Hôm nay,  

Chuyện Tình Việt Dzũng: Lệ Rơi Trên Đôi Nạng Gỗ

01/03/201400:00:00(Xem: 19959)
Buổi chiều HO San Francisco.

Tết Giáp Ngọ đã qua gần cả tháng, Hội HO của anh Phú San Fran mới tổ chức đón Xuân muộn. Xác pháo đã chìm mất tiêu sau trận mưa đầu mùa tại Chinatown. Bà con ta vẫn vui vẻ cùng với biệt đoàn văn nghệ Lam Sơn hát ly rượu mừng của Phạm Đình Chương.

Sau phần thứ nhất của chương trình mừng tân niên Giáp Ngọ, đến phần thứ hai là tưởng nhớ Việt Dzũng. Anh Huỳnh Lương Thiện lên nói về người chiến sĩ đấu tranh số một của hải ngoại. Anh đồng ý với Nguyễn Văn Khanh (Trưởng ban Việt Ngữ RFA) rằng Việt Dzũng được mọi người nhớ đến qua bài ca bất hủ "Một Chút Quà Cho Quê Hương" và bản thân anh chính là một món quà rất quý. Có lẽ nên nói rõ hơn, chính Việt Dzũng là món quà của quê hương dành cho chúng ta, dành cho hải ngoại.

Ánh sáng của hội trường hạ thấp xuống, mọi người được yêu cầu đứng dậy, thành viên của văn nghệ Lam Sơn từng bước rước cờ Vàng vào hội trường. Một thiếu phụ nhỏ bé, mặc áo đen, đeo kính trắng, quấn khăn tang mang di ảnh Việt Dzũng cùng chậm rãi tiến vào. Đi sau là hai quân nhân mang theo tấm bảng tưởng niệm gắn một áo thun hình đấu tranh do chính Việt Dzũng vẽ mẫu, và đôi nạng của Việt Dzũng tặng cho Việt Museum San Jose. Hội trường khoảng 200 người đứng lên đón chào. Mọi người lần lượt thắp hương. Thiếu phụ đứng bên bàn thờ đáp lễ. Anh Thiện giới thiệu đây là "cô quả phụ Việt Dzũng" từ Nam Cali đã một mình lái xe suốt đêm qua đem theo di ảnh Việt Dzũng đến với chúng ta. Hội trường vang dội tiếng vỗ tay đầy xúc động. Người đàn bà nhỏ bé vóc dáng như sinh viên chưa tốt nghiệp lại chính là “cô quả phụ”. Không ai biết rõ về thân thế của cô. Quen biết Việt Dzũng lúc nào?. Lấy nhau bao giờ?.Cuộc đời đôi lứa ra sao?

Đời sống của Việt Dzũng đã đi cùng quần chúng suốt 30 năm dài trên báo chí, radio, TV, sân khấu, CD và DVD... Ai cũng biết anh chàng tàn tật mang đôi nạng đấu tranh đi khắp bốn phương trời. Vậy mà cuộc đời tình ái, cuộc sống gia đình thế nào chẳng ai hay biết!!!
resized-viet-dzung-3
Hình ảnh về Việt Dzũng.

Buổi tối tại San Jose.

Sau chương trình đón xuân và tưởng niệm Việt Dzũng tại San Francisco, đoàn xe chúng tôi kéo về viện bảo tàng Việt Nam. History Park San Jose đã đóng cửa từ 5 giờ chiều. Chúng tôi mở cửa riêng đón phái đoàn vào Việt Museum. Gần 7 giở tối mà màn đêm như đã buông xuống từ lâu. Toàn thể công viên tối thẩm. Riêng Việt Museum mở đèn sáng để chào đón người thiếu phụ bé nhỏ như dáng sinh viên chưa tốt nghiệp. Một buổi tiếp nhận hết sức đặc biệt được tổ chức để “cô quả phụ Việt Dzũng” chứng kiến việc trao di vật cho Viện Bảo Tàng. Buổi lễ đơn sơ nhưng đầy ý nghĩa.

Anh Huỳnh Lương Thiện, chủ nhiệm báo Mõ San Fran nói về câu chuyện nhận đôi nạng tại buổi sáng ngày đầu tang lễ Việt Dzũng, do cô Hoàng Anh trao lại cho kỹ sư Nguyễn Tấn Thọ. Anh Thọ tiếp lời, nói về trường hợp tiếp nhận di vật từ tay vợ Việt Dzũng trong hoàn cảnh tế nhị. Cô đã chứng tỏ bản lãnh và sự can trường của mình mới thực hiện được tốt đẹp di nguyện của Việt Dzũng trước đây trong một lần ghé thăm viện bảo tàng lúc còn sinh thời. Sau đó, anh Thọ đã chính thức trao di vật. Tiếp theo, Hoàng Anh nói đôi lời gửi gấm, cô nói thêm về niềm vinh dự khi đôi nạng của Việt Dzũng được lưu giữ ở nơi xứng đáng. Hoàng Anh cho rằng Việt Dzũng đạt được ý nguyện để lại cho đời đôi nạng đấu tranh. Chúng tôi, với tư cách đại diện Museum xúc động đón nhận và thưa rằng đây là di vật giá trị nhất mà hải ngoại có được để dành cho thế hệ mai sau.

Tôi cũng ghi nhận thêm rằng, hơn 30 năm trước, khoảng đầu thập niên 80, nghệ sĩ Việt Dzũng đã từng lên sân khấu CPA tại San Jose hát lần đầu tiên bài món quà gửi cho quê hương. Thực sự lúc đó đồng bào di tản đợt đầu đang tìm cách gửi quà về quê nhà. Những hộp quẹt, đá lửa, bút bi, vải vóc, kim chỉ và các vật dụng thường nhật lại là hàng qu?ý giá. Việt Dzũng với bộ áo vải đen, đứng trên đôi nạng gỗ vừa hát vừa khóc. Cộng đồng non trẻ Việt Nam ở San Jose vừa nghe vừa khóc theo. Anh em chúng tôi lúc đó dường như thể hiện hình ảnh của một cộng đồng tỵ nạn nước mất nhà tan. Dường như ai ai cũng đứng trên đôi nạng gỗ với các bước đi tập tễnh bất thường.

Từ sân khấu xuống hội trường, tưởng như ai cũng thấy những giọt lệ rơi trên nạng gỗ. Bài ca của Việt Dzũng sáng tác gửi quà cho quê hương vào ngày hôm đó não nùng và đậm nét nhiều hơn hoàn cảnh ngày nay.

Nhưng đêm hôm nay, đêm Chủ Nhật 23 tháng 2-2014, giữa khung cảnh u tịch và huyền ảo của Việt Museum. Một bên là các ngọn đèn nhỏ bé lung linh của mô hình nghĩa trang quân đội, một bên là ánh đèn mờ ảo của bức tường tù cải tạo. Đêm chứng kiến cho việc tiếp nhận các di vật này. Khoảng cách thời gian là 1 phần 3 thế kỷ. Hơn 30 năm trước tại CPA down town San Jose, Việt Dzũng khóc trên sân khấu với hội trường 2,700 người. Và 30 năm sau tại công viên San Jose Park đường Senter, có một cô gái cũng khóc trên đôi nạng gỗ, với vài anh chị em chúng tôi chứng kiến, nhưng ý nghĩa rất gần nhau.

Cô nói rằng: "Con là Bebe Hoàng Anh, vợ của Việt Dzũng. Dù mộ anh ở Nam Cali, nhưng bây giờ con biết, linh hồn anh đã theo cặp nạng này, sẽ ở đây đời đời với các vị anh hùng tại Việt Museum. Sau này nếu con có thể làm được gì. Xin bác cho con biết. Con xin cám ơn".
resized-viet-dzung-2
Hình ảnh về Việt Dzũng.

Tình yêu thầm kín.

Thưa các bạn, trong 30 năm qua tôi đã nhận được biết bao nhiêu là di vật. Quần áo, quân trang, quân dụng, di sản của thuyền nhân, của quân đội, của chiến binh, của các lãnh tụ... nhưng đôi nạng của Việt Dzũng quả thực là di vật quý giá nhất có linh hồn. Cuộc đời của Việt Dzũng, sự nghiệp đấu tranh của Việt Dzũng đã phơi bày tràn ngập trong cộng đồng. Nhưng tình sử với những giọt nước mắt trên nạng gỗ quả thực chẳng ai hay biết.

Tôi xin gửi đến các bạn câu chuyện tình hết sức đặc biệt của đôi trẻ. Tôi nói chuyện với “cô quả phụ" Hoàng Anh tới canh khuya đêm chủ nhật, tôi xin viết đầu đuôi chuyện cô kể lại như sau:

"...Thưa Bác, Trong đời con có 1 ngày đáng ghi nhớ. Đó là ngày làm lễ Đạo, thành hôn với anh Dzũng. Ngày đó là 22 tháng 11, 2006. Con qua Mỹ năm 1983 lúc đó mới ngoài 20 tuổi. Từ quê nhà đã nghe tiếng hát Việt Dzũng qua đài VOA và anh đã là thần tượng của con từ dạo ấy. Qua Mỹ đi học Anh Ngữ ESL, trong chương trình có mua nhạc Việt Dzũng viết bằng anh ngữ để học và để nghe. Nhân dịp con tham dự đại hội công giáo ở New Orlean, lần đầu tiên thấy Việt Dzũng trên sân khấu. Con nhìn thần tượng yêu dấu, mà điều đặc biệt là không hề quan tâm đến đôi nạng. Con tưởng như Dzũng là 1 người bình thường. Không hề thấy hình ảnh của người tật nguyền. Một phần là chính anh Dzũng hết sức tự nhiên khi diễn xuất ca hát không có chút mặc cảm. Anh Dzũng không hề cảm thấy phiền phức về đôi nạng. Tất cả khán giả đều không quan tâm đến đôi chân của Dzũng. Con bắt đầu xây dựng tình yêu với thần tượng của con.

Sau đó con về làm thư k?ý, ký giả, nhiếp ảnh viên và làm quản trị báo chí tại Nam Cali. Một hôm Việt Dzũng gọi điện thoại cho xếp của con là thi sĩ Du Tử Lê. Con trả lời điện thoại, nghe giọng nói trầm ấm của chàng mà lòng hết sức rung động. Còn chàng có cảm thấy gì không con không biết!

Rồi Dzũng đến chơi, rủ Du Tử Lê đi ăn. Con giáp mặt nói chuyện với mối tình đầu. Hết sức xúc động. Nhưng bác cũng biết, con còn trẻ, tự cho mình là xinh đẹp. Và tuy yêu nhưng cũng tự ái, vì mình là con gái.. Mối tình thầm kín cố không để lộ cho chàng biết. Nhưng có thể chàng cũng đoán biết vì Việt Dzũng tinh ma lắm. Và chuyện tình từ đó khởi đi. Con chờ Dzũng mở lời. Cho đến một ngày đẹp trời, Việt Dzũng mở lời thú nhận rằng đã yêu con từ lâu rồi. Thế là con ưng thuận."

Bác hỏi cháu là hai bên đã biết nhau từ thời kỳ 85 hay 86 mà sao đến 2006 mới cưới? Chờ đợi gì lâu thế?.

Cô Hoàng Anh nói ngay."Không, tụi cháu đâu có chờ đợi lâu thế. Biết nhau hơn 1 năm là tụi cháu về đoàn tụ ngay. Em theo chàng về dinh mà bác..." Quả thực lạ lùng, như vậy Việt Dzũng đã có vợ từ thời kỳ 80 mà sao chả ai hay.
resized-viet-dzung-1
Hình ảnh về Việt Dzũng.

Bebe Hoàng Anh nói tiếp:

"Thực vậy, chúng cháu rất tự lập và rất kín đáo. Khi cháu qua Mỹ, năm sau mẹ cháu mất, chỉ còn cha, trong nhà gọi là cậu. Qua đầu thập niên 90, cậu cháu đau yếu. Để vui lòng cha, cháu yêu cầu cha mẹ Việt Dzũng đến gặp cậu cháu để ngỏ lời. Dzũng làm thân với cậu. Cậu cho cây mai, Dzũng đem về chăm sóc. Sau đó cậu cháu và ba Dzũng đều ra đi. Chúng cháu vẫn ở với nhau thủy chung không thay đổi. Dzũng vừa là chồng, là bạn, là người anh, người thầy hướng dẫn cho cháu. Cuộc sống bận rộn nhưng rất êm đềm hạnh phúc. Đời sống riêng tư của chúng cháu bên ngoài chẳng ai biết. Suốt thời gian bên nhau Dzũng luôn ngỏ ý muốn tổ chức hôn lễ, nhưng cháu ngần ngại khước từ. Cho đến năm 2006, Dzũng hết sức thúc dục và cũng nói là bác sĩ cho biết sức khỏe của anh không được tốt. Nếu một mai anh không còn nữa thì sao, cho nên anh muốn có 1 lễ nghi tôn giáo chính thức. Rồi Dzũng chỉ yêu cầu dành cho anh một ngày. Đó là ngày 22 tháng 11-2006. Đến giờ chót con mới biết đó là ngày hôn lễ của chúng con. Hôn lễ hết sức giới hạn, chỉ có gia đình 2 bên. Chú Ngọc Hoài Phương, cô Diễm, chú Du Tử Lê."

"Vậy có Nam Lộc, Trúc Hồ không?" Tôi hỏi.

"Dạ, cũng không có đâu bác". Hoàng Anh trả lời.

"Sao chúng cháu giữ kín vậy. Cô Diễm nào, có phải cô Diễm là em bà Hoa không?" Tôi hỏi tiếp.

"Đúng đấy. Bà Hoa mới mất! bác biết không?". Hoàng Anh thêm vào. Tôi trả lời: "Bác biết quá đi chứ. Bác Hoa là vợ ông Đằng bạn của bác Lộc. Bác Hoa là bạn thân của bác gái mà."

Tôi nói tiếp:"Trở lại chuyện của của cháu bác thấy hết sức lạ lùng. Mối tình thầm kín. Hôn nhân cũng thầm kín. Chung sống với nhau 10 năm mới đám hỏi, rồi 10 năm sau mới đám cưới. Rồi từ lễ cưới 8 năm trước đến nay khi có đám tang thiên hạ mới biết Việt Dzũng có gia đình. Bác tưởng là mới lấy nhau rồi Dzũng ra đi."

Cô quả phụ nhỏ bé buồn bã nói rằng: "Ai cũng tưởng như vậy. Chuyện tình của chúng cháu là thiên tình sử lâu dài nhưng hết sức riêng tư. Bác nói đúng, sống với Dzũng, cháu không bao giờ nghĩ anh Dzũng là người có thương tật. Anh Dzũng của cháu là người chồng rất bình thường. Với đôi nạng gỗ, anh là người nghệ sĩ phi thường."

Người cô phụ năm nay cũng ngoài 50 tuổi, đâu có bé bỏng gì, nhưng khuôn mặt long lanh nước mắt trẻ thơ nhìn tôi như có hình ảnh đầy hãnh diện của người tình thần tượng. Tôi lại nói rằng: "Từ đám cưới vài chục người với đám tang cả chục ngàn người, Dzũng đã để cho con quá nhiều kỷ niệm và gánh nặng quá khứ. Bác mong cho con có đủ khả năng để vượt qua thử thách lớn lao. Thế giới biết bao người, con đã chọn Việt Dzũng. Anh là món quà quê hương để lại cho hải ngoại. Bác mong con có được cặp nạng tinh thần để đứng vững với cuộc đời còn lại."

Bebe đứng lên, nước mắt rơi trên đôi nạng gỗ như những giọt lệ tình yêu.

"Con khổ lắm bác ơi". Hoàng Anh nói.

Chiều thứ bảy Bebe Hoàng Anh, môt mình lái xe từ Nam Cali suốt đêm lên San Francisco dự buổi Tưởng Nhớ Việt Dzũng vào chủ nhật. Chiều thứ hai, lại một mình lái xe về.

Nhà tôi nói: "Con lái xe một mình nên cẩn thận".

Bebe nói: "Con không đi một mình, luôn luôn có anh Dzũng ngồi bên cạnh."

Thực vậy. Vợ lái xe mà như có chồng vẫn ngồi bên cạnh. Suốt 7 giờ rong ruổi đường trường, cô Hòang Anh nhẹ nhàng, nhẩn nha cằn nhằn cậu Việt Dzũng. Anh đốt hết cuộc đời cháy trên đầu ngón tay...Anh nói loanh quanh dối trá em suốt bao năm. Tưởng là lừa được em sao. Em biết hết nhưng em không nói. Anh bay bướm với đàn bà, anh ăn nhậu với đàn ông. Em biết hết. Rồi sau cùng anh vẫn phải trở về, phải không?.

Bây giờ anh còn đi đâu nữa. Cô lái xe và tưởng như Việt Dzũng vẫn ngồi trân mình chịu trận bên cạnh. Chàng không nói được, bây giờ chỉ còn ngồi yên mà nghe nàng nói. Đây không phải là sân khấu Asia. Đây không phải là Radio Bolsa. Đây chỉ có 2 người đối thoại chuyện tình yêu. Dzũng suốt đời nói cho ngàn người nghe. Bây giờ đến lượt Hoàng Anh. Cô nói mà anh chàng không cãi được. Nhưng cô kể lể cho mà nghe vậy thôi. Nói cho mà biết thôi. Cô tha thứ hết. Việt Dzũng của cô, có thể đủ thói hư tật xấu của đàn ông nhưng mãi mãi vẫn là thần tượng của Hoàng Anh.

Vâng thưa Bác, con không lái xe một mình. Mãi mãi vẫn có Dzũng ngồi bên cạnh...

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.