Hôm nay,  

Đọc ‘Thơ Tuyển Phạm Quang Ngọc’

04/12/201300:00:00(Xem: 5447)
Nhân một dịp tình cờ, tôi may mắn được gặp anh tại “Xóm Dưới”. Ở anh, qua phong cách, ngôn ngữ đã biểu lộ những gì mà chúng ta có thể nhận định về anh trong chừng mức nào đó.Sự sôi động, hăm hở trong nghiệp dĩ có dòng chữ “nghệ” lúc nào cũng chực tuôn trào trong anh.(Và trong mọi sinh hoạt văn nghệ, cộng đồng nơi anh đang cư trú lúc nào cũng bắt gặp bóng dáng anh.)

Như trong phần mở đầu của tập “Thơ Tuyển Phạm Quang Ngọc”, tác giả đã chân thành bộc lộ mà chúng ta cứ ngỡ như một định đề, một lời khẳng quyết:

“Thơ với tôi là hơi thở của đời sống.
Thơ hết. Tôi chết”.


Đó có phải là sự xác tín cho chữ “duyên nghiệp” không?. Nghe bi thiết qúa. Đã thế, qua Đoạn trường tân thanh,cụ Nguyễn Du đã lập đi lập lại biết bao lần:

“Bắt phong trần phải phong trần” cho đến:
“Văn tự hà tằng vi ngã dụng
Cơ hàn bất giấc thụ nhân liên”.

Thơ hết, tôi chết và tôi vẫn “khiêm nhường trong đời sống “vì thơ. Mặc.

Những bài tình trong thơ anh vẫn vương vít hình bóng người mẹ rất đằm thắm, nhẹ nhàng:

“Quê anh đó,mẹ gìa khăn mỏ qụa
Mái tranh nghèo như manh yếm che thân
Giặc đốt phá, giặc tràn qua xóm nhỏ
Nhưng lòng người vẫn đượm những mùa xuân”
(Kỷ niệm trang 12)

hay

“Mẹ đầu hai thứ tóc
Ngồi khóc gọi hồn con
Đầu thai nụ cười ròn
Bện lòng gương ý lược”
(Mẹ trang 41)


Từ “Trong tôi nhịp thở theo tim mẹ” đến “ Mẹ về reo ánh nắng đùa vui”, đó là ảnh hình của đấng sinh thành đã khắc ghi trong tâm trí rã rời của tác gỉa:

“Tiếng chim xào xạc trong lùm tre
Ngỡ mẹ hồn thiêng thác trở về
Chán cảnh trần gian không có mẹ
Gai nào đâm thấu nỗi buồn tê”
(Mẹ trang 53)


Tâm hồn đơn gỉan, thanh khiết của tác giả cùng ước mơ vào đời bằng sự:” Chờ buông dây thế tục- Ta nép bóng cảnh chùa”, dáng vấp mẹ vẫn là hình tượng trên đỉnh đời cao chất ngất:

“Vào đời thân núi độc
Mẹ gìa nắng hai sương
Chốn phồn hoa xa lánh
Ngủ hiên mây vô thường”
(Nhập thế trang 80)


Có thể vào thời đại tang thương,tác gỉa không còn sự chọn lựa nào khác khi phải mang người con thân yêu về nội. Bóng dáng mẹ lại được khơi nhắc qua hình bóng:

“Mẹ anh áo vạt thân bâu
Thương ngôi tổ mộ vườn sau qua ngày”.


Người mẹ lam lũ, khắc khổ cũng chính là chân ảnh của bao mái đầu bạc vào buổi nhiễu nhương thế sự.

Mẹ là khói ấm bếp nhà, là bát canh rau hiền nuôi đàn con nên hình nên vóc, chúng ta đi từ sự ngạc nhiên nầy sang ngạc nhiên khác khi tuần tự mở từng trang thơ:

“Giấc trưa tay bắt mặt mừng
Giấc chiều, bóng mẹ rưng rưng hiện về”
(Dành riêng tôi trang 104)


hoặc:

“Chiều tê ngóng mẹ về
Gầy nồi cơm chín tới
Nhóm lửa tình chân quê”
(Chân quê trang 112)


Một điểm đặc biệt khác trong thơ anh, người cha được nhắc nhở với tâm sự trùng trùng của hồn gìa đồng gánh chịu đớn đau như chính anh trong bóng tối lao tù:

“Ơn cha bóng núi gìa lam
Vực tầng đá tảng qua hàng lệ mưa
Phù sinh thác gởi sống nhờ
Dẫu rằng kiếp bụi chẳng chờ giải oan
(Ơn cha trang 98)


Nơi con người tác giả rõ ra là một chàng “ hiếu tử” chăng?. Vì qua thi tập, chúng ta thoáng lại được tác gỉa nhắc nhở về cha mẹ, mà trong đó cội nguồn là niềm nhớ quê hương:

“Ta ngồi nhớ một dòng sông
Nguồn nương bóng mẹ thân lồng bóng cha
Hỏi sao chân nước bạc nhoà
Anh em thất tán trôi xa tụ về”
(Sang canh 101)


Tôi yêu nhất câu: ”Nguồn nương bóng mẹ thân lồng bóng cha”.

Tác gỉa mộc mạc diễn tả rất thực đời sống thôn làng qua những ‘ quê nghèo lắm mưa nguồn gió bấc, nghề nung đất, tiếng cu buồn, ngôi nhà tranh, hàng tre buồn. Những ảnh hình đó là bức tranh sinh động cuả thôn làng miền quê:

“Nhưng cuộc sống bỗng trào dâng uất hận
Cha căm hờn cuốc đất ném đi xa
Lò bốc cháy, nhà tan thành tro bụi
Dòng sông Hồng dâng máu ngập phù sa”
(Giọt nắng hồng trang 115)


Tình yêu đôi lứa vẫn là chủ đề chánh trong thi tập, những chữ “ chiêu hồn con bướm dại” hay “Khi em đến, cây cao vừa xanh lá” để rồi:

“Chỉ còn lại dấu giày in trên cát
Và cuộc tình như tiếng vọng xa xôi”
(Kỷ niệm trang 12)

Một bài tình quê hương nhẹ nhàng, dễ thưong qua những lời trao đổi của đôi trai gái. Đất người vẫn không che lấp nỗi những con đường, giọt nắng, cánh đồng và tiếng chim hót của quê xưa.

“Trời Sydney sao nhớ nắng quê nhà” sang “ Gọi em về trông vườn cải trổ hoa” hay “ Con đường làng mùi ẩm mục rêu sương”.

Đặc sản của những làng quê, thôn xóm vẫn sống miên man trong tâm trí mỗi con người, nhất là tâm trạng của những người ly hương. Nét đẹp bài này như những bài thơ tranh thời tiền chiến:

“Em không đến khơi tình quê sống lại
Cốm làng Vòng, mùa luá nếp đang xanh
Tóc em vừa mùi hoa bưởi hoa chanh
Anh ngây ngất từng trưa và chợt nhớ”
(Nắng quê hương trang18)


Ở một lúc tản mạn nào đó, tác giả trải lòng mình rất thật thà, thấm đẩm vương chút cuồng mê:

“Ngồi đây nhớ tóc em bay
Sợi vương trán nhỏ, sợi giây muộn phiền
Sợi dòn như giọt nắng lên
Sợi thân kẽm nhọn riêng miền ngục sâu
Sợi vờn hồn vút lao chao…”
(Tóc mơ trang 31)


Một gỉa dụ đáng yêu nhưng cũng đầy tha thiết, oằn oại, đó chỉ là minh chứng cho tình yêu:

"Nếu như em là mây
Anh sẽ là núi biếc
Nếu em còn ngủ say
Anh ru lời tha thiết
…………………….
Một điều nếu em biết
Anh đẫm một hồn thơ
Thơ làm đeo em miết
Sao em mãi hững hờ”
(Nếu như trang 43)


Đôi mắt người con gái được tác gỉa thi vị hóa qua những từ” lòng độ lượng, em từ bi, tâm Bát Nhã và Em hiện hữu giữa trần gian vô thức”:

“Phải vì em câu kinh nhoà nhận thức
Vẫn tin trời ban mật lệnh trần gian
Vẫn tin yêu là chân bước rộn ràng
Bóng diện địa còn có em hiện thực”
(Đôi mắt ấy trang 86)


Tác gỉa một thời vai áo trận, nên trong thi tập bàng bạc những bài viết về người chiến sĩ. Ngông nghênh hay đang ngất ngưỡng cùng men rượu sau những ngày gian khổ.


“Ê, thằng lính cận đấu văn chương
Xếp bút, treo nghiên, bỏ mái trường
Bàn luận anh hùng, gan cóc tía
Phạm Thái hề,ta cũng chẳng gờm
(Ly chiến sĩ trang 16)


Trong lúc “ Ngậm một mối căm hờn trong củi sắt”, tù ước vọng có ngày tung cánh bay cao. Nhớ dĩ vãng qua hiện thực đời sống, tác giả không khỏi ngậm ngùi.

“Xưa tù nằm chiếu đất
Nghe nhạc dế ru tai
Một chút người chân thật
Không thù hận xẻ hai”


Và chung thủy trong tâm tưởng:

“Nhưng tù tôi vẫn biết
Còn một khối mang mang
Trong ngục tù khủng khiếp
Không buông súng quy hàng”
(Chuyện tù trang 26)


Vật vã giữa xứ người, quanh co trong cuộc sống, sự đổi thay cách nhìn hẳn là điều tất yếu, nhưng hồn chiến sĩ của tác gỉa lúc nào cũng dâng lên chất ngất. Ở anh, một người lính thuần thành sẳn sàng chờ nghiêm lệnh để tiếp nối cuộc di hành còn dang dở. Khí phách thay một tay súng, tay đàn hoà thêm tay bút:

“Có tên lính sau ngày buông súng
Sợ nỗi gì? chết cũng bằng không!
Chỉ sợ phồn hoa ôm gía áo
Mơ một ngày quân chuyển qua sông
Tưởng đã an nhiên nơi xứ lạ
Bỗng một ngày vang khúc hồ trường
Bạn hửu vây quanh cười ha hả
Tóc điểm sương vẫn phải lên đường”
(Tự nhủ trang 60)


Tự kiểm:“ Bẩy lăm ta mất số quân, buông súng trận,nghiến răng uất hận, máu sôi căm hờn”, những dòng chữ như giọng nói ở nốt nhạc cao vút của tác gỉa ngoài đời thường:

“Vì ai tay súng phải buông?
Chiến y, nón sắt, đầy đường ngổn ngang
Vì ai rã ngũ tan hàng?
Màu cờ, sắc áo, cư tang một đời”
(Số quân trang 65)


“Từ lúc thu quân ở tuyến đầu- Từ lúc tan hàng thân rã ngũ“, chúng ta cảm nhận thêm tình chiến hửu, hồn quân nhân dạt dào chảy không ngừng nghỉ trong huyết quản anh:

“Tự hỏi ta ơi sống thế sao?
Sao không thét hận, sóng dâng trào?
Sao không nhập cốt xương đồng đội
Chiến sĩ, hề trông, chiến sĩ nào?
(Đã chán từ lâu trang 77)


Một lời trăn trối chăng?.Một tấm lòng dâng trọn cho đất nước quê hương được thể hiện trong màu áo trận. Chàng lính ấy vẫn đậm đà trĩu nặng ưu tư cho đến ngày xuôi tay:

“Khi tôi chết
Gắn hộ ngực tôi
Huy chương một thời
Làm người lính chiến
Thác vinh sống hiển
Chẳng hổ làm người”
(Khi tôi chết trang 92)


Trong thi tập, thỉnh thoảng chúng ta bắt gặp tác gỉa gợi lại những vết hằn năm tháng qua đời tù ngục. Khí hàn Xuyên Mộc phủ lấp những hình tù đói khát, lao động gian truân; kẻ còn người mất.

“Sa Ác, mồ chôn đời tù ngục
Đất vùi lấp vội giữa rừng hoang
Tiếng cọp xua tan niềm uất hận
Hồn oan vất vưởng giữa non ngàn”
(Chiều ngang Sa Ác trang 93)


Tình yêu quê hương da diết lẫn trong thân phận nhục nhằn của kiếp người trong một đất nước đầy tai ương, khổ lụy, tác gỉa luôn vẫn là người đẫm màu hy vọng. Đẹp quê là bức họa tác gỉa luôn vẽ trong tim óc điểm xuyết trong tình lân bang thôn xóm:

“Em còn nhớ quê ta từng gịot nắng
Cũng vỡ oà quấn quit lấy bàn chân
Hoa cúc về ong bướm ngủ đầy sân
Anh nghe cả tiếng con chim tung cánh
………………………………………..
Quê ta dẫu cánh đồng khô, nước mặn
Nhưng lòng người tràn ngập sóng tình thương”
(Nắng quê hương trang 18)


Trong bài “ Chúc riêng ta”, tác gỉa rất chân thành trong câu chúc, nhân hậu trong tâm hồn qua những câu dung dị, không hoa mỹ ngôn từ, biểu lộ tính rất người nơi anh:

“Chúc ngoan con nắng gần nhà
Chúc thương cây bưởi trổ hoa cuối mùa
Chúc gầy em vẫn như xưa
Chúc sao con hỏi sững sờ bố đâu?
…………………………………..
Chúc quê hương hết đọa đầy
Bình nguyên còn thuở luống cày trổ bông

Hay trần trụi, cảm khái, ai hoài:

“Vui gì một kiếp vong thân
Còn trong tiếng nấc một phần mộ ta”
(Treo thân trang 88)


Nỗi niềm ray rức ấy cho đến ngày chung cuộc, tác gỉa vẫn băn khoăn tự hỏi:

“Tôi ngồi tôi với bao la
Không ai tôi vẫn thiết tha với người
Mai sau bên nấm mộ đời
Có bông hoa dại vì tôi nở vàng”
(Tôi ơi trang 98)


Tác giả dường như có sợi dây vô hình ràng buộc khôn nguôi trong tâm trí dù chỉ là một động tác, một hình sông dáng núi thoáng ẩn hiện đâu đó cũng dấy lên trong lòng anh những ưu tư xao xuyến.” Thấy quê hương trong ảo giác mờ…Thương quê nhà đất nước tả tơi”:

“Tưởng lần hồi quên cơn quốc nạn
Treo lầm than, say chén men nồng
Nghe tiếng hát trẻ thơ trong nắng
Ngẫm ra mình thiếu cảnh non sông”
( Nghĩ cho cùng trang 114)


Trong thi tập, dụng ngữ của anh có lúc như mũi dao nhọn xoáy thẳng vào lòng người đọc, một vô tình hay cố ý, nhưng dù sao đó cũng là điểm đặc biệt trong thi tập này. Với tôi,theo ý nghĩ thô thiển, đó là chủ ý của anh.

Những “Nỗi buồn thắt cổ, tịch cốc lòng chàng, sợi rướn chân luân hồi,cầu duyên mà vẫn tư dương bản, rủ nhau khai vị một mùa yêu,buồn tá hoả bờ vai..”, đã gây những phấn kích bất ngờ.

Chưa dứt, tác giả còn phù du trong đôi bờ sinh tử rất phù phiếm âm dương:

“Cái tâm đẫm trận mưa tình
Cổ thi ươm háng, xuất tinh luân hồi”
(Lục bát trang 51)


Trần tục qua những:” Cái quần tốc gío bắp chân thô, thành gã say đứng đái bên đường, thơ tôi bì bọp nẻo vào âm dương, ngồi trên đống chữ xịt mùi hôi…”.

Trong “Thơ tuyển Phạm Quang Ngọc”, những chủ đề nêu trên đã hài hoà đi suốt đến bài kết. Thơ anh nói “những điều tự đáy lòng, hãy tha thứ và độ lượng”.

Tác gỉa có thể ngại ngùng bày tỏ những gì thầm kín chăng?. Trong vô số loài hoa: vương gỉa, đài các, áo tiểu thư, vẫn còn có những cánh hoa hèn, hoa không tên mọc đâu đó giữa cánh rừng hoang vu hay cỏ nội hương đồng. Tác gỉa đã có chủ ý riêng cho mình,thiết nghĩ đó là sự dè chừng khi biểu cảm.

Tập thơ do Pacific Graphics & Printing in năm 2012 tại Úc Châu

Hình bìa: Hoạ sĩ Đinh Cường

Trình bày: Lã Anh Dũng

Bạt: Lê Nguyên Tịnh

Giới thiệu: Lâm Hảo Khôi

Lâm Hảo Dũng

Van, BC, Can-11/2013

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.