Hôm nay,  

Tưởng Niệm Quốc Hận Lần Thứ 40 Trở Về Thăm Camp Murray, Washington Sau 40 Năm

14/04/201500:00:00(Xem: 7337)

Một may mắn bất ngờ hay do cơ duyên đưa tới, tôi được tiếp đón ông Đường Bình tại tư gia vào lúc 11 giờ sáng Thứ Tư, ngày 8/4/2015. Chúng tôi hàn huyên trò chuyện về hàng trăm ngôi chùa trên thế giới mà ông Bình đã có dịp thăm viếng, chụp hàng ngàn tấm ảnh giới thiệu trên trang nhà của ông. Miên man câu chuyện, tôi trở về dấu ấn 40 năm tỵ nạn trên đất Hoa Kỳ của người Việt. Đặc biệt về người Việt đến định cư ở Tiểu Bang Washington 40 năm trước. Chủ đề hấp dẫn này như gợi nhớ cho ông Bình về những ngày đầu tiên đặt chân đến căn cứ Camp Pendleton, California và sau đó Camp Murray, Washington.

Vào một ngày thượng tuần tháng 5/1975, ông Đường Bình, một người di tản đang tạm trú tại trại #1, Camp Pendleton, California được loa phóng thanh của bộ chỉ huy trại gọi tên lên trình diện. Ông Bình phân vân không biết có chuyện gì đây, khi lên bộ chỉ huy thì thấy ông Mornahan, một người bạn cùng làm việc chung với ông Bình ở cơ quan DAO, Sàigòn, đứng cùng hai người Mỹ khác. Ông bạn Mornahan liền giới thiệu hai ông Ed Burke và ông Joe Argaga với ông Bình. Hai ông Burke và Argaga là đại diện của Thống đốc Dan Evans, tiểu bang Washington có sứ mạng đến Camp Pendleton tuyển mộ người tỵ nạn đưa về định cư tại tiểu bang nhà. Ông Burke hỏi ông Bình:

- Do you know where Washington State is? (Ông biết tiểu bang Wahington ở đâu không?)

- Yes. Washington D.C. (Biết. Thủ Đô Washington.)

Hai ông Burke và Argaga phá ra cười. Ông Burke mở brief case lôi ra một tấm bản đồ ngước Mỹ, hai tay mở tấm bản đồ, nhấp nháy ngón tay về hướng Tây. Tiểu bang Washington nằm trên bờ TâyThái Bình Dương, đối diện phía bên kia, Thủ Đô Wahington nằm về phía Đông.

Kể lại chuyện lầm lẫn dí dỏm mà điếng hồn này, ông Bình vui cười hồn nhiên, sảng khoái, nói vào lúc đó, ông mắc cỡ vô cùng, gương mặt đang vui tươi bỗng chuyển màu. Ông nói, khi ở Việt Nam, làm việc cho DAO, ông đâu để ý đến tiểu bang Washington ở đâu, chỉ biết Wahington D. C. thôi.

blank
Phải: Thống Đốc Daniel J. Evans, ông Dương Bình, Program Manager. (Photo: Binh Duong)

Chuyện này đã qua 40 năm, ông vui vẻ nói:

- “Tôi vẫn giữ trong lòng, chưa báo cáo cho Thống đốc Evans biết,” nói tới đây, ông Bình bật cười giòn tan!

Trong cuộc tiếp xúc lúc đó, ông Bình được tuyển làm công chức của tiểu bang Washington, phụ trách chương trình tỵ nạn Đông Dương của tiểu bang.

Một trớ trêu khó hiểu là Camp Pendleton, California là nơi tiếp cư chính thức cho mấy chục ngàn người tỵ nạn, nhưng Thống đốc Jerry Brown tuyên bố ông không muốn thấy người tỵ nạn ở tiểu bang Washington (36 năm sau, năm 2001, ông Jerry Brown tái trúng cử Thống Đốc California, và tiểu bang California nơi có Little Saigon nổi tiếng lại là tiểu bang có người Việt tỵ nạn cư ngụ đông nhất trong nước Mỹ).

Thống đốc Washington, Daniel J. Evans chính là một trong hai vị thống đốc đầu tiên đáp ứng lời kêu gọi của tổng Thống Gerald Ford tiếp nhận người định cư tại tiểu bang của ông. Vị thống đốc kia là của tiểu bang Nebraka. Cả hai tiểu bang đã mở rộng trái tim cho người tỵ nạn Việt Nam.

Ngay sau khi trở thành người phụ trách chương trình tỵ nạn của tiểu bang Washington, ông Bình bắt tay vào công việc tuyển mộ 500 người tỵ nạn đưa đi định cư tại tiểu bang Washington theo sự cho phép của chính quyền liên bang. Công tác tuyển mộ khá đơn giản, chỉ cần đủ con số 500 người; người tình nguyện điền một mẫu đơn xin đến định cư, không cần tiêu chuẩn. Sau khi làm thủ tục nhập cư là người di dân có thể di chuyển đi đến nơi lập nghiệp.

Chương trình định cư người tỵ nạn tại tiểu bang Washnigton bắt đầu ngày 19/5/175. Chiếc vé máy bay đi theo nhóm mang số 0164721160052 của United Airlines được đóng dấu Camp Pendleton SATO May 1975, với hàng chữ Indo China Evacuated ghi số lượng người đi gồm có năm gia đình mang tên họ Nguyễn, Đoàn, Lê, Huỳnh, Bùi, Trần, Phạm vàVũ do ông Bình hướng dẫn.

Với tựa đề Wellcome To America, Now Smile For The Camera (Chào Mừng Đến Nước Mỹ, Nụ Cười Trước Ống Kính) tác giả Jeff Larsen tường thuật một đạo quân báo chí đã tụ tập trong hơn 45 phút gần cổng số B-5 nơi cánh phía nam trong phi trường SeaTac International Airport để chờ đợi ông Bình và 33 người tỵ nạn khác từ Camp Pendleton đến đây. Máy bay dự trù đáp xuống phi trường lúc 4:00 chiều.

Giang tay chào đón đội ngũ đầu tiên của hơn 500 người đã quyết định từ California để tái định cư tại Washington là khoảng 20 người vợ lính Mỹ gốc Việt ở căn cứ Fort Lewis, tình nguyện chào đón người mới đến và hành động như những người thông dịch.

Trước khi nhóm người tỵ nạn đến, đoàn quân báo chí đến tham gia lên tới khoảng 40 người. Một số phóng viên truyền hình thì thầm với người quay phim của họ. Lập kế hoạch chiến lược khi người tỵ nạn đến. Không một ai trong số họ muốn loan tin trễ hơn các hãng tin, báo chí, truyền hình khác.

Lời cổ vũ bùng nổ ngay khi ông Bình đi vào phòng chờ đợi và nhóm người chờ đợi vỗ tay nồng nhiệt. Sau đó, ông Bình và những người tỵ nạn khác nói rằng họ ghi khắc sâu xa lời chào nồng ấm của người dân Hoa Kỳ.

Một phóng viên của hãng AP chụp cánh tay áo trái ông Bình đi cùng ông qua một hành lang, hầu như ghim cứng ông vô một bức tường, hỏi: “Thưa ông, tên ông là gì? Đánh vần như thế nào?”

Vợ con ông Bình bị khóa cứng bởi các phóng viên, nhiếp ảnh viên và phóng viên quay phim đổ xô đến do hành động của phóng viên AP, ép sát vào một vòng tròn chung quanh người tỵ nạn nhỏ bé. Đèn chiếu, máy thu âm đẩy vào mặt ông Bình – phóng viên bắt đầu phóng ra các câu hỏi ngạc nhiên với ông Bình; “Ông rời Việt Nam khi nào? Tại sao ông bỏ đi? Ông làm gì để sống ở đó?” Ông Bình chỉ mỉm cười và ân cần trả lời các câu hỏi.

Sau đó đám đông di chuyển đến xe buýt của hãng Western Tour đậu bên ngoài nhà chờ đợi, sẽ chở những người tỵ nạn đến nhà ở tạm thời tại Camp Murray. Những cuộc phỏng vấn, chụp ảnh và quay phim tiếp tục đến khi người tỵ nạn cuối cùng lên xe buýt. Hai nhà báo đã dàn xếp trước với giới hữu trách của trại được phép lên xe buýt. Vì vậy, cuộc phỏng vấn tiếp tục trên đường đi Tacoma.

blank
Thống Đốc Daniel J. Evans, và báo chí, truyền thông đón dân VN tỵ nạn tới Washington từ Camp Pendleton, California. (Photo: The Olympian Sunday)

Khi những người tỵ nạn đến Camp Murray, quang cảnh không khác với phòng khách của phi trường SeaTac nhiều. Thực tế, có rất nhiều nhà báo quen thuộc trong đám đông, chào mừng những người tỵ nạn ở đó.

Thống đốc Evans chào mừng và nói vài nhận xét ngắn sau khi người tỵ nạn đến nơi. Sau đó, họ được chuyển đến một phòng ăn đôi và ăn một bữa cơm Việt Nam gồm cơm, thịt gà, cá, rau, chuối và các loại trái cây khác. Trong suốt bữa ăn, báo chí tiếp tục chụp ảnh và quay phim. Hầu hết các phóng viên thoải mái trong khi người tỵ nạn dùng bữa.

Những ngôi nhà nhỏ màu xanh tại Camp Murray, bộ chỉ huy của Vệ Binh Quốc Gia Washington không có gì đặc biệt để trông vào, nhưng với một vài người đã trải qua những ngày trong một chiếc lều ở Camp Pendleton, California, những ngôi nhà màu xanh trông không quá tệ.

Ba mươi bốn người tỵ nạn Việt Nam, đội tiên phong của hơn 500 người tỵ nạn đến Washington theo lời mời của thống đốc, đến trại tạm trú Camp Murray ngày 19 tháng 5, không đầy một tháng sau khi CS Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam.

Ba mười bốn người chỉ là một phần nhỏ trong số khoảng 130,000 người Việt Nam đào thoát trước sụ sụp đổ của miền Nam, nhưng họ lại là những người đầu tiên tìm thấy một sự chào đón thực sự tại Hoa Kỳ.

Thống đốc Daniel J. Evans đã mở những cánh cửa của tiểu bang cho người tỵ nạn cũng như tiểu bang Nebraska, và ra lệnh cho Sở Các Dịch Vụ Khẩn Cấp Tiểu Bang (DES) chăm lo cho người tỵ nạn Viêt Nam cho đến khi họ có thể tìm được nhà cửa và việc làm.

Tất cả các cơ quan tiểu bang được lệnh hợp tác với DES – và bao gồm cả lực lượng Vệ Binh Quốc Gia.

Trong khi đại diện của Bộ Xã Hội và Y Tế (DSHS) tiểu bang bay xuống Califoria để tuyển mộ những công dân tương lai đến Washington, DES bắt đầu tìm kiếm một nơi để làm nhà tạm trú cho người Việt tỵ nạn khi họ đến.

DES đã ngừng công tác tìm kiếm nơi tạm trú khi tìm ra Camp Murray.

Camp Murray đã có nhiều cơ sở để ở và nuôi một số lớn người dân, có thể cung cấp sự tách biệt và riêng tư cho người Việt Nam, và nằm gần trung tâm dân cư lớn của tiểu bang, đó là lưu vực Puget Sound, nơi mà hầu hết những người tỵ nạn có thể sẽ định cư.

Tướng hai sao MG Howard S. McGee, phụ tá tiểu bang thích ý tưởng chọn Camp Murray là nơi tạm cư, và bộ chỉ huy Quân đội Vệ Binh Quốc Gia trở thành Trung Tâm Hỗ Trợ Người Việt.

Một phòng học lớn và một văn phòng đôi ở kho vũ khí trong trại được dành cho DSHS va DES dùng làm văn phòng, các phòng phỏng vấn, và các cơ sở báo chí.

Những nhà ở có kích thước cỡ tiểu đội nằm trên đồi, một phía tách biệt của Camp Murrray đã được chuyển cho người tỵ nạn để sinh hoạt.

Tốc độ hoạt động tại trại tăng nhanh khi biết rằng người Việt đang tới.

Những doanh trại được sửa chữa lại cho thích nghi với những người ở vùng khí hậu nhiệt đới không quen với gió mưa ở Washington.

Sáu người thợ bảo trì của Vệ Binh được tăng cường sáu người của các cơ quan khác để làm cho mọi sự được sẵn sàng.

Bảy tòa nhà được cách ly, thay thế những bức tường lửng, cửa sổ, mắc lại dây điện, máy sưởi, sơn mới trong vòng một tuần.

Những tấm bảng bằng bìa cứng sơn màu trong khu người Việt để chỉ đường đến khu vực sinh sống, các tiện nghi khác và các văn phòng của Trung Tâm Hỗ Trợ, và những người vợ lính Mỹ gốc Việt cư ngụ tại Tacoma đã giúp thêm các biểu tượng phát âm mà máy móc đục bìa cứng của Mỹ không thể sản xuất được.

Cũng những phụ nữ Việt này đã hành động như một thông dịch viên khi người tỵ nạn đến.

Những người tình nguyện thuộc Hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ và tổ chức cứu tế Salvation Army cống hiến dịch vụ của họ, giúp quần áo và chăm sóc cho người mới đến, và họ cũng được cung cấp địa điểm trong khu vực kho võ khí hoặc trên đồi để dùng làm văn phòng.

Trung Tá Jim Kramer, sĩ quan thiết trí của Vệ Binh, phụ trách hầu hết sự cung cấp của Vệ Binh Quốc Gia cho người tỵ nạn. Ông nói: “Tôi là sĩ quan tiện nghi. Điều đó làm cho tôi thành người chủ nhà.” Có khoảng 90 người thuộc các cơ quan khác nhau tham gia vào dự án Camp Murray. Văn phòng của Trung tá Kramer xắp xếp mọi thứ như dịch vụ điện thoại, và văn phòng làm việc cho họ.

Một số yêu cầu của những người này không thể thực hiện đầu đủ, nhưng “Chúng tôi không có bất cứ cuộc khủng hoảng nào,” Trung Tá Kramer nói.


Nhân viên kỹ thuật của Vệ Binh từ các xưởng bảo trì dụng cụ chuyển đến giường và nệm từ nơi gần căn cứ fort Lewis, và mở đầu làm công việc quản gia cho khu vực sinh sống của người tỵ nạn.

blank
Trẻ em VN ở Camp Murray. (Photo: Bruce Kellman The News Tribune Photographer, and The Associated Press)

Nguồn cung cấp bình thường được thông qua một mức độ lớn, bởi vì sự hợp tác của các cơ quan liên bang và tiểu bang thay vì của các nguồn quân sự.

Ăn uống cho người tỵ nạn không đơn giản. Thực phẩm cho người Việt Nam thông qua một văn phòng mua sắm của tiểu bang chứ không phải là hệ thống phức tạp của Quân đội. Và những người đầu bếp, Vệ Binh chọn ra những người thợ máy để nấu ăn.

Một cuộc kêu gọi những người tình nguyện, và có khoảng 10 người đáp ứng. Một vài người là chuyên viên điện tử thuộc các cơ sở hàng không, và những người thợ máy, chuyên viên viên khác và những gì trại có.

Mặc dù với kinh nghiệm, những người nấu bếp không hoàn toàn sẵn sàng cho việc nấu nướng mệt nhọc mà họ đối mặt. Vì người Việt ăn uống khác với tiêu chuẩn của thực đơn của Quân đội, một số ứng biến đã được thực hiện. Cơm được phục vụ ngày ba bữa. Một đầu bếp nói người Việt không muốn ăn sáng với món khoai tây sắt nhỏ chiên, và một ít món khác thường như nước mắm, măng và giá phải được tìm ra.

Ý tưởng của trại làgiữ người Việt tại Camp Murray một thời gian ngắn có thể được cho đến khi họ có thể định cư ở nơi khác. Sau đó, những người khác sẽ thế chỗ của họ.

Những ngôi nhà nhỏ màu xanh trên đồi, tuy nhiên vững chắc hơn những chiếc lều ở California, chỉ là trạm dọc theo con đường đến cuộc sống mới ở nuớc Mỹ.

Giới hữu trách của tiểu bang tiên đoán rằng những người tỵ nạn sẽ ở tối đa tại trại tạm trú Camp Murray một tuần trước khi người bảo trợ sẽ bảo vệ cho họ. Tuy nhiên, kể từ khi đó, tiểu bang được biết rằng 80 -90 % người muốn bảo trợ dân tỵ nạn chỉ muốn bảo trợ cho hai người, hoặc hầu hết muốn bảo trợ 3 người. Vì thế, thống đốc tiểu bang đã nài nỉ các tổ chức dịch vụ trong tiểu bang để bắt đầu bảo trợ cho vài gia đình lớn. Một số gia đình ở Camp Murray có thể có từ 10 hoặc 11 thân nhân. Một giới chức tiểu bang cho biết một gia đình trung bình có năm người.

Một phát ngôn viên của DES tại trại nói gia đình “hoàn toàn có tiếng nói sau cùng ai là người bảo trợ cho họ.” Người phát ngôn còn nói thậm chí có một gia đình từ chối sống với người bảo trợ bởi vì “tất cả những gì người bảo trợ muốn họ là làm việc xung quanh nhà như giúp việc gia đình.”

Công việc tái định cư cho người tỵ nạn tất bật, những người phụ trách chương trình ngoài việc đi đón người tỵ nạn tại Camp Pendleton về Camp Murray còn bay đến các thành phố, quận hạt trong tiểu bang như Spokan, Ykima, Pasco … để tìm kiếm người bảo trợ.

Cựu Thủ tướng Việt Nam và cũng là cựu Tư Lệnh Không Quân Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố khi ông tới Camp Pendleton đầu tháng 5 rằng ông thích dân tỵ nạn định cư ở vùng “nông thôn” vì vậy họ sẽ không phải đối phó với các thành phố lớn. Nhưng một giới chức của tiểu bang ở Camp Murray nói hầu hết người tỵ nạn đến đây “rất đô thị.” Ông nói họ chỉ biết đời sống thành phố. Thực vậy, đa số người tỵ nạn đều nói muốn định cư ở thành phố để có thể đi học và tìm việc làm.

Hầu hết các gia đình người Việt sẵn sàng cho đời sống ở đây nhưng cũng có một số người cay đắng buồn phiền. Khi được một nhiếp ảnh viên chào hỏi, cô Van, Tong Thi De, đầm đìa nước mắt, nói: “Tôi không thể cười được.”

Người phụ nữ tỵ nạn độc thân 27 tuổi duyên dáng từ Saigon đến, không vui vẻ nhiều bởi vì cô đã buộc phải bỏ hầu hết gia đình phía sau, phải đối mặt với sự bao vây của cộng sản.

“Tôi rất buồn, Tôi đã viết thư cho mẹ tôi nhưng cộng sản đã cắt tất cả mọi liên lạc,” cô Tống nói. Cô đã rời Saigon bằng máy bay trong ngày 23/4/1975.

Là cựu thư ký đánh máy tại phái đoàn DAO, thuộc bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, cô Tống cho biết anh trai cô, làm việc cho hãng máy bay Pan American World Airways, là thành viên duy nhất của gia đình ở Saigon trốn chạy thành công.

Có thể nói trang sử của người Việt tỵ nạn, từ làn sóng tỵ nạn đầu tiên trong tháng 4, tháng 5 năm 1975, đến là sóng thuyền nhân thứ hai, rồi làn sóng trẻ em về quê cha và làn sóng những người tù đến Mỹ định cư theo chương trình H.O. đều mang đậm một tình cảnh đau buồn, u hoài và tiếc nuối. Không có gia đình nào là trọn vẹn, không có cá nhân nào là trọn vẹn. Nếu cả đại gia đình gồm ông, bà, cha, mẹ, con cháu ra đi đầy đủ thì cũng phải bỏ lại quê cha, đất Tổ, mồ mả của tổ tiên; huống chi còn biết bao gia đình khác, kể đi người ở, bị phân tán, thất lạc, có thân nhân tử trận, mất tích, bị bắt, bị giết trên đường chạy giặc, bỏ mình trong các trại lao tù, trong rừng sâu, trên biển cả. Đó là những bi ai khôn cùng, những mất mát thương đau, những tan vỡ chia ly, những cay đắng ngậm ngùi, những niềm nhớ không nguôi, những dằn vặt ray rức, những thương nhớ miên viễn đầy ắp trong lòng mỗi người người tỵ nạn xa quê hương.

Có hai câu chuyện đặc biệt quan trọng liên qua đến người Việt tỵ nạn tại tiểu bang Washington. Một trích dẫn từ ông Ed Burk, trưởng văn phòng dịch vụ cựu chiến binh của Bộ Xã Hội và Y Tế Washington, và một câu chuyện khác về bản tuyên bố của ông Daniel Evans, thống đốc tiểu bang.

Ông Burk, một cựu binh TQLC, tức giận khi ông nghe người ta phê phán chương trình tỵ nạn. Ông Burk đã phục vụ ở Việt Nam như là một tiền sát viên trong năm 1967, khi đại đội của ông bị phục kích ở phía bắc thành phố Huế. 75% quân nhân trong đơn vị của ông bị tử trận hoặc bị thương.

Trong khi chiến đấu với người Việt Nam, ông đã bộc lộ sự ngưỡng mộ lớn lao về người Việt và văn hóa của họ.

blank
Trẻ em VN ở Camp Murray. (Photo: The Olympian Sunday)

Vì vậy, ông tỏ ra tức giận về những phê bình chương trình tỵ nạn. Ông Burk nói:

“Tôi nghĩ nhiều người ở nước này là người kỳ thị chủng tộc.” Ông là người dẫn đầu tiến hành công việc lo nhà ở tạm thời cho người tỵ nạn tại Camp Murray. Ông nói:

“Tôi nghĩ họ quên rằng, họ, chính họ, là những người di dân. Họ không nhận thức rằng những người đến đây với hai bàn tay trắng, bởi vì họ sợ, bởi vì họ nghĩ họ sẽ phải chết ở Việt Nam.” (I think they forget that they, themselves, are immigrants. They dont realize that these people came here with nothing, because they were afraid, because they thought they might die in Vietnam.)

Thống đốc Daniel Evans, vị thống đốc mở cửa tiểu bang cho người tỵ nạn định cư, cho rằng những lời chỉ trích sự nhập cư của những người tỵ nạn là “sự tồi tệ nhất của đạo đức giả” (the worst kind of hyprocrisy).

Thống đốc Evans nói: “Mọi người ở đất nước này, đến đây như là người tỵ nạn, ngoại trừ người da đỏ.” (Everybody in this country except for the Indians came here as refugees.)

Báo chí nói rằng người dân thực sự tự hào rằng Washington là một trong hai tiểu bang (tiểu bang kia là Nebraska) mở ngỏ trái tim của mình cho người Việt Nam.

Một đại tá quân đội hồi hưu và phu nhân đã chở những bó quần áo và thực phẩm. Một chiếc van gần đó chở đầy một gia đình Việt Nam đi chơi công viên Spanaway.

Các nhà bảo trợ của nhà thờ đã chu đáo tăng thêm thực phẩm điển hình của buổi du ngoạn ngoài trời như hotdogs, ham, khoai tây, salad với cơm và bất cứ thứ gì khác mà một gia đình người Việt có thể chọn tại một siêu thị. Nhiều chiếc xe khác hiến tặng quần áo và thực phẩm, Có người tặng những quả bóng chuyền, một người cho dụng cụ giải trí. Máy điện thoại và nhiều cống hiến khác.

Việc làm tình nguyện của hai chục phụ nữ Mỹ gốc Việt là vợ của các chiến binh Hoa Kỳ sinh sống tại căn cứ Fort Lewis, thông dịch giúp đỡ cho người tỵ nạn buổi đầu đến trại tạm cư Camp Murray cho thấy một tình cảm cao quý, tình đồng hương thân thiết làm ấm lòng người nơi quê hương mới. Việc làm hữu ích của các chị xứng đáng được trân trọng ghi lại với lòng biết ơn sâu xa của đồng hương.

Trái tim nước Mỹ vẫn còn nhịp đập với sự ấm áp, tình thương và lòng nhân ái. Các bất đồng chính kiến, những kẻ đạo đức giả, những người phân biệt chủng tộc có thể gây ra sự lỗi nhịp, lúc này, lúc khác. Nhưng mà trái tim Mỹ vẫn còn vĩ đại và mạnh khỏe như thường hằng, khi nó chào đón những người tỵ nạn đầu tiên trong nhiều năm trước đây.

Và chúng ta ở trong Tiểu Bang Washington là những người may mắn nhất. Vì ở đây, chúng ta có thể cảm nhận và kinh nghiệm hoàn toàn về nhịp đập của trái tim Hoa Kỳ.

Ngày 19/5/1975, Camp Murray đón nhận người Việt tỵ nạn đến tạm trú chờ định cư.

Tháng 12/1975, Camp Murray đóng cửa chấm dứt công tác cung cấp nơi chốn tạm trú cho người Việt.

Một số khuôn mặt tiêu biểu trong chính quyền Tiểu Bang Washington phụ trách chương trình tỵ nạn:

Thống đốc Daniel J. Evans, mở ngỏ cửa tiểu bang đón người tỵ nạn. Ông Ralp Munro, phụ tá đặc biệt của thống đốc phụ trách phối trí chương trình, tiếp xúc các lãnh đạo tôn giáo, các hội từ thiện, các tổ chức cộng đồng sắc tộc, khuyến khích mọi người giúp đỡ người tỵ nạn. Ông Tom Price, Bộ Trưởng Bộ Dịch Vụ Khẩn Cấp (DES) lo chỗ ở với Camp Murray. Ông Mike Edward, phụ trách đón tiếp người tỵ nạn từ SeaTac đưa về Camp Murray. Ông Gerald Thomas, Bộ Trưởng Tài Chánh, lo về dịch vụ và tài chánh với chính phủ liên bang. Ông Ed Burke, Trưởng Phòng Cựu Chiến Binh (DSHS) lo về quản lý chương trình. Ông Đường Bình, Program Manager, phụ trách tuyển chọn người tỵ nạn từ Camp Pendleton, California đưa đến Camp Murray, Washington. Ông Joe Argaga(DES) quản lý chương trình, phối hợp với liên bang cho người tỵ nạn ra trại, sắp xếp máy chở người tỵ nạn đi Washington. Ông Jerry Kay và bà Janet Mandela (ESD) cùng phụ trách tham gia tuyển chọn người tỵ nạn từ Camp Pendleton. Và Linh mục John Houston, đại diện U.S. Catholic Conference (U.S.C.C.) phụ trách liên lạc với tất cả giáo hội trong tiểu bang bảo lãnh người tỵ nạn.

40 năm trôi qua, ngày 26 tháng Tư tới đây, cộng đồng người Việt quốc gia sẽ trân trọng, vui vẻ xen lẫn bồi hồi trở lại thăm Camp Murray, để ngỏ lời cảm tạ quý vị ân nhân đã mở rộng vòng tay thân ái đón tiếp, cưu mang người tỵ nạn và thăm lại nơi tạm trú thân yêu đã trở thành kỷ niệm không thể nào quên trong cuộc đời người ly hương.

Viết trong mùa Quốc Hận 30/4 năm thứ 40

Từ bàn viết Tacoma- Bùi Quốc Hùng

Souces: The Sunday Olympia, Sunday, June 8, 1975 * The Progress, June 27, 1975 * Daily Pilot, A5 –Sunday, May 11, 1975 * The News Tribune Tacoma, Thursday, May 22, 1975 * The Sunday Olympia, Sunday, August 15, 1976 * Od Vo.5 – N2 Spring 1975.

Ý kiến bạn đọc
14/04/201521:53:14
Khách
K/G Ong Bui Quoc Hung ,
Ngay truoc toi co quen Ong Duong Binh o Saigon , sau nam 1975 thii mat lien lac (vi thang 7/75 toi den trai ty nan Camp Pêndlton thi Ong Binh da xuat trai ) Vay neu khong co gi bat tien,ong co the cho toi biet so phone hoac dia chi Email cua Ong Duong Binh duoc khong ?
Da ta
Sen Luu (408) 988 4992
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.