Hôm nay,  

Cuộc Hội Ngộ Của Những Người Lính Muôn Năm Cũ Thuộc 3 Sư Đoàn Bộ Binh Vùng Giới Tuyến

8/26/201600:00:00(View: 8299)

Vào ngày Chủ nhật đầu tiên của tháng 9 năm 2016, tại quận Cam miền Nam Cali, đông đảo cựu quân nhân của 3 Sư đoàn Bộ Binh: 1, 2 và 3 của Vùng giới tuyến (Quân khu 1) đang cư ngụ tại Hoa Kỳ, sẽ có dịp hội ngộ sau hơn 41 năm xa cách. Cuộc hội ngộ hiếm hoi này đã được ban tổ chức gồm hơn 10 cựu sĩ quan của 3 sư đoàn do cựu Đại tá Lê Bá Khiếu, từng giữ chức các chức vụ quan trọng như: Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4/Sư đoàn 2 Bộ binh, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Quảng Ngãi, làm trưởng ban, đã chuẩn bị chu đáo từ hơn 4 tháng trước. Với những nỗ lực ở mức cao nhất của các thành viên trong ban tổ chức, từ sự tự nguyện ủng hộ hiện kim để có tiền chi phí cho những công việc cần thiết, cho đến việc sắp xếp thời gian vận động trên các hệ thống truyền thông, cũng như liên lạc với các chiến hữu qua điện thoại và điện thư, đến ngày 25 tháng 8/2016, đã có hàng trăm cựu quân nhân của ba sư đoàn ghi tên tham dự, trong đó có nhiều cựu quân nhân từ các tiểu bang xa về, được ban tổ chức trù liệu sắp xếp xe đưa đón tại phi trường và bố trí nơi ở trong thời gian tham dự cuộc hội ngộ. Một số người với lý do gia dình và sức khỏe, tuy không có mặt trong ngày hội ngộ, nhưng đã gửi hiện kim ủng hộ việc tổ chức.

Cũng cần ghi nhận rằng trong cuộc hội ngộ của những người lính muôn năm cũ từng phục vụ tại 3 sư đoàn 3 Bộ binh của Vùng giới tuyến, cấp bậc từ thiếu úy, trung úy đến trung tá, đại tá, thì những cựu quân nhân nhỏ tuổi nhất cũng đã trên 60, và cựu quân nhân cao niên cũng đã trên 80, tuổi trung bình khoảng từ 70-75. Rất nhiều cựu quân nhân dự cuộc hội ngộ này đã từng phục vụ tại 2 trong 3 sư đoàn, có một số người đã có vinh dự được chiến đấu tại cả 3 sư đoàn theo trình tự: ngày rời quân trường, được phân phối về Sư đoàn 2 Bộ Binh; sau đó thuyên chuyển về Sư đoàn 1 Bộ Binh, và khi Sư đoàn 3 Bộ Binh được thành lập vào tháng 10 năm 1971, lại được tuyển chọn bổ sung cho các tiểu đoàn, trung đoàn của Sư đoàn này. Ngược lại, cũng có những cựu quân nhân đã khởi đầu đời quân ngũ tại Sư đoàn 1 Bộ binh, sau đó,thuyên chuyển về Sư đoàn 2 Bộ binh và cuối cùng là Sư đoàn 3 Bộ Binh với những cuộc hành quân dọc chiều dài của vùng đất miền Trung từ Quảng Ngãi, Quảng Tín, rồi qua Quảng Nam, vượt đèo Hải Vân, ra đến Thừa Thiên, rồi Quảng Trị.

Tại các quân đoàn-quân khu khác, do đặc điểm về địa lý và tình hình về lực lượng địch quân, vùng hoạt động của các sư đoàn Bộ binh được phân nhiệm tại nhiều tỉnh (từ 3-4 đến 5-6 tỉnh), nên nỗ lực chính của các sư đoàn này tập trung tại vài tỉnh trọng yếu, những tỉnh còn lại hầu như ủy thác cho lực lượng diện địa và các liên đoàn Biệt động quân của Quân khu. Thêm vào đó, một số sư đoàn, do tình hình chiến sự và sự điều động của Bộ Tổng Tham Mưu, đã thay đổi vùng hoạt động qua từng thời kỳ, nên sự gắn bó giữa sư đoàn và địa phương không có sự lâu bền. Trong khi đó, Sư đoàn 1, 2 Bộ Binh đã có những gắn bó “thủy chung” với các địa phương ngay từ khi thành lập vào năm 1955, riêng với Sư đoàn 3 Bộ Binh tuy thành lập sau cùng vào tháng 10/1971, và sau cuộc triệt thoái khỏi Quảng Trị, từ giữa năm 1972, đã xem khu vực Quảng Nam- Đà Nẵng như là “quê hương thời binh lữa”. Ngoài ra, giữa 3 sư đoàn đã có những gắn bó thân thiết qua những lần tăng phái, yểm trợ cho nhau, nhiều và nhiều lắm, xin ghi lại vài sự kiện xảy ra trong năm 1972 và 1974.


Trong cuộc chiến Mùa Hè 1972, sau khi Sư đoàn 3 Bộ Binh triệt thoái khỏi phòng tuyến Quảng Trị, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 với tân tư lệnh là Trung tướng Ngô Quang Trưởng, từ Quân đoàn 4, trở lại miền Trung, đã điều động Trung đoàn 4 Bộ Binh của Sư đoàn 2 Bộ Binh tăng cường cho chiến trường Thừa Thiên, phụ trách phòng thủ Tây Bắc Huế, nằm giữa khu vực trách nhiệm của Sư đoàn 1 Bộ Binh và Sư đoàn Thủy quân Lục chiến. Rồi từ giữa năm 1972, khi Sư đoàn 3 Bộ binh tái phối trí hoạt động tại Quảng Nam, có một khoảng thời gian, theo kế hoạch của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1, một trung đoàn của Sư đoàn 2 Bộ Binh được tăng phái cho Sư đoàn 3 Bộ binh hành quân tại vùng cao sơn tỉnh Quảng Nam.

Trong mùa thu 1974, khi chiến trường Quảng Đà sôi động, Trung đoàn 54 Bộ binh của Sư đoàn 1 Bộ binh đã được tăng phái cho Sư đoàn 3 Bộ binh hơn một tháng.

Thêm một điều đặc biệt nữa là cả 3 sư đoàn Bộ Binh đã chia nhau trách nhiệm phòng thủ dọc chiều dài của 5 tỉnh cực Bắc miền Trung Việt Nam Cộng Hòa, và - các đơn vị của 3 sư đoàn này là hình ảnh của sự bảo bọc, che chở người dân địa phương.

Gặp lại nhau sau hơn 41 năm giã từ quân ngũ, những người lính “muôn năm cũ” có không biết bao nhiều điều để kể cho nhau nghe. Chuyện về những đồng đội kẻ còn, người mất; chuyện về những trận đánh đã đi vào chiến sử mà tuổi trẻ của họ đã gắn liền với từng ngọn đồi, khe suối, dòng sông của các tỉnh thuộc Vùng 1 giới tuyến.

Hồi ức của những cựu binh này nhớ lại ngày tháng cũ: Khi tổ quốc gọi tên, họ đã trả lời có mặt, và đã hiến dâng cho đất nước cả tuổi thanh xuân hào hùng. Đến khi tóc xanh đã đổi màu, họ lại có dịp gặp nhau trong buổi hội ngộ đầy tình nghĩa huynh đệ chi binh.

Trong dòng cảm xúc, bồi hồi, họ hẹn nhau cùng về quận Cam trong ngày hội ngộ, mà theo chương trình, ban tổ chức chọn ngày 4 tháng 9, 2016 làm ngày hội ngộ đầu tiên tại nhà hàng Mon Cheri, 12821 Harbor Blvd, Suite H-1B, thành phố Garden Grove, CA 92840, thời gian từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều.Trước đó, vào lúc 9 giờ sáng, các cựu quân nhân của 3 sư đoàn sẽ tập trung tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ để đặt vòng hoa tưởng niệm. Mọi liên lạc ghi danh tham dự xin gọi cho các vị sau đây:

SĐ 1: Nguyễn An ((714) 589-4749, Nguyễn Văn Hóa (714) 654-5643, Nguyễn Ngật (714) 829-5798, Hoàng Mão (909) 264-5811, Nguyễn Mỹ (714) 910-4467, Nguyễn Văn Tảo (714) 618-1746.

Sư Đoàn 2: Lê bá Khiếu (714) 352-9969, Nguyễn Đình Minh Hùng (714) 478-9542, Trần Bảo (714) 558-7879.

Sư Đoàn 3: Nguyễn Phước Ái Đỉnh (714) 350-8909, Nguyễn Tâm Tỷ (714) 261-8130…

Và từ sự liên lạc trên, những người lính cũ của 3 sư đoàn Bộ binh Vùng Giới tuyến hẹn gặp nhau trong ngày hội ngộ, để thấy sáng ngời cả một trời kỷ niệm của chiến trường xưa...

Cali 25 tháng Tám 2016

Vương Hồng Anh

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.