Hôm nay,  

Làm gì cho hết nửa đời sau

20/12/201709:32:00(Xem: 8626)

Làm gì cho hết nửa đời sau

Gửi người ra đi: Lê Khắc Lý.                                                               
Thân gửi các bạn, bằng hữu và chiến hữu xa gần.

 Chúng tôi có người bạn cùng khóa Cương Quyết số 2. Đại tá Lê khắc Lý đại diện đồng khóa bên Thủ Đức tại Nam CA. Tôi là đại diện đồng khóa bên Đà Lạt. Anh Lý mới ra đi. Xin báo tin các bạn rõ, cùng lời chia buồn cùng tang quyến.  Ngay khi được tin bạn Lý ra đi, tôi có viết bài tâm sự đã gửi đi bốn phương nhưng dường như máy móc bị sai lầm nên nhiều bạn không đọc được. Bài viết này là tâm sự chung của chúng tôi. Cùng tuổi với anh Lý. Cũng bỏ nước hơn 40 năm qua.
blank

Bạn Lê khắc Lý 

Thời kỳ 75 có mặt ở Hoa Kỳ, trong miền đau thương vong quốc đã tự hỏi:         
Ta biết làm gì cho hết nửa đời sau.
                                                     
Ở Cần Thơ, chiều 30 tháng tư, ông tướng Nam tư lệnh vùng 4 đã tự hỏi: Đi để làm gì. Ông không đi. Sáng 30 tháng tư-1975, ông chọn con đường tuẫn tiết.                                                          
Còn chúng tôi, đám người ra đi từ 1975. Sau hơn nửa thế kỷ, nếu còn quanh đây, hãy ngồi xuống để suy nghĩ xem ta đã làm gì cho hết nửa đời sau.  Nước mất nhà tan. Đơn vị chẳng còn. Xem ra tình anh em chỉ còn các kỳ họp khóa. Đám chạy thoát còn làm được việc vận động thả tù và gửi quà vào trại. Khi anh em bắt đầu tự do bèn gửi tiền lập hồ sơ HO và Sài Gòn bắt đầu họp khóa. Tôi gửi kém 4 hình họp khóa tại Sài Gòn và Hoa Kỳ sẽ thấy sự khác biệt qua thời gian. 
Xin các bạn đọc bài Họp Khóa 2 người và cho chúng tôi biết là đã nhận được chưa. Là lớp tuổi trẻ Việt Nam sau đệ nhị thế chiến, chúng ta có 2 câu hỏi cần ghi lại; Ngày 30 tháng tư 75, bác ở đâu. Nếu bác đến được miền đất tự do sau 75, bác đã làm gì cho hết nửa đời sau.

 Xem bài viết dưới đây. Cảm ơn.
 

Họp khóa 2 người.
Giao Chỉ, San Jose.
Gửi người ở lại: Đỗ hữu Nhơn.

Tối chủ nhật vừa qua tại San Jose, chúng tôi có dịp tham dự tiệc ra mắt của đôi trẻ mới thành hôn. Chàng trai là cháu đích tôn của bác Đỗ Hữu Nhơn. Cô dâu là nữ bác sĩ. Nhưng chúng tôi không kể chuyện đám cưới. Dù rằng hai họ rất vui vẻ hạnh phúc. Chỉ xin ghi chuyện bên lề rằng gia đình họ Đỗ của bác Nhơn hiện là một trong số nhiều người đóng góp cụ thể và hữu hiệu vào việc trùng tu Nghĩa trang Biên Hòa. Rất âm thầm nhưng tận tụy như theo lời khấn nguyện thiêng liêng. Năm 2020 sẽ hy vọng hoàn tất vòng đầu tất cả các ngôi mộ. Xin tạm ngưng và trở lại chuyện chính. Ngồi trong tiệc vui, tôi nghĩ về thời tuổi trẻ. Suy nghĩ về chuyện hai anh bạn già chúng tôi 63 năm trước. Anh Đỗ Hữu Nhơn gốc Bắc Kỳ, cha mẹ lập nghiệp ở Quảng Nam. Năm 1954 thanh niên miền Trung và miền Nam động viên vào Thủ Đức. Khóa Tư Phụ, được đặt tên theo khóa chính là Cương Quyết. Cũng vào tháng 3 năm 1954 một đám thanh niên Hà Nội, trình diện trại Ngọc Hà. Cũng theo lệnh động viên xếp vào khóa Tư Phụ . Bọn tôi Bắc Kỳ được đưa vào học trường Đà Lạt. Đang học nửa chừng thì Tây thua trận Điện Biên Phủ. Chúng tôi ra trường tháng 10 năm 1954, Genève đã cưa đôi đất nước. Tuổi 20 gấp sách lại đứng nghe, lòng mới nở giữa tay đời ấm áp. Văn thơ của ai mà tôi vẫn còn nhớ suốt cả đời. Nhưng lời ca của Anh Bằng sửa lại thì rất não nùng. Tháng 3-1954...Tôi xa Hà Nội năm lên 18 chưa từng biết yêu...                                                       

Chúng tôi thành các sĩ quan trẻ tuổi trong thời đình chiến vàng son của đệ nhất cộng hòa. Qua đến kỳ cộng hòa thứ hai thì mới giáp mặt đau thương của cuộc chiến điêu linh trong các chiến trường tồi tệ. Rồi Mậu Thân, rồi mùa hè đỏ lửa. Rồi tan hàng. Kẻ chạy thoát, người cầm tù. Tiếp theo là vượt biển và HO.          


blank
01-Hop khoa Sai Gon 1985

blank02-Hop khoa Sai Gon 1989

blank03-Hop khoa Hoa K_ 2000

blank04-Hop khoa 2004


Tháng 4- 1975... Bao nhiêu mộng đẹp, tan ra thành khói,  bay theo mây chiều...                                                                                   
Năm 2004 Cương Quyết Đà Lạt tổ chức 50 năm họp khóa ngậm ngùi tại quận Cam. Cương Quyết Thủ Đức có đại tá Lê Khắc Lý đại diện tham dự. Chúng tôi hẹn nhau kỳ tới ta làm đại hội Cương Quyết Thủ Đức Đà Lạt tại San Jose. Tại sao Sinh viên sỹ quan của 2 quân trường khác tên và không quen biết có thể họp mặt với nhau. Tại sao ngọn núi Lâm Viên lại chơi với đồi Tăng nhân Phú. Bởi vì anh em không có chương trinh bầu chủ tịch tổng hội hay liên hội. Chúng tôi cùng biết mình đã già rồi. Hạ thấp các mục tiêu đại hội đội đá vá trời. Chỉ quan hôn tang tế cũng đủ mệt. Vì vậy họp mặt thành công nhưng báo cáo không có tĩnh từ rực rỡ. Ngày đó coi như lần duy nhất Thủ Đức gặp Đà Lạt. Anh emThủ Đức  khóa Tư Phụ tại Bắc CA gần đủ mặt. Ngoài Lê Khắc Lý lại có thêm đại tá một thời chỉ huy trưởng quân cảnh cùng tham dự. Cương Quyết Đà Lạt từ quận Cam lên rất đông. Chị Lê Xuân Định đưa cả xe lăn cho chàng lên máy bay. Giờ khai mạc Thủ Đức và Đà Lạt mỗi bên đều có xe lăn hiện diện. Phe Thủ Đức Đỗ Hữu Nhơn và Lê Khắc Lý luôn luôn là những tay hùng biện từ đất Quảng mà vào đến Thừa Thiên. Bên Đà Lạt chị Nguyễn Thế Thứ thay mặt phu quân để nói đôi lời tâm sự. Anh chị Ngô Quang Thiều dường như vẫn còn mãi mãi đứng bên nhau. Chúng tôi hẹn nhau rằng Cương quyết Thủ Đức Đà Lạt sẽ tiếp tục gặp nhau. Nào ai ngờ quả thực lực bất tòng tâm. Hơn 10 năm qua không có dịp. Ngày cuối năm 2017 tôi ngồi cạnh anh chị Đỗ Hữu Nhơn, ngó tới ngó lui chúng tôi trở thành đêm họp khóa chỉ có 2 người. Cả hai bên Thủ Đức và Đà Lạt trong 10 năm qua ra đi cũng khá nhiều. Nói đến anh em miền Bắc, anh Nhơn lắc đầu báo cáo rằng ra đi không nhớ hết. Ở miền Nam, Lê Khắc Lý tin rằng tháng nào cũng có tổn thất. Riêng phần Đà Lạt chúng tôi, năm nào cũng là năm biệt ly. Không những một người đi mà lần lượt đi cả hai người. Anh chị bác sĩ Nguyễn Thế Thứ ra đi ở San Jose. Anh chị Ngô Quang Thiều ra đi ở Nam CA. Qua đến chiều thứ ba ngày 12 tháng 12-2017 vừa có tin Lê Khắc Lý ngủ giấc ngàn thu sẽ không bao giờ họp khóa. Chúng tôi có 20 năm làm tuổi trẻ và 20 năm trong nghiệp binh đao. Còn sống đến ngày nay anh nào cũng đã ngoài 80 tuổi. Sinh ký, tử quy. Sống gửi thác về. Đâu có điều gì lạ lùng khác biệt. Suốt cuộc đời cố sống sao cho đúng lời nguyện ước. Những mái đầu cất cao, không một lời than thở. Mấy năm đầu đến Mỹ, cuối thập niên 70,  Cao Tần, Lê tất Điều viết một lời thơ vô cùng cảm khái. Ta biết làm gì cho hết nửa đời sau. Bây giờ nửa đời sau đã hết. Cả hai chúng tôi, tôi và bác Đỗ hữu Nhơn ngồi trong lễ tiệc bước lên sân khấu khó khăn. Tuyên bố đôi điều lảm nhảm. Khi hai anh già đi xuống , đám trẻ xúm lại cầm tay xốc nách sợ các VIP té nhào. Tự biết là giờ hoàng hôn đã điểm. Nếu phút cuối đến từ trên đầu đánh xuống như Lê Khắc Lý, ngủ qua một đêm mà không đón chào bình minh. Có thể chàng ra đi khi trời vừa sáng. Nếu thú đau thương của tôi đến từ chân. Sẽ còn khập khiễng với cuộc đời vài năm có lẻ. Chàng sẽ đi chơi với cây gậy một chân như cấp chỉ huy, xem ra vẫn còn phong độ. Khi phải di chuyển bằng gậy 4 chân thì thà ngồi xe lăn cho khỏe. Nhưng vẫn còn công tác và sẵn sàng đón chờ màn cuối của cuộc đời. Bốn mươi hai năm trước, ngày 30 tháng tư ở Cần Thơ. Ông tướng Nguyễn Khoa Nam kêu tùy viên gọi tỉnh trưởng . Tùy viên báo cáo ông tỉnh đi rồi. Tướng Nam nói như tự hỏi lòng. Đi rồi, đi làm gì? Câu trả lời thật lòng của người ra đi chắc phải nói là đi để chạy trốn cuộc đời tù tội. Bây giờ nếu gặp lại ông tướng tuẫn tiết anh hùng, vẫn hỏi rằng các cậu đi làm gì ? Chúng ta có thể ngồi xuống kể lại là đã làm những gì cho hết nửa đời sau...

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.