Hôm nay,  

Thái Tuấn, Người Họa Sĩ Của Những Khoảng Trống

10/21/201500:00:00(View: 6164)

Tháng chín, trăng thu về vằng vặc, đẹp trội, sáng hơn bao giờ, soi rọi tâm tư hoài nhớ của những người tương tư cố hương. Tháng chín năm nay cũng là năm giỗ thứ 8 của hoạ sĩ Thái Tuấn, người được xem là một trong những tay cọ đã tạo nên một dấu mốc quan trọng đối với sinh hoạt hội họa ở Miền Nam Việt Nam. Người mà nhà phê bình hội hoạ Huỳnh Hữu Ủy gọi là “một bóng dáng lớn của nền nghệ thuật Việt Nam”. Vào những năm sau khi hiệp định Genève chia cắt đất nước làm hai miền được ký kết, văn học nghệ thuật miền Bắc bắt đầu chịu sự chi phối và định hướng của nhà cầm quyền. Mọi sáng tác, nghệ thuật đều bị đặt vào khuôn phép và kiểm soát với mục đích chính trị phục vụ chủ nghĩa xã hội, khiến những sản phẩm tinh thần được tạo ra trở nên nghèo nàn, đơn điệu, đồng dạng, đến buồn thảm. Trong khi ở miền nam, nhờ không khí tự do và sự khát khao đổi mới, sinh hoạt văn học nghệ thuật rực lửa hơn bao giờ hết. Bộ ba Thái Tuấn, Duy Thanh và Ngọc Dũng đã xuất hiện như một luồng gió mới của ý thức tự do sáng tạo, thổi và góp phần thành tựu cho nền mỹ thuật hiện đại Miền Nam. Vào những thập niên 60-70, nhóm Sáng Tạo và Hội Hoạ Sĩ Trẻ Việt Nam ra đời.

blank
Chân dung tự hoạ, 1960 (Sáng Tạo bộ mới, Sài Gòn)

Tên thật của Thái Tuấn là Nguyễn sinh Công. Sinh 1918 tại Hà nội. Theo học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương, rồi bỏ dở. Sau hiệp định Genève 1954, ông cùng gia đình vượt tuyến vào Nam, sống bằng nghề vẽ quảng cáo vào những năm 1955- 1956. Triển lãm đầu tiên của ông vào 1958 ở Pháp văn đồng minh hội, gồm 40 họa phẩm sơn dầu. Những bức tranh như, Người Thiếu Phụ Cầm Quạt, Lễ Phục, Thôn Nữ, Người Phu Trạm… được nhắc nhở nhiều đến trong cuộc triển lãm như một đặc trưng của nỗi lòng tư hương. Sau này trong hầu hết những tác phẩm khác, ý niệm hoài hương vẫn bàng bạc trong tranh ông, từ Bắc vào Nam, từ Việt qua Pháp. Ngoài việc vẽ tranh, Thái tuấn còn là một nhà nhận định và phê bình mỹ thuật xuất sắc nhất Sài Gòn thời đó. Ông thường có mặt trong các Hội đồng giám khảo mỹ thuật quốc gia. Và dĩ nhiên lá phiếu của ông có tầm rất quan trọng cho các tài năng mới như Nguyễn Trung, Nghiêu Đề, Nguyễn Phước, Đinh Cường, Cù Nguyễn, Lâm Triết, Trịnh Cung... Triển lãm sau cùng của ông được tổ chức ở phòng tranh Tự do tại Sài Gòn. Ông ra đi vào ngày 26 tháng 9 năm 2007, tại chính căn nhà, nơi ông từng bắt đầu sống những ngày đầu tiên ở Sài Gòn sau cuộc di cư năm 1954.

Tháng chín, đêm xuống, gió nhớ ai, mà vườn sau, ngát hương chanh, hương bưởi. Trăng giữa mùa động tình ôm trọn bờ ngực xanh của những trái đồi xao xác đám lá uá rụng đêm. Hữu tình làm sao, người hoạ sĩ năm nào lại chọn đúng tiết thu, trăng sáng mà ra đi nhỉ? Nàng Hằng trên cao, như rực rỡ cười, chào đón người hoạ sĩ đi về chốn thâm trầm, tịnh mặc, xa cuộc đời xao động. Hay nàng vừa xuống trần gian mà lung linh bước vào tranh Thái Tuấn như những ngày tháng cũ? Phải nói là những người thiếu nữ trong tranh Thái Tuấn có một nét u mặc, mơ huyền, dịu dàng, đằm thắm, vừa xa vắng, mông lung, vừa như ẩn như hiện tựa vầng trăng.

blank
Khăn Quàng, Sơn Dầu, 1992.

Sống trong thời đại kỹ thuật cao với khối óc người thưởng ngoạn mở rộng nhờ liên mạng và máy vi tính ngày nay, có lẽ hơi khó cho chúng ta trở về thời điểm năm mươi mấy năm xưa để sống cái không gian mà những người hoạ sĩ tiền phong Thái Tuấn đã sống. Xem tranh Siêu thực của Salvador Dali, Frida Kahlo hiện đại, chúng ta nhớ tới cội nguồn tranh biểu hiện Cezanne, Van Gogh. Xem tranh của Thái Tuấn để hay, để biết về một cột mốc quá khứ của mỹ thuật Việt Nam ngày xưa cũng là một nhắc nhớ rất gợi hình. Đặc biệt là tranh thiếu nữ của ông.

Hầu như tất cả các nam hoạ sĩ, ai cũng có tranh vẽ thiếu nữ. Thái Tuấn không ngoại lệ. Người phụ nữ Việt Nam đặc trưng có mặt trong tranh ông, lại nhiều hơn bao giờ hết. Họ thường xuất hiện trực diện, một mình, với một vài nét phác, đôi mắt, cái miệng, mái tóc và phần lớn không gian còn lại chừa cho màu sắc và tà áo cùng dáng dấp làm chủ. Ông chuộng màu xanh (yên bình, trang nghiêm), xám(tĩnh lặng, ôn hoà), và những màu buồn, như trong bức này. Người thiếu nữ mặc áo dài đứng trước gió(chân dung Khánh Ly), màu xám của lá và màu xanh của nền tranh làm nổi bật màu trắng tinh khiết(gợi sự quyền uy) của chiếc áo và viền sọc đen của chiếc khăn quàng. Có vẻ như Thái Tuấn thích khăn quàng, tôi bắt gặp khăn quàng hiện diện trong tranh ông, ít nhất là 9,10 bức. Chiếc khăn quàng bằng lụa hay len là một vật làm dáng rất được ưa chuộng ở phương Tây được du nhập vào Việt Nam. Trong nghệ thuật tạo hình, nó cũng là biểu tượng của sự thanh lịch, trữ tình và nhất là sự linh động khi bay. Khí lạnh của Hà Nội, Thanh Hoá, Orléans (Pháp), trong những nơi ông đã sống qua cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tranh ông. Sự giao duyên văn hoá giữa Âu và Á thể hiện đều đặn như nét đẹp và buồn lãng mạn(Romanticism) phảng phất đâu đó trong tranh biểu hiện(expressionism) của ông. Ông đã cô đọng hết tinh túy Á Đông vào hội hoạ Tây Phương để hình thành một phong cách riêng và trung thành với một lối vẽ trong suốt một đời cầm cọ, cho tới khi nhắm mắt.

Em tôi đi
Màu son lên đôi môi
Khăn san bay
Lả lơi trên hai vai. Gởi người em gái/Đoàn Chuẩn-Từ Linh

blank
Thiếu nữ, 1992.

Chiếc khăn san trắng buông hờ, quàng nhẹ bên vai ngiêng đã tạo nên một dáng ngồi khoe duyên trong tà áo dài vàng nổi bật trên nền xanh của tranh vẽ. Tranh ông giản dị, người phụ nữ của ông kín đáo, đơn sơ nhưng sang cả, thùy mị, đoan trang và sâu sắc. Cô gái Hà Thành một thời, mặc áo dài, vai quàng khăn san, tóc vén mai cặp buông lơi sau lưng, dáng mảnh mai trong mưa xuân đã là giấc mơ của nhiều chàng trai Hà Thành hào hoa năm xưa. Ông đã thể hiện giấc mơ và những nét rất duyên của người con gái đất ngàn năm văn vật ngày còn vang bóng. Ông cắt nghĩa cho lối hoạ thiếu nữ của mình “Tôi chủ trương ít màu, ít nét. Khoảng trống bao la. Để nhờ chiếc áo dài tuyệt đẹp nói hộ sự đoan trang về tâm hồn sự sâu sắc nên thơ của mọi người nữ Việt Nam. Chiếc áo dài của ta, lạ lắm. Khi người đàn bà mặc vào, lúc đi lúc đứng lúc ngồi, nằm, mọi đường nét của chiếc áo chuyển động tạo nên những đường nét khác nhau vô cùng duyên dáng. Chẳng cần phải vẽ thêm màu mè, hoa lá.”

Trăng khi ẩn, khi hiện, chiếc mũi là mùi hương, ông đem dấu đi, ông thường vẽ thiếu nữ không mũi, không mùi, chiếc cổ thanh tân thay bằng khăn san. Trong khi vào thập niên 60, 70, tinh thần của chủ nghĩa hiện sinh Tây Phương thâm nhập vào không khí hội hoạ miền Nam. Những Nguyên Khai, Đinh cường vẽ thiếu nữ với chiếc cổ dài quá khổ. Ảnh hưởng của Amedeo Modigliani lan tràn khắp thế giới tạo hình. Các hoạ sĩ trẻ Sài Gòn đã một thời tôn ông làm thần tượng(Hoạ sĩ Trịnh Cung tiết lộ), đến nỗi nét đặc trưng của Nguyên Khai trong tranh thiếu nữ là chiếc cổ dài.

blank
Hoá thân 2, 1982 (Trịnh Công Sơn).

Thơ và nhạc ảnh hưởng rất lớn trong tranh Thái Tuấn, trong hoạ có thơ, trong tranh có nhạc. Ông thích thơ Jacques Prévert, Quách Thoại, nhạc Phạm Duy, nhạc Trịnh Công Sơn. Ông vẽ chân dung của họ qua phong cách, hình ảnh của chính mình mà ông gọi là hoá thân.

Từng chiếc ba cây diêm phựt cháy trong đêm
Cây thứ nhất để nhìn trọn khuôn mặt em
Cây thứ hai để nhìn đôi mắt em
Cây cuối cùng để nhìn môi em
Và bóng tối dầy đặc để anh nhớ lại tất cả
Khi ôm em trong tay.(Paris at night-Jacques Prévert)

Ngoài tranh thiếu nữ và chân dung, ông còn vẽ tranh phong cảnh và tĩnh vật. Thế giới thiên nhiên và tĩnh vật trong tranh ông thường dạt dào tâm cảm, lặng lẽ và u hoài. Vì chủ trương đơn giản đến tận cùng, hình khối, âm ngữ là chính nên khoảng trống trong tranh ông lại càng mênh mông hơn. Ông tâm sự trong một buổi phỏng vấn “Về lối vẽ của tôi, tôi chú trọng đến tinh thần đơn giản, thanh đạm, muốn dùng rất ít đường nét, rất ít màu sắc và ưa để những khoảng trống lớn trong tranh.”

Cuối cùng, ông cũng đã lên đường ra đi về nơi những khoảng trống trong tranh ông. Những khoảng lặng chất đầy thơ mộng và giấc mơ trần gian đó, giờ là chất “rỗng”, an nhiên và thảnh thơi ở cõi tịnh. Nhân ngày giỗ ông, tôi xin thắp nén hương cho khói toả đến khoảng chân trời xa ấy một lời cầu nguyện chân thành.

Trịnh Thanh Thủy

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.