Hôm nay,  

Tháng Ba Ở San Jose

30/04/201300:00:00(Xem: 7199)

Giao Chỉ

Cựu chiến sĩ Hoa Kỳ hồi hương
Nếu cựu chiến sĩ Việt Nam cộng hòa còn nhớ mãi tháng 4- 1975 thì cựu chiến sĩ Hoa Kỳ cũng còn ghi nhớ tháng 3- 1973.
Trên toàn quốc nước Mỹ, các phân hội Viet Vet ghi dấu 29 tháng 3-1973 là ngày những người lính Mỹ bắt đầu rút quân khỏi Việt Nam. Thời kỳ đó, 40 năm về trước hiệp định Paris k?ý ngày 27 tháng 1-1973. Tiếp theo là 2 bên trao trả tù binh và những đơn vị Mỹ đầu tiên hồi hương.
Trên chuyến bay qua Thái bình Dương, những anh lính trẻ đã nhận được sự khuyến cáo đau thương nhất của đời lính là thay quần áo để mặc đồ dân sự khi phi cơ đáp xuống San Francisco.
Phe phản chiến có thể biểu tình nhục mạ. Trên đường về nhà hay chuyển tiếp các chuyến bay vào nội địa sẽ phải tiếp nhận những ánh mắt khinh rẻ của đồng hương. Đừng bao giờ mơ tưởng đến những vòng hoa chiến thắng choàng lên vai người anh hùng trở về trong vinh quang.
Chiến tranh Việt Nam là một sự thất bại của Hoa Kỳ ngay cả trong ngày trở về tháng 3 -1973. Hai năm sau vào tháng 3-1975 trở thành tháng 3 gẫy súng của anh chàng sĩ quan thủy quân lục chiến Cao xuân Huy. Ông Huy sau khi gẫy súng, tù đầy sau cùng được tự do để kể lại câu chuyện bi thảm tháng ba 75, nay cũng trở thành người thiên cổ.
Người cựu chiến binh Hoa kỳ và người cựu chiến binh VNCH mỗi anh đều có những niềm đau riêng.
Bức tường tưởng niệm tại San Jose.
Bốn thập niên về trước, miền bắc California là cửa ngõ của con đường đến với chiến tranh Việt Nam. Phi trường quân sự Travis và cả phi trường dân sự San Francisco hoạt động ngày đêm đưa những người lính trẻ đi vào chiến tranh.
Quân cảng Oakland hoạt động 7 ngày 24 giờ để tiếp vận quân dụng. Vịnh Cựu kim Sơn cũng là cái nôi của phản chiến. Những chàng trai 20 tuổi không có nhiều lựa chọn. Hoặc là đốt thẻ trưng binh trốn qua Canada hay là lên đường không kèn không trống.
Thành phố San Jose tuy không phải là địa bàn trực tiếp của phản chiến nhưng cũng là phần đất của Bay Area nên đã bị ảnh hưởng.
Trong chiến cuộc Việt Nam, San Jose ngày xưa là một thị trấn quê mùa nhưng cũng đã có hàng ngàn người ra đi và 142 chàng trai trẻ trở về trên hòm gỗ cài hoa. Vào thời đó các gia đình tử sĩ âm thầm nhận di hài của người thân và ôm niềm đau thương khôn nguôi.

Và niềm đau mất mát đó lại được ghi nhận sâu đậm thêm 2 năm sau khi miền Nam thất thủ 1975 để chứng tỏ dường như cái chết của con em họ chẳng đem lại điều gì chứng minh nước Mỹ thành công trong công cuộc bảo vệ tự do ở Đông Nam Á.
Sau khi chịu đựng niềm khắc khoải 40 năm, cuối tuần qua tại San Jose một bức tường tưởng niệm lần đầu tiên tại vùng Vịnh được khánh thành. Bức tường đá đen đặt cạnh vận động trường Arina mang tên hãng HP. Trên bức tường khắc tên 142 chiến binh, những đứa con trai của San Jose đã hy sinh tại Việt Nam. Tên, ngày sanh, ngày chết. Tựa đề của bức tường này là Sons of San Jose. Hơn 500 người đã đến dự lễ tưởng niệm cho một công trình hết sức ý nghĩa của 1 nhóm 5 người Mỹ làm việc suốt 5 năm qua. Khởi sự vận động quyên góp từ tháng 02-2008 và hoàn tất tháng 2-2013. Đứng đầu tổ chức xây dựng là một cựu chiến binh cùng với vợ đã có sáng kiến. Ông cũng là người tích cực thực hiện niềm ước mong làm điều gì cho chiến hữu chết tại Việt Nam. Ba thành viên còn lại cũng đều là cựu chiến binh. Không anh nào có chức tước quan trọng. Tất cả chỉ là binh sĩ và hạ sĩ quan. Sau khi ở VN về, những người lính này cùng trở lại đại học và hiện đã thành đạt, có công việc, có gia đình. Rất may mắn là họ không phải đứng đường với bảng Việt Vet homeless.
Buổi trưa thứ bảy 30 tháng 3-2013 các cựu chiến binh Hoa Kỳ tại Việt Nam có cơ hội nhỏ lệ muộn màng để khóc cho 142 đứa con của San Jose đã hy sinh. Trong danh sách yểm trợ cho bức tường có tên một hội đoàn và một cá nhân. Cả hai tên đều nhân danh trường võ khoa Thủ Đức. Có thể quá ít ỏi nhưng có còn hơn không. Vào buổi lễ tưởng niệm, chỉ có hơn 10 cựu sinh viên sỹ quan Thủ Đức tham dự và một vài người Việt Nam. So với hơn 100 ngàn dân Việt tại vùng San Jose, sự hưởng ứng của cộng đồng chúng ta xem chừng quá ít. Rõ ràng là chưa xứng đáng với nước Mỹ chấp nhận 1,700,000 dân Việt, chưa xứng đáng với 58,000 lính Mỹ hy sinh, và chưa xứng đáng với 142 đứa con của San Jose đã chết trong chiến tranh Việt Nam.
Có lẽ cũng cần xem lại mối duyên tình của cựu chiến binh Mỹ và đồng hương và cựu quân nhân Việt Nam tại phần đất tự do và đầy triển vọng này. Nhưng muộn còn hơn không. Xin hãy đến thăm viếng và đặt một bông hoa vàng Việt Nam dưới chân bức tường vào mỗi sáng chủ nhật.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.