Hôm nay,  

Một Trật tự mới cho Khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương

4/2/201810:51:00(View: 6097)

Mt Trt t mi cho Khu vc n Đ-Thái Bình Dương

Brahma Chellaney

Đ Kim Thêm dch

  

Các năng động an ninh đang thay đổi một cách nhanh chóng ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Khu vực này không chỉ là nơi xuất phát của các nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới, mà còn là nơi có những kinh phí quốc phòng gia tăng nhanh nhất và các khả năng hải quân, sự cạnh tranh khốc liệt về các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các điểm nóng chiến lược nguy hiểm nhất. Thậm chí người ta có thể nói rằng khu vực này đang giữ vai trò then chốt cho an ninh toàn cầu.

Việc sử dụng thuật ngữ "Ấn Độ-Thái Bình Dương" ngày càng gia tăng - nó đề cập đến tất cả các nước có biên giới với Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương - không phải là "Châu Á-Thái Bình Dương", nhấn mạnh đến khía cạnh hàng hải của các căng thẳng hiện nay. Các đại dương ở châu Á ngày càng trở thành một đấu trường cạnh tranh về nguồn lực và ảnh hưởng. Hiện nay có vẻ như là trong tương lai các khủng hoảng thuộc khu vực sẽ thành hình và/hoặc được giải quyết trên biển.

Tác lực chính của sự thay đổi này là Trung Quốc. Trong năm năm qua, Trung Quốc đã đẩy biên giới của mình ra xa khỏi lãnh hải quốc tế bằng cách xây các hòn đảo nhân tạo ở Biển Đông. Khi đã quân sự hoá các tiền đồn này - được xem như là một sự kiện đã rồi đối với thế giới - thì giờ đây Trung Quốc đã chuyển tập trung sang hướng Ấn Độ Dương.

Trung Quốc đã lập một căn cứ quân sự đầu tiên ở Djibouti, gần đây họ đã chiếm cảng chính của Djibouti từ một doanh nghiệp có trụ sở đặt tại Dubai, có thể là do doanh nghiệp này giao cho Trung Quốc. Hơn nữa, Trung Quốc đang có kế hoạch mở một căn cứ hải quân mới thuộc cảng Gwadar ở cạnh biên giới Pakistan do Trung Quốc kiểm soát. Trung Quốc đã thuê một số hòn đảo còn tranh chấp ở Maledives, nơi tập trung xây dựng một đài quan sát hàng hải. Đài này cung cấp dữ liệu cho phép huy động các tàu ngầm tấn công bằng vũ khí hạch tâm (SSNs) và tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo có trang bị vũ khí hạch tâm (SSBNs) tại Ấn Độ Dương.

Tóm lại, Trung Quốc đã biến đổi quan cảnh chiến lược của khu vực chỉ đúng trong năm năm. Nếu các cường quốc khác không can thiệp trước những thách thức đối với việc duy trì nguyên trạng về hàng hải và lãnh thổ, thì trong năm năm tới, họ có thể cố thủ trước những lợi thế chiến lược của Trung Quốc. Kết quả có thể là một trật tự khu vực bá quyền độc đoán do Trung Quốc lãnh đạo sẽ chiếm ưu thế, đó là một caí giá mà hầu hết các nước trong khu vực ủng hộ cho một trật tự dựa trên các luật lệ tự do phải trả. Đứng trước một trọng lực kinh tế của khu vực, điều này sẽ tạo ra những rủi ro đáng kể cho thị trường toàn cầu và an ninh quốc tế.

Để giảm nhẹ mối đe dọa này, các nước trong khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương phải đối mặt với ba thách thức chính, bắt đầu với khoảng cách ngày càng rộng giửa chính trị và kinh tế. Mặc dù thiếu hội nhập chính trị và không có một khuôn khổ an ninh chung ở Ấn Độ-Thái Bình Dương, các hiệp định thương mại tự do đang tăng lên, mới nhất là Hiệp định Toàn diện và Tiến bộ cho Quan hệ Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Trung Quốc nổi lên như là đối tác thương mại hàng đầu của hầu hết các nền kinh tế trong khu vực.

Tuy nhiên, chỉ riêng sự bùng nổ thương mại không thể giảm được những rủi ro chính trị. Điều đó đòi hỏi một khuôn khổ của các quy tắc và các luật lệ chung và có hiệu lực thi hành. Đặc biệt nhất là tất cả các nước phải đồng ý tuyên bố hoặc làm rõ các yêu sách lãnh thổ hoặc hàng hải trên cơ sở luật pháp quốc tế và giải quyết tranh chấp bằng các phương tiện hòa bình - không bao giờ bằng vũ lực hoặc ép buộc.

Thiết lập một khuôn khổ cho khu vực nhằm củng cố tinh thần trọng pháp sẽ đòi hỏi những tiến bộ để vượt qua thách thức thứ hai: vấn đề lịch sử của khu vực. Các tranh chấp về lãnh thổ, tài nguyên thiên nhiên, các tưởng niệm trong chiến tranh, khu vực phòng không, và sách giáo khoa đều được liên kết nhau theo một cách này hay cách khác với các tự truyện thuộc về lịch sử đối kháng nhau. Kết quả là cạnh tranh và củng cố các tinh thần dân tộc sẽ gây an nguy cho tương lai của khu vực.

Quá khứ tiếp tục soi sáng mối quan hệ giữa Hàn Quốc và Nhật Bản - các đồng minh thân cận nhất của Mỹ ở Đông Á. Về phần Trung Quốc, họ sử dụng lịch sử để biện minh cho các nỗ lực để cải thiện hiện trạng lãnh thổ và hàng hải và bắt chước các cuộc tàn sát như thực dân trước năm 1945 của nước Nhật đối nghịch. Tất cả các tranh chấp biên giới với 11 nước láng giềng của Trung Quốc dựa trên các yêu sách thuộc về lịch sử, không phải là do luật quốc tế.

Điều này mang lại cho chúng ta thách thức chính thứ ba đối với khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương: thay đổi các động lực hàng hải. Trong bối cảnh các luồng thương mại hàng hải gia tăng, các cường quốc khu vực đang chiến đấu để tìm cách thâm nhập, gây ảnh hưởng và lợi thế tương đối.

Ở đây, mối đe dọa lớn nhất nằm trong những nỗ lực đơn phương của Trung Quốc để thay đổi hiện trạng khu vực. Những gì mà Trung Quốc đạt được ở Biển Đông có những ý nghĩa mang tính chiến lược sâu rộng hơn và dài hạn hơn như việc Nga sáp nhập Crimea là ví dụ, vì Trung Quốc đưa ra thông điệp rằng chủ nghĩa đơn phương thách thức không nhất thiết phải quan tâm đến các hậu qủa quốc tế.

Thêm vào những thách thức mới là tình trạng biến đổi khí hậu, đánh bắt cá quá mức và suy thoái các hệ sinh thái biển với sự xuất hiện của các nhà hoạt động trên biển không thuộc về nhà nước, thí dụ như cướp biển, khủng bố và các tổ chức tội phạm-và môi trường an ninh khu vực ngày càng trở nên đầy lo âu và bất trắc. Tất cả những điều này làm tăng nguy cơ chiến tranh, dù là tình cờ hay cố ý.

Như trong bản tường trình gần đây nhất về Chiến lược An ninh Quốc gia Hoa Kỳ đưa ra: "Một cuộc cạnh tranh về địa chính trị giửa hai viễn kiến tự do và áp chế của một trật tự thế giới đang diễn ra ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương". Tuy nhiên, khi các cường quốc trong khu vực đồng ý rằng một trật tự dựa trên luật lệ và cởi mở được yêu chuộng hơn là bá quyền Trung Quốc, cho đến nay họ đã thực hiện quá ít để thúc đẩy sự hợp tác.

Không có nhiều thời gian để lãng phí. Các cường quốc thuộc khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương phải có hành động mạnh mẽ hơn để tăng cường ổn định khu vực, nhắc lại cam kết của họ về các tiêu chuẩn chung, không kể tới luật quốc tế và tạo ra các thể chế vững chắc.

Để bắt đầu, Úc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hoa Kỳ phải tạo tiến bộ trong việc thể chế hoá Đối thoại về An ninh cho Tứ cường, để họ có thể phối hợp tốt hơn các chính sách và theo đuổi hợp tác rộng hơn với các đối tác quan trọng khác như Việt Nam, Nam Dương và Hàn Quốc cũng như với các quốc gia nhỏ hơn.

Về mặt kinh tế và chiến lược, trung tâm của trọng lực toàn cầu đang chuyển sang khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Nếu các tác nhân trong khu vực không hành động ngay từ bây giờ để củng cố một trật tự dựa trên luật lệ và tự do, thì tình hình an ninh sẽ tiếp tục xấu đi - với những hậu quả có thể sẽ gây tiếng vang liên tiếp trên toàn thế giới.                   

***

Brahma Chellaney là Giáo sư Nghiên cứu Chiến lược thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách tại New Delhi và Chuyên gia của Học viện Robert Bosch ở Berlin. Ông là tác giả của chín tác phẩm, trong số này có Asian JuggernautWater: Asia’s New Battleground và Water, Peace, and War: Confronting the Global Water Crisis.

Nguyên  tác: A New Order for the Indo-Pacific

https://www.project-syndicate.org/commentary/china-indo-pacific-security-framework-by-brahma-chellaney-2018-03

 

 



Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.