Hôm nay,  

Jean-Michel Basquiat, Hoạ Sĩ Bậc Thầy Mỹ

03/10/201800:00:00(Xem: 4911)
Thành Lacey ST

 
Jean-Michel Basquiat là một họa sĩ thuộc trường phái Tân – Ấn Tượng của thập niên tám mươi.  Anh nổi tiếng nhất qua lối vẽ “nguyên thủy, thô sơ”  và về sự hợp tác của anh với danh hoạ, pop artist Andy Warhol.  Ta thử tìm hiểu qua về cuộc đời của một họa sĩ vào bậc thầy lại yểu mạng này của Hoa kỳ.

J. M. Basquiat sinh ngày 22  tháng Mười Hai, năm  1960 tại Brooklyn, New Yrok.  Anh được chú ý qua những lối vẽ xịt sơn trên tường dưới danh hiệu là “SAMO”  tại New York city.  Trước khi nổi danh, anh bán áo thun và bưu thiếp có vẽ tranh ảnh của mình.  Sau đó anh hợp tác với danh hoại sĩ danh tiếng là Andy Warhol vào giữa những năm tám mươi với những triển lãm chung của hai người.  Basquait chết ngày 12 tháng Tám năm 1988 tại New York City vì dùng thuốc quá liều khi mới hai mươi bảy tuổi.

Hoạ phẩm của J.M. Basquait giá trị bao nhiêu tiền?  Trong cuộc đời hoạ sĩ của anh, giới yêu nghệ thuật không ngaị trả tới $50,000 cho một bức tranh anh hoạ.  Thật không thể tưởng tượng là năm 2017, một tỷ phú người Nhựt đã phá kỷ lục khi mua bức tựa đề “Untitled” của Basquait vẽ năm 1982 với giá làm người ta phải choáng váng trong một cuộc đấu giá của nhà bán đấu giá Sotheby với giá $110.5 triệu đô la!

Biểu tượng “cái vương miện” trong hoạ phẩm của Basquait mang ý nghĩa gì?

Trong những hoạ phẩm thời kỳ đầu, người ta chú ý thấy biểu tượng vẽ cái vương miện có hình: MM trong các hoạ phẩm của anh.  Đây là biểu tượng của anh để ca tụng người da đen về tính cách hoàng gia uy nghiêm hay như là các thánh thần.  Basquait lấy ý ở một bức danh hoạ thời cổ mà anh rất thích, trong đó có vẽ người đàn ông thuộc hàng vương gỉa đang bị tử thương và ngã gục, trên đầu có mang một vương miện.  Nói thêm về biểu hiện hình vương miện này, hoạ sĩ  Francesco Clemente cho ta biết là hình vương miện của J.M. Basquiat biểu hiện cho ba biểu tượng: thi sĩ, nhạc sĩ và nhà vô địch về quyền Anh.  Đưực đạo diễn bởi người bạn đồng nghiệp của Basquiat là Julian Schnabel, một cuốn pim nói về cuộc đời của anh tưa đề là “Basquait” ra mắt năm 1996.

Ba năm nỗ lực đưa anh đến danh vọng năm 1980 khi các họa phẩm của Basquait được đem ra trưng bày.  Hoạ phẩm và lối vẽ của anh được giới phê bình ca ngơi về sự kết hợp chữ, những biểu tượng, hình que và hình thú vật.  Chẳng bao lâu sau, tranh của anh đưực giới yêu nghệ thuật mến chuộng và sẵn sàng bỏ ra tới mức $50,000 đô la cho hoạ phẫm do tự tay anh vẽ ra.

Mối liên hệ giữa Basquait và Warhol

Vào giữa tập niên 1980, Baquait hợp tác với danh hoạ trường phái pop là Andy Warhol – xin được viết về danh hoạ Warhol ở một bài khác, ttt – và họ cùng triển lãm chung với nhau trưng bày loạt biểu ngữ tượng trưng và các hí hoạ.

Về riêng phần mình, Basquait tiếp tục trưng bày tranh của mình khắp nước Mỹ và trên thế giới.  Năm 1986, anh du hành qua Phi châu để trưng bày tranh tại Ivory Coast.  Cùng năm đó, chàng hoạ sĩ 25  tuổi này trưng bày gần 60  bức tranh tại phòng triển lãm danh tiếng ở Hanover, Đức quốc và là một hoạ sĩ trẻ tuổi nhất trưng bày tranh tại đây.


Thuở thiếu thời:

J.M. Basquiat sinh tại Brooklyn, New York ngày tháng Mười Hai, năm ///.  Cha của anh là người Mỹ gốc Haiti, mẹ là người gốc Puerto Rico, di sản đa dạng về văn hoá này là nguồn của nhiều cảm hứng nghệ thuật của anh.  Anh tự học vẽ và vẽ từ hồi còn nhỏ trên những mảnh giấy mà cha mình đem về từ văn phòng làm việc kế toán của ông.  Khi thấy con mình đam mê hội hoạ, mẹ anh hết lời khuyến khích anh theo đuổi tài năng của mình.

Người ta bắt đầu chú ý đến anh với những hình vẽ bằng sơn xịt graffiti ở New York vào cuối những năm 1970, dưới hoạ danh là “SAMO”.  Cùng với một bạn thân, anh vẽ hình, xịt sơn vẽ chữ lên xe điện ngầm  và trên tường các toà nhà ở Manhattan.  Năm 1977 anh bỏ học trung học trước khi hoàn tất học trình.  Để kiếm sống, anh bán áo thun và bưu thiếp do mình vẽ trên đừơng phố ở New York.  Trong phim về cuộc đời của Basquiat, cho thấy anh bị cha từ bỏ phải ra sống lang thang với một người bạn gái và dùng tài vẽ để kiếm ăn độ nhựt.  Có lúc vì không có tiền mua giấy vẽ, anh đã phải đi thu nhặt những tấm bìa cạc-tông để vẽ.  Anh vẽ rất hăng say một cách đam mê trong khi người bạn gái đi làm để nuôi anh.  Cô bạn gái kể lại trong phim là khi cô hỏi anh tại sao anh để cô phải đi làm nuôi anh vẽ thì anh trả lời là:  “Sau này khi anh nổi tiếng anh sẽ nuôi lại em.”

Bi đát ở cuối đời

Lúc danh vọng lên cao cũng là khi anh bị thảm cảnh trong đời.  Vào giữa những năm 1980, bạn bè càng lúc càng lo ngại về tật ghiền ma tuý quá mức anh bị bịnh tưởng và tự cô lập mình với thế giới chung quanh một thời gian dài.  Sau khi có bất hoà với Andy Warhol, anh không muốn liên lạc với Warhol nữa dù Warhol nhiều lần chú ý và quan tâm đến anh.  Warhol nổi tiếng trước Basquait và đã giới thiệu anh với giới hội họa. Có lần Warhol đưa Basquait đến nhà một hoạ sĩ danh tiếng thì khi thấy anh ăm mặc luộm thuộm, tóc tai rối bù  thì người này nói với Warhol:  “ Tên này là ai vậy?  Coi chừng hắn lấy trộm đó!” Lúc đó Basquait đã trở nên gìau có với tiền bán tranh của mình.  Sau khi Warhol chết, anh bị mặc cảm là do mình mà Warhol mất nên sinh ra ưu sầu, nghiện ngập.

Cố gắng để cai nghiện, anh rời New York qua Hawaii  năm 1988 và sau vài tháng trở về và nói là mình đã cai nghiện.  Không may sự thật không phải là như vậy.  Basquat chết vì dùng ma tuý quá liều tháng Tám, 1988 tại New York City.  Anh được 27 tuổi.  Dù sự nghiệp hội hoạ của anh không dài nhưng đã được công chúng thưởng lãm nghệ thuật ghi nhận là đã đem đựơc nghệ thuật của người Mỹ da đen và của Mỹ châu La tinh vào thế giới của nghệ thuật hàng ưu tú.

Sau khi chết, anh đã trở lại chói sáng vào tháng Năm, 2017 khi một tỷ phú người Nhật mua bức hoạ tựa đề “Untitled” của anh vẽ cái đầu lâu năm 1982 với giá  $110.5  đô la tại nhà đấu giá Sotheby.  Đây là gía mua cao nhất kỷ lục cho một nghệ sỹ Hoa kỳ và cho giới nghệ thuật sau năm 1980.  Đây cũng là giá cao nhất cho tranh của Basquait và vẽ bởi một nghệ sỹ da đen.

Nguồn: www.bigraphy.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.