài Tây phương. Theo họ, Nhật đã bị kỳ thị. Theo họ, Tây phương không bao giờ công nhận vị thế cường quốc của một nước da màu. Và, theo họ, con đường duy nhất là phải tự cường về quân sự để có thể “mở rộng không gian sinh tồn” và, thế là, từ đầu thập niên 1930, nước Nhật đã biến thành một trại lính khổng lồ. Lúc này thì toàn bộ trẻ em Nhật, trong chương trình cưỡng bức giáo dục kéo dài 6 năm cho bậc tiểu học, đều bị huấn nhục để trở thành những chiến binh với 400 giờ quân sự nghiêm nhặt, ở đó những học sinh yếu đuối, không đủ phẩm chất của người lính tương lai, sẽ bị hành hạ và sỉ nhục không nương tay. [10]

Trường học đã vậy thì các trại lính còn cứng rắn và khắc nghiệt như thế nào? Chưa kể tác động của hệ thống truyền thông một chiều, bị kiểm duyệt gắt gao nên, hệ quả, đến đầu thập niên 1940, thế giới lại chứng kiến một đội quân Thiên hoàng tàn bạo và man rợ, chỉ biết có lệnh trên, phải chiến thắng, thất bại là chết.

Chỉ có đầu tư đâu một thập niên để tuyên truyền và huấn nhục mà Chủ nghĩa quân phiệt Nhật đã xây dựng nên một đạo quân man rợ đến như vậy thì đội quân bành trướng kia, với một lịch sử lâu dài như thế, với chính sách kiểm soát và nhồi nhét tư tưởng lớp lang như thế, sẽ còn man rợ đến nhường nào khi nhân danh sự sống còn của mình với những “lợi ích cốt lõi”?

Chính vì “lợi ích” đó mà, tháng Bảy năm 2010, Dương Khiết Trì, nguyên Ngoại trưởng Trung Quốc, huỵch toẹt tuyên bố trong hội nghị của ASEAN tại Hà Nội rằng “Trung Quốc là nước lớn, các nước khác là nước nhỏ, và đó là thực tế” và, sự trịch thượng này, xét cho cùng, cũng chỉ là bước đi tiếp tục của truyền thống “phi nhân hóa” láng giềng, xem là man di, mọi rợ. [11] Mà đó cũng không phải là chuyện cá nhân, đơn lẻ bởi, chưa đầy ba năm sau, tháng 12 năm 2013, nguyên Ngoại trưởng Vương Nghị lại hành xử thô bạo khi gặp với nguyên Ngoại trưởng Úc Julie Bishop mà, theo một nhà ngoại giao Úc, là hành vi “thô lỗ” ông ta được chứng kiến lần đầu sau 30 năm hành nghề. [12]

Sự hách dịch của Trì, Nghị này có khác gì cái cảnh hách dịch của “sứ ngụy” mà Trần Hưng Đạo từng ghi lại trong Hịch tướng sĩ vào thế kỷ 13: “đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình”? Nếu những kẻ được đào tạo và trả lương để làm những nhà ngoại giao lịch lãm và mềm mỏng mà có thể thô bạo đến thế thì, với những kẻ được đào tạo và trả lương để bắn giết, có gì mà chúng “không thể” trong cái nghề của mình?
Viết về đạo quân ấy, vào thế kỷ 15, Nguyễn Trãi đã diễn tả là  “Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán” và,  đến bây giờ, vẫn là cái sự tham lam “bấy no nê chưa chán” ấy. Đã chai mặt “há miệng” đòi dây máu ở Bắc cực, còn “nhe răng” đòi chia phần ở Nam cực thì, có thứ gì mà chúng không làm với cái gọi là “lợi ích cốt lõi” ở Biển Đông, cũng là không gian sinh tồn của dân tộc chúng ta?

Nghĩa là chúng ta, như một dân tộc, phải sáng suốt trong mọi quan hệ và phải sẵn sàng cho kịch bản xấu nhất!
 
Tham khảo:
1.         Troubled Waters, chương trình Four Corners của Đài truyền hình quốc gia Úc (ABC):
https://help.abc.net.au/hc/en-us/articles/10570000938127-Four-Corners-Troubled-Waters-Monday-2-September
2.         Robert B. Edgerton, (1997) Warriors of the rising Sun – A history of the Japanese Millitary, W.W Norton & Company Inc, New York.
3.         Edgerton, sđd, trang 14
Theo Edgerton thì những tường thuật về biến động Nghĩa Hòa Đoàn (Boxer uprising) trước đây đều phiến diện, một chiều, phải đợi đến những nghiên cứu từ thập niên 1990. Như vậy những gì trình bày trong sử sách Việt Nam đều không đầy đủ.
4.         Edgerton, sđd, trang 48
5.         Edgerton, sđd, trang 66
6.         Edgerton, sđd, trang 17
7.         Edgerton, sđd, trang 176
8.         Edgerton, sđd, trang 320
9.         Edgerton, sđd trang 306.
10.       Edgerton, sđd trang 308.
11.       https://www.hoover.org/research/beijings-view-world
12.   https://www.smh.com.au/politics/federal/chinas-rebuke-of-julie-bishop-rudest-conduct-seen-in-30-years-says-senior-foreign-affairs-official-20140227-33jid.html 
 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.