Hôm nay,  

Thi Sĩ Của Tình Yêu Vô Thức

12/31/201400:00:00(View: 6134)

Thơ ơi, dẫu cạn ý lời
Không sao tường tỏ lòng vơi dạ đầy
Chông đèn thử hỏi trăng sao
Tạ ơn thơ hiểu ước ao dại khờ
Dù khi vật đổi sao dời
Xin thơ giữ lại một đời vương tơ
(Nói với thơ Ngô Tịnh Yên – T.H.)

Tôi bắt đầu viết về người phụ nữ có tên gọi Ngô Tịnh Yên bằng câu chuyện nhỏ được chị chia sẻ lúc tôi gọi chị chúc mừng Giáng Sinh. Để nói đôi lời giới thiệu ngắn gọn trong ít phút về ca khúc “Nếu Có Yêu Tôi”, nhạc sĩ Trần Duy Đức phổ từ bài thơ cùng tên, chị đã tập nói nhiều lần để có thể diễn đạt trôi chảy lúc thu hình cho một chương trình nhạc có những nghệ sĩ khuyết tật tham gia. May mắn nhờ Tổ phù hộ, chị đã làm được trọn vẹn vai trò tác giả của những vần điệu thiết tha tiếng gọi nức lòng:

“Đừng đợi ngày mai đến khi tôi thành mây khói
Cát bụi làm sao còn biết mỉm cười”

Nếu chưa đọc thơ Ngô Tịnh Yên mà chỉ tiếp xúc với chị thì ít ai có thể hình dung được: trú ẩn trong dáng người nhỏ nhắn của chị là một tâm hồn rộng lớn bao la. Tôi biết đến tên Ngô Tịnh Yên lần đầu qua một bài báo viết về buổi ra mắt cuốn ký sự Cam Bốt “Thiên Thần Trong Địa Ngục” của chị. Nhờ vậy tôi được biết chị đã một thân một mình lặn lội sang tận xứ chùa tháp để tìm hiểu về thực trạng buôn bán trẻ em làm nô lệ tình dục. Sau đó tôi mới bắt đầu biết đến những bài thơ của chị.

“Lãng Mạn Năm 2000” là tập thơ lục bát của Ngô Tịnh Yên mà tôi được cầm trên tay cách đây tròn bốn năm, lật từng trang, đọc từng bài. Điều tôi xin dành để nói về thơ Ngô Tịnh Yên trong bài viết này chính là tấm chân tình sống mãi trong tình yêu của tác giả. Con người ta khi yêu thì ai cũng có những biểu hiện, cử chỉ và ý nghĩ chân thành dành cho đối tượng của mình, nhưng sự thể hiện ấy ở mỗi người thì chẳng ai giống ai.

Thơ tình Ngô Tịnh Yên không làm tôi khóc sướt mướt hay bi lụy vì cảm xúc nhất thời trào dâng trong chốc lát. Thơ tình Ngô Tịnh Yên ở lại trong tâm khảm tôi như những hạt mưa buồn vô cớ tích tụ ngày qua tháng lại thành mùa đông triền miên giá buốt. Nhờ vào sự chân-tình-từ-tâm-trí của người làm thơ mà những vần thơ Ngô Tịnh Yên làm đêm đông ấm áp, làm tình yêu hiện hữu, và làm cuộc đời tươi sáng. Tựa như thiên chức của người làm mẹ - một mình vượt cạn sinh con và khó nhọc nuôi con thành người, mỗi một bài thơ của Ngô Tịnh Yên, dù là lời trách móc, dù là sự giận hờn, hay là lời nhắn nhủ sau cùng thì tất cả cũng đều mang theo trong mình tấm lòng tận tụy với tình yêu thương quên đi bản thân mình:

“Suốt mùa đông tôi làm người nhóm lửa
Để cuộc đời ấm mãi cõi lòng nhau...”

Tôi ít hiểu biết về quy luật gieo vần chọn chữ trong thơ. Tôi cảm nhận thơ Ngô Tịnh Yên như một người đang yêu ngẩn ngơ đón nhận lời tỏ tình giản dị mà chân thành từ thơ của chị. Đó là một sự chân thành hiếm thấy giống như câu chuyện tình lãng mạn được kể lại qua bộ phim nhựa “Notting Hill”. Những bài thơ tình Ngô Tịnh Yên được mọi người biết đến, đón nhận và yêu thích từ lâu. Tôi nhắc lại mong giải bày về sự chân thành trong tình yêu mà tôi may mắn nhận được từ thơ của chị.

blank
Thị sĩ Ngô Tịnh Yên ngồi ký tên.

Tôi xin được ví von thơ tình Ngô Tịnh Yên tuyệt đẹp như nhân vật nữ chính trong bộ phim “Notting Hill”. Cô là diễn viên nổi tiếng của kinh đô điện ảnh Hollywood, đến một thị trấn nhỏ xa xôi ở nước Anh để quay phim, rồi tình cờ gặp và phải lòng anh chàng chủ tiệm bán sách vô danh. Chuyện tình của hai người có địa vị xã hội không tương xứng nhau tưởng chừng sẽ không có một kết thúc tốt đẹp vì danh tiếng của người con gái làm người con trai rơi vào tình huống dễ nảy sinh mặc cảm tự ti, hiểu lầm rồi đành chấp nhận tình yêu ấy là mộng tưởng ngắn ngủi thoáng qua trong đời. Đâu ai ngờ có một hôm người con gái có sự nghiệp diễn viên lừng lẫy ấy mặc bộ quần áo giản dị, mang chiếc túi xách bình thường, lặng lẽ bước vào tiệm sách như bao người tìm mua sách khác. Cô ấy đến không phải để mua cho mình một cuốn tiểu thuyết được xuất bản nhiều lần mà đến để dành tặng cho chàng trai chủ tiệm sách tấm chân tình đơn sơ của mình. Cô không màng đến địa vị xã hội của người nổi tiếng, chẳng bận lòng đến áp lực từ giới truyền thông. Cô tự tin mở cánh cửa nhỏ của tiệm sách, đối diện với chàng chủ tiệm sách cũng có nụ cười hiền lành như cô, chỉ để nói rằng: “Em chỉ là một người con gái, đang đứng trước anh, mong anh hãy yêu em…” (“Im just a girl, standing in front of a boy, asking you to love me…”). Sự chân thành có đủ sức mạnh vượt qua mọi giới hạn cuộc đời ở nơi thơ tình của Ngô Tịnh Yên cũng là vậy đó. Tôi chẳng biết mình có bao giờ gặp được duyên may một lần trong đời được làm người chủ tiệm sách đứng trước Nàng thơ của Ngô Tịnh Yên, được đón nhận tấm-chân-tình-từ-tâm-trí? Nhưng, từ lâu rồi, tôi đã cảm nhận được điều quý giá đó ở nơi tâm hồn dạt dào tình yêu thương của chị.

Nói đến kim cương, ai cũng sẽ nghĩ ngay đến vẻ đẹp lộng lẫy nhiều sắc màu khó gì sánh kịp. Mặc dù vậy, đó vẫn là giá trị vật chất hữu hình dễ thấy, dễ tìm và dễ nhận. Thơ tình Ngô Tịnh Yên trong ánh mắt tôi cũng là một viên kim cương, nhưng viên kim cương ấy lấp lánh chỉ duy nhất một sắc màu mà sắc màu ấy thì các mỏ kim cương nằm sâu hun hút trong lòng đất không thể nào tích tạo được. Tôi gọi đó là sắc màu chân-tình-từ-tâm-trí. Tôi đã trót đọc thơ Ngô Tịnh Yên, trót yêu sự chân tình ấy thì cho đến ngày mắt tôi tịnh yên nhắm lại, tôi vẫn còn ấp ủ trong tim “Điều Ước Cuối Cùng” của chị:

“Yêu người trong bão khôn nguôi
Để yêu đời lúc nắng nôi trở trời
Giữa cơn vật đổi sao dời
Xin còn khoảng trống để ngồi bên nhau”

Có một người từng cười nhẹ nói với mình tôi rằng: “Sao mà khùng vậy...?” Có nhiều người khác đã, đang và có lẽ sẽ bảo tôi: “Làm gì có tình yêu hoàn toàn tuyệt đối trên đời? Sống lãng mạn bay bổng như vậy là chịu thiệt thôi!” Tôi tự hỏi lòng mình, thế nào là “chịu thiệt”, thế nào là không? Vậy thì thử đọc “Lý Do Yêu” của Ngô Tịnh Yên:

“Tại sao còn hỏi làm chi?
Khi trời khóc cũng chỉ vì đất thôi”

Giọt mưa tuôn rơi từ bầu trời xa thẳm nếu không có mặt đất hứng lấy, giữ lại, thì làm sao vạn vật sinh sôi nảy nở, cây cối tốt tươi. Bầu trời mênh mông trên cao chẳng bao giờ chạm được vào mặt đất dù chỉ một lần, nhưng lúc nào mây trắng cũng nhìn thấy cây xanh, nghe thấy tiếng chim hót véo von thì vẫn mãn nguyện biết được rằng, nước mắt của mình là chưa bao giờ uổng phí. Tình yêu chân thật cũng vậy, suy cho tận cho cùng, thì chẳng có gì là thiệt-hơn, được-mất hay đúng-sai.

Lúc một mình đọc lại thơ tình Ngô Tịnh Yên, tôi mỉm cười với ý nghĩ rằng, nếu mình có đủ phước phần được tái sinh làm người, lúc đi qua cầu Nại Hà, phải uống chén canh Bà Mụ để quên đi tất cả những gì thuộc về đời kiếp này trước khi được đầu thai làm người ở kiếp khác, tôi sẽ khẩn nguyện xin Mẹ hiền Quan Thế Âm đại từ đại bi cho tôi được mang theo một vài câu thơ Ngô Tịnh Yên. Tôi sẽ nhờ thơ để có thể tìm gặp lại người hỏi tôi “sao mà khùng vậy?”, để được nói với người đó bằng sự chân tình như chính hai câu kết trong bài lục bát “Trú Giữa Lòng Nhau”:

“Mốt mai sóng dậy ba đào
Xin về trú giữa lòng nhau cuối đời”

Tôi xin kể lại một kỷ niệm nhỏ với bài thơ “Tắm Mưa” của Ngô Tịnh Yên. Lúc đọc đến bài này trong tập thơ “Lãng Mạn Năm 2000”, tôi cứ cảm thấy hình như có một điều gì đó chưa trọn vẹn, chưa thông suốt. Quả tình là vậy, câu thơ thứ mười thiếu mất một chữ. Tôi liên lạc với tác giả và được biết chữ đó là chữ “sâu”, bị thiếu mất do lỗi in ấn. Chị có nói đùa với tôi một cách dí dỏm thế này: “Chắc là vì sâu quá nên chữ này lọt mất tiêu đó em!” Từ ý nghĩa ý nhị của lời nói đùa ấy, về sau lúc đọc thêm thơ Ngô Tịnh Yên, tôi ngẫm nghĩ thì thấy có nguyên cớ ở chữ “sâu”. Mọi sự trên cuộc đời khi chiêm nghiệm lại cũng đều là một chữ duyên. Tôi có được sự cảm ngộ từ tấm chân tình kết tinh trong thơ Ngô Tịnh Yên cũng là một chữ duyên. Xin phép tác giả cho tôi được trích nguyên văn bài “Tắm Mưa” mà tôi nhớ thật nhiều, một phần có lẽ cũng do mối duyên-sâu:

“Tắm mưa nhông nhông ở truồng
Thả chiếc thuyền giấy theo luồng nước trôi
Chở theo mộng mị xa xôi
Chuyện thần tiên của hai người bé con
Chỉ biết vui chẳng biết buồn
Tung tăng những buổi mưa tuôn từ trời...
Hai mươi năm mưa vẫn rơi
Nhưng chiếc thuyền giấy và người xưa đâu?
Tan theo những giọt mưa ngâu
Hay chìm trong bão sông sâu dòng đời
Mưa giăng dưới lũng trên đồi
Nhớ mưa ai tắm cùng tôi thuở nào?”

Kỷ niệm tắm mưa từ thời ấu thơ được tác giả kể lại bằng vần điệu lục bát mượt mà, từ ngữ súc tích và ý tứ sâu xa đến vậy thì có người đọc thơ nào mà không cảm thấy lòng bâng khuâng, dạ bồi hồi? Tôi biết ơn tấm chân tình trĩu nặng như hạt mưa buồn tuôn rơi từ bầu trời cao vời vợi. Cũng như bao người khác, tôi từng đi qua một thời vô tư, chỉ biết “tung tăng những buổi mưa tuôn từ trời...” Tôi đâu có biết có ngày mình sẽ “tan theo những giọt mưa ngâu - hay chìm trong bão sông sâu dòng đời”? Có ai từng một lần đặt chân đến vùng đất dãi dầu mưa nắng ở quê tôi vào mùa lũ lụt thì mới thấm thía nỗi niềm của những hạt mưa tuôn. Bởi vậy, suốt gần hai mươi năm đầu đời, tôi có nhiều kỷ niệm với mưa. Không biết tự bao giờ, tôi đã đem lòng yêu mưa một cách vô thức, thương mưa không chút đắn đo và nặng tình nặng nghĩa với mưa suốt đời.

blank
Tranh Ngô Tịnh Yên do một người chị vẽ.

Trong dự cảm của tôi lúc đọc câu thơ thứ mười của bài “Tắm Mưa”, tôi cứ thấy có điều gì đó thiếu thiếu. Tôi có duyên được chính tác giả nói về chữ “sâu” bị thiếu sót so với nguyên bản. Vậy là cảm nhận về tấm chân tình nhẹ như mây gió mà mênh mông tựa biển cả trong thơ Ngô Tịnh Yên lại trở về với hình hài vẹn nguyên trong tôi. Nếu hỏi Ngô Tịnh Yên về vẻ đẹp của tình yêu trong một cuộc chuyện trò hay một buổi phỏng vấn truyền hình thì câu trả lời của chị sẽ mộc mạc như lời nhân vật nữ chính trong bộ phim “Notting Hill”. Cô ấy quên đi tất cả - danh vọng, địa vị xã hội và những thứ tự hình thức khác bị con người phủ choàng chiếc áo vô minh - để nói lời chân tình tận đáy lòng: “Em chỉ là một người con gái, đang đứng trước anh, mong anh hãy yêu em”. Ngô Tịnh Yên là vậy đó, lời nói giản dị, có khi câu chữ được chị nói chưa lưu loát, chưa tròn đầy, có sao nói vậy, nhưng thơ của chị thì sâu lắng tựa như vô số hạt mưa tuôn ngày qua tháng lại tịnh yên tích tụ trong lòng đất, tạo nên phần sinh lực không thể thiếu để nuôi dưỡng sinh linh vạn vật.

Tình yêu trong thi ca của Ngô Tịnh Yên là tình yêu của một tấm chân tình có thật từ tâm trí, chảy khắp huyết mạch cơ thể và đi qua mọi cách trở cuộc đời. Chẳng thế mà chị kết thúc một đoạn ân tình “Phiến Loạn” bằng lời-chân-tình bất phục nhưng lại ngụ ý phủ phục:

“Bên nhau có xử lăng trì
Con tim phiến loạn vẫn lì đòn yêu”

Những tưởng khi đặt tựa đề một bài thơ khác là “Trả Tình Cho Yêu”, Ngô Tịnh Yên dứt khoát “trả” hết, nhưng đến hai câu kết, chị lại bằng lòng tự nguyện trút hết tâm cang “trả” thơ về với niềm yêu sau cùng sao cho toàn vẹn như thuở ban đầu:

“Qua nhau tạo hóa lá lay
Qua đời nắm cỏ xanh đầy trong tim”

Không hiểu sao tôi lại thích được thủ thỉ một mình với những câu kết trong thơ Ngô Tịnh Yên, như trong bài “Lưu Niệm” chẳng hạn:

“Gởi nhau thơ nát từng dòng
Ngâm câu tình nghĩa ngực chùng dạ đau”

Con người ta khi không nói được bằng lời thì sẽ tìm cách biểu đạt qua thơ. Ngô Tịnh Yên không những tâm tình bằng thơ, thơ hay nữa là khác, mà còn trao hết cho cuộc đời cả một tấm chân tình được chắt chiu thành “nỗi buồn - đậu hoài trên mái tóc”. Xin hãy áp hai lòng bàn tay lại với nhau, lặng im chỉ trong một tích tắc để lắng nghe “Những Gì Tôi Có” của Ngô Tịnh Yên:

“Tôi có một nỗi nhớ
ngự trị mãi trong lòng
tôi có một hơi thở
biết cho và đợi mong”

Đó cũng là một đoạn kết “xin còn khoảng trống để ngồi bên nhau” khác của Ngô Tịnh Yên. Còn mấy ngày nữa là năm cũ qua đi, năm mới lại về. Giây phút giao mùa chưa đến mà lòng tôi đã thấy quyến luyến đậm đà như đang đi qua một-giây-một-phút cách xa mất rồi. Tôi mừng mừng tủi tủi đọc lại thơ của chị. Mừng là vì tôi đã có duyên tìm thấy chữ “sâu” từ hạt mưa tuôn. Tủi là bởi tấm chân tình trong thơ Ngô Tịnh Yên sao mà buồn sâu đến vậy…

Trong sự đồng cảm của người đọc thơ dành cho người rút ruột làm thơ, tôi xin được gọi Ngô Tịnh Yên là thi-sĩ-của-tình-yêu-vô-thức. Nếu tình cờ đọc được đâu đó một hai câu thơ hoặc cả một bài thơ của Ngô Tịnh Yên - có khi là sự giận dỗi, có lúc là lời kể tội hay thậm chí là ý muốn chấm dứt - thì chúng ta hãy đừng tin vào những câu chữ ấy. Nếu đọc tiếp một hồi hay đọc đi đọc lại thơ Ngô Tịnh Yên thì chúng ta sẽ thấy tấm chân tình của chị hiển lộ một cách vô thức, như ở hai câu kết của “Sự Thật”:

“Mình đâu lừa dối được nhau
Khi đuôi mắt ướt dấu sao được tình?”

Tôi xin chân thành dành lời chúc năm mới an lành gửi đến thi sĩ Ngô Tịnh Yên bằng chính hai câu kết trong bài lục bát mở đầu thi phẩm “Lãng Mạn Năm 2000” của chị:

“Gánh thơ qua những chợ đời
Gánh xong hết một kiếp rồi...tịnh yên!”

“Ngô Tịnh Yên”, tôi muốn gọi thêm lần nữa, thêm lần nữa, bút danh của một tấm chân tình cả đời tận tụy vì thơ. Chị đúng là thi-sĩ-của-tình-yêu-vô-thức trong mỗi giấc ngủ yêu thương và sớm mai yên bình suốt phần đời còn lại của tôi…

T.H.
(Một đêm Đông cuối năm 2014)

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.