Hôm nay,  

Chuyện Tình Việt Dzũng: Lệ Rơi Trên Đôi Nạng Gỗ

01/03/201400:00:00(Xem: 19962)
Buổi chiều HO San Francisco.

Tết Giáp Ngọ đã qua gần cả tháng, Hội HO của anh Phú San Fran mới tổ chức đón Xuân muộn. Xác pháo đã chìm mất tiêu sau trận mưa đầu mùa tại Chinatown. Bà con ta vẫn vui vẻ cùng với biệt đoàn văn nghệ Lam Sơn hát ly rượu mừng của Phạm Đình Chương.

Sau phần thứ nhất của chương trình mừng tân niên Giáp Ngọ, đến phần thứ hai là tưởng nhớ Việt Dzũng. Anh Huỳnh Lương Thiện lên nói về người chiến sĩ đấu tranh số một của hải ngoại. Anh đồng ý với Nguyễn Văn Khanh (Trưởng ban Việt Ngữ RFA) rằng Việt Dzũng được mọi người nhớ đến qua bài ca bất hủ "Một Chút Quà Cho Quê Hương" và bản thân anh chính là một món quà rất quý. Có lẽ nên nói rõ hơn, chính Việt Dzũng là món quà của quê hương dành cho chúng ta, dành cho hải ngoại.

Ánh sáng của hội trường hạ thấp xuống, mọi người được yêu cầu đứng dậy, thành viên của văn nghệ Lam Sơn từng bước rước cờ Vàng vào hội trường. Một thiếu phụ nhỏ bé, mặc áo đen, đeo kính trắng, quấn khăn tang mang di ảnh Việt Dzũng cùng chậm rãi tiến vào. Đi sau là hai quân nhân mang theo tấm bảng tưởng niệm gắn một áo thun hình đấu tranh do chính Việt Dzũng vẽ mẫu, và đôi nạng của Việt Dzũng tặng cho Việt Museum San Jose. Hội trường khoảng 200 người đứng lên đón chào. Mọi người lần lượt thắp hương. Thiếu phụ đứng bên bàn thờ đáp lễ. Anh Thiện giới thiệu đây là "cô quả phụ Việt Dzũng" từ Nam Cali đã một mình lái xe suốt đêm qua đem theo di ảnh Việt Dzũng đến với chúng ta. Hội trường vang dội tiếng vỗ tay đầy xúc động. Người đàn bà nhỏ bé vóc dáng như sinh viên chưa tốt nghiệp lại chính là “cô quả phụ”. Không ai biết rõ về thân thế của cô. Quen biết Việt Dzũng lúc nào?. Lấy nhau bao giờ?.Cuộc đời đôi lứa ra sao?

Đời sống của Việt Dzũng đã đi cùng quần chúng suốt 30 năm dài trên báo chí, radio, TV, sân khấu, CD và DVD... Ai cũng biết anh chàng tàn tật mang đôi nạng đấu tranh đi khắp bốn phương trời. Vậy mà cuộc đời tình ái, cuộc sống gia đình thế nào chẳng ai hay biết!!!
resized-viet-dzung-3
Hình ảnh về Việt Dzũng.

Buổi tối tại San Jose.

Sau chương trình đón xuân và tưởng niệm Việt Dzũng tại San Francisco, đoàn xe chúng tôi kéo về viện bảo tàng Việt Nam. History Park San Jose đã đóng cửa từ 5 giờ chiều. Chúng tôi mở cửa riêng đón phái đoàn vào Việt Museum. Gần 7 giở tối mà màn đêm như đã buông xuống từ lâu. Toàn thể công viên tối thẩm. Riêng Việt Museum mở đèn sáng để chào đón người thiếu phụ bé nhỏ như dáng sinh viên chưa tốt nghiệp. Một buổi tiếp nhận hết sức đặc biệt được tổ chức để “cô quả phụ Việt Dzũng” chứng kiến việc trao di vật cho Viện Bảo Tàng. Buổi lễ đơn sơ nhưng đầy ý nghĩa.

Anh Huỳnh Lương Thiện, chủ nhiệm báo Mõ San Fran nói về câu chuyện nhận đôi nạng tại buổi sáng ngày đầu tang lễ Việt Dzũng, do cô Hoàng Anh trao lại cho kỹ sư Nguyễn Tấn Thọ. Anh Thọ tiếp lời, nói về trường hợp tiếp nhận di vật từ tay vợ Việt Dzũng trong hoàn cảnh tế nhị. Cô đã chứng tỏ bản lãnh và sự can trường của mình mới thực hiện được tốt đẹp di nguyện của Việt Dzũng trước đây trong một lần ghé thăm viện bảo tàng lúc còn sinh thời. Sau đó, anh Thọ đã chính thức trao di vật. Tiếp theo, Hoàng Anh nói đôi lời gửi gấm, cô nói thêm về niềm vinh dự khi đôi nạng của Việt Dzũng được lưu giữ ở nơi xứng đáng. Hoàng Anh cho rằng Việt Dzũng đạt được ý nguyện để lại cho đời đôi nạng đấu tranh. Chúng tôi, với tư cách đại diện Museum xúc động đón nhận và thưa rằng đây là di vật giá trị nhất mà hải ngoại có được để dành cho thế hệ mai sau.

Tôi cũng ghi nhận thêm rằng, hơn 30 năm trước, khoảng đầu thập niên 80, nghệ sĩ Việt Dzũng đã từng lên sân khấu CPA tại San Jose hát lần đầu tiên bài món quà gửi cho quê hương. Thực sự lúc đó đồng bào di tản đợt đầu đang tìm cách gửi quà về quê nhà. Những hộp quẹt, đá lửa, bút bi, vải vóc, kim chỉ và các vật dụng thường nhật lại là hàng qu?ý giá. Việt Dzũng với bộ áo vải đen, đứng trên đôi nạng gỗ vừa hát vừa khóc. Cộng đồng non trẻ Việt Nam ở San Jose vừa nghe vừa khóc theo. Anh em chúng tôi lúc đó dường như thể hiện hình ảnh của một cộng đồng tỵ nạn nước mất nhà tan. Dường như ai ai cũng đứng trên đôi nạng gỗ với các bước đi tập tễnh bất thường.

Từ sân khấu xuống hội trường, tưởng như ai cũng thấy những giọt lệ rơi trên nạng gỗ. Bài ca của Việt Dzũng sáng tác gửi quà cho quê hương vào ngày hôm đó não nùng và đậm nét nhiều hơn hoàn cảnh ngày nay.

Nhưng đêm hôm nay, đêm Chủ Nhật 23 tháng 2-2014, giữa khung cảnh u tịch và huyền ảo của Việt Museum. Một bên là các ngọn đèn nhỏ bé lung linh của mô hình nghĩa trang quân đội, một bên là ánh đèn mờ ảo của bức tường tù cải tạo. Đêm chứng kiến cho việc tiếp nhận các di vật này. Khoảng cách thời gian là 1 phần 3 thế kỷ. Hơn 30 năm trước tại CPA down town San Jose, Việt Dzũng khóc trên sân khấu với hội trường 2,700 người. Và 30 năm sau tại công viên San Jose Park đường Senter, có một cô gái cũng khóc trên đôi nạng gỗ, với vài anh chị em chúng tôi chứng kiến, nhưng ý nghĩa rất gần nhau.

Cô nói rằng: "Con là Bebe Hoàng Anh, vợ của Việt Dzũng. Dù mộ anh ở Nam Cali, nhưng bây giờ con biết, linh hồn anh đã theo cặp nạng này, sẽ ở đây đời đời với các vị anh hùng tại Việt Museum. Sau này nếu con có thể làm được gì. Xin bác cho con biết. Con xin cám ơn".
resized-viet-dzung-2
Hình ảnh về Việt Dzũng.

Tình yêu thầm kín.

Thưa các bạn, trong 30 năm qua tôi đã nhận được biết bao nhiêu là di vật. Quần áo, quân trang, quân dụng, di sản của thuyền nhân, của quân đội, của chiến binh, của các lãnh tụ... nhưng đôi nạng của Việt Dzũng quả thực là di vật quý giá nhất có linh hồn. Cuộc đời của Việt Dzũng, sự nghiệp đấu tranh của Việt Dzũng đã phơi bày tràn ngập trong cộng đồng. Nhưng tình sử với những giọt nước mắt trên nạng gỗ quả thực chẳng ai hay biết.

Tôi xin gửi đến các bạn câu chuyện tình hết sức đặc biệt của đôi trẻ. Tôi nói chuyện với “cô quả phụ" Hoàng Anh tới canh khuya đêm chủ nhật, tôi xin viết đầu đuôi chuyện cô kể lại như sau:

"...Thưa Bác, Trong đời con có 1 ngày đáng ghi nhớ. Đó là ngày làm lễ Đạo, thành hôn với anh Dzũng. Ngày đó là 22 tháng 11, 2006. Con qua Mỹ năm 1983 lúc đó mới ngoài 20 tuổi. Từ quê nhà đã nghe tiếng hát Việt Dzũng qua đài VOA và anh đã là thần tượng của con từ dạo ấy. Qua Mỹ đi học Anh Ngữ ESL, trong chương trình có mua nhạc Việt Dzũng viết bằng anh ngữ để học và để nghe. Nhân dịp con tham dự đại hội công giáo ở New Orlean, lần đầu tiên thấy Việt Dzũng trên sân khấu. Con nhìn thần tượng yêu dấu, mà điều đặc biệt là không hề quan tâm đến đôi nạng. Con tưởng như Dzũng là 1 người bình thường. Không hề thấy hình ảnh của người tật nguyền. Một phần là chính anh Dzũng hết sức tự nhiên khi diễn xuất ca hát không có chút mặc cảm. Anh Dzũng không hề cảm thấy phiền phức về đôi nạng. Tất cả khán giả đều không quan tâm đến đôi chân của Dzũng. Con bắt đầu xây dựng tình yêu với thần tượng của con.

Sau đó con về làm thư k?ý, ký giả, nhiếp ảnh viên và làm quản trị báo chí tại Nam Cali. Một hôm Việt Dzũng gọi điện thoại cho xếp của con là thi sĩ Du Tử Lê. Con trả lời điện thoại, nghe giọng nói trầm ấm của chàng mà lòng hết sức rung động. Còn chàng có cảm thấy gì không con không biết!

Rồi Dzũng đến chơi, rủ Du Tử Lê đi ăn. Con giáp mặt nói chuyện với mối tình đầu. Hết sức xúc động. Nhưng bác cũng biết, con còn trẻ, tự cho mình là xinh đẹp. Và tuy yêu nhưng cũng tự ái, vì mình là con gái.. Mối tình thầm kín cố không để lộ cho chàng biết. Nhưng có thể chàng cũng đoán biết vì Việt Dzũng tinh ma lắm. Và chuyện tình từ đó khởi đi. Con chờ Dzũng mở lời. Cho đến một ngày đẹp trời, Việt Dzũng mở lời thú nhận rằng đã yêu con từ lâu rồi. Thế là con ưng thuận."

Bác hỏi cháu là hai bên đã biết nhau từ thời kỳ 85 hay 86 mà sao đến 2006 mới cưới? Chờ đợi gì lâu thế?.

Cô Hoàng Anh nói ngay."Không, tụi cháu đâu có chờ đợi lâu thế. Biết nhau hơn 1 năm là tụi cháu về đoàn tụ ngay. Em theo chàng về dinh mà bác..." Quả thực lạ lùng, như vậy Việt Dzũng đã có vợ từ thời kỳ 80 mà sao chả ai hay.
resized-viet-dzung-1
Hình ảnh về Việt Dzũng.

Bebe Hoàng Anh nói tiếp:

"Thực vậy, chúng cháu rất tự lập và rất kín đáo. Khi cháu qua Mỹ, năm sau mẹ cháu mất, chỉ còn cha, trong nhà gọi là cậu. Qua đầu thập niên 90, cậu cháu đau yếu. Để vui lòng cha, cháu yêu cầu cha mẹ Việt Dzũng đến gặp cậu cháu để ngỏ lời. Dzũng làm thân với cậu. Cậu cho cây mai, Dzũng đem về chăm sóc. Sau đó cậu cháu và ba Dzũng đều ra đi. Chúng cháu vẫn ở với nhau thủy chung không thay đổi. Dzũng vừa là chồng, là bạn, là người anh, người thầy hướng dẫn cho cháu. Cuộc sống bận rộn nhưng rất êm đềm hạnh phúc. Đời sống riêng tư của chúng cháu bên ngoài chẳng ai biết. Suốt thời gian bên nhau Dzũng luôn ngỏ ý muốn tổ chức hôn lễ, nhưng cháu ngần ngại khước từ. Cho đến năm 2006, Dzũng hết sức thúc dục và cũng nói là bác sĩ cho biết sức khỏe của anh không được tốt. Nếu một mai anh không còn nữa thì sao, cho nên anh muốn có 1 lễ nghi tôn giáo chính thức. Rồi Dzũng chỉ yêu cầu dành cho anh một ngày. Đó là ngày 22 tháng 11-2006. Đến giờ chót con mới biết đó là ngày hôn lễ của chúng con. Hôn lễ hết sức giới hạn, chỉ có gia đình 2 bên. Chú Ngọc Hoài Phương, cô Diễm, chú Du Tử Lê."

"Vậy có Nam Lộc, Trúc Hồ không?" Tôi hỏi.

"Dạ, cũng không có đâu bác". Hoàng Anh trả lời.

"Sao chúng cháu giữ kín vậy. Cô Diễm nào, có phải cô Diễm là em bà Hoa không?" Tôi hỏi tiếp.

"Đúng đấy. Bà Hoa mới mất! bác biết không?". Hoàng Anh thêm vào. Tôi trả lời: "Bác biết quá đi chứ. Bác Hoa là vợ ông Đằng bạn của bác Lộc. Bác Hoa là bạn thân của bác gái mà."

Tôi nói tiếp:"Trở lại chuyện của của cháu bác thấy hết sức lạ lùng. Mối tình thầm kín. Hôn nhân cũng thầm kín. Chung sống với nhau 10 năm mới đám hỏi, rồi 10 năm sau mới đám cưới. Rồi từ lễ cưới 8 năm trước đến nay khi có đám tang thiên hạ mới biết Việt Dzũng có gia đình. Bác tưởng là mới lấy nhau rồi Dzũng ra đi."

Cô quả phụ nhỏ bé buồn bã nói rằng: "Ai cũng tưởng như vậy. Chuyện tình của chúng cháu là thiên tình sử lâu dài nhưng hết sức riêng tư. Bác nói đúng, sống với Dzũng, cháu không bao giờ nghĩ anh Dzũng là người có thương tật. Anh Dzũng của cháu là người chồng rất bình thường. Với đôi nạng gỗ, anh là người nghệ sĩ phi thường."

Người cô phụ năm nay cũng ngoài 50 tuổi, đâu có bé bỏng gì, nhưng khuôn mặt long lanh nước mắt trẻ thơ nhìn tôi như có hình ảnh đầy hãnh diện của người tình thần tượng. Tôi lại nói rằng: "Từ đám cưới vài chục người với đám tang cả chục ngàn người, Dzũng đã để cho con quá nhiều kỷ niệm và gánh nặng quá khứ. Bác mong cho con có đủ khả năng để vượt qua thử thách lớn lao. Thế giới biết bao người, con đã chọn Việt Dzũng. Anh là món quà quê hương để lại cho hải ngoại. Bác mong con có được cặp nạng tinh thần để đứng vững với cuộc đời còn lại."

Bebe đứng lên, nước mắt rơi trên đôi nạng gỗ như những giọt lệ tình yêu.

"Con khổ lắm bác ơi". Hoàng Anh nói.

Chiều thứ bảy Bebe Hoàng Anh, môt mình lái xe từ Nam Cali suốt đêm lên San Francisco dự buổi Tưởng Nhớ Việt Dzũng vào chủ nhật. Chiều thứ hai, lại một mình lái xe về.

Nhà tôi nói: "Con lái xe một mình nên cẩn thận".

Bebe nói: "Con không đi một mình, luôn luôn có anh Dzũng ngồi bên cạnh."

Thực vậy. Vợ lái xe mà như có chồng vẫn ngồi bên cạnh. Suốt 7 giờ rong ruổi đường trường, cô Hòang Anh nhẹ nhàng, nhẩn nha cằn nhằn cậu Việt Dzũng. Anh đốt hết cuộc đời cháy trên đầu ngón tay...Anh nói loanh quanh dối trá em suốt bao năm. Tưởng là lừa được em sao. Em biết hết nhưng em không nói. Anh bay bướm với đàn bà, anh ăn nhậu với đàn ông. Em biết hết. Rồi sau cùng anh vẫn phải trở về, phải không?.

Bây giờ anh còn đi đâu nữa. Cô lái xe và tưởng như Việt Dzũng vẫn ngồi trân mình chịu trận bên cạnh. Chàng không nói được, bây giờ chỉ còn ngồi yên mà nghe nàng nói. Đây không phải là sân khấu Asia. Đây không phải là Radio Bolsa. Đây chỉ có 2 người đối thoại chuyện tình yêu. Dzũng suốt đời nói cho ngàn người nghe. Bây giờ đến lượt Hoàng Anh. Cô nói mà anh chàng không cãi được. Nhưng cô kể lể cho mà nghe vậy thôi. Nói cho mà biết thôi. Cô tha thứ hết. Việt Dzũng của cô, có thể đủ thói hư tật xấu của đàn ông nhưng mãi mãi vẫn là thần tượng của Hoàng Anh.

Vâng thưa Bác, con không lái xe một mình. Mãi mãi vẫn có Dzũng ngồi bên cạnh...

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.