Hôm nay,  

Toàn Cầu Hóa Ngôn Ngữ

3/12/200900:00:00(View: 9419)

TOÀN CẦU HÓA NGÔN NGỮ

Mai Thanh Truyết
Danh từ toàn cầu hóa đã trở thành một từ quen thuộc trong ngôn ngữ của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nói đến toàn cầu hóa, đa số đều liên tưởng đến sự toàn cầu hóa về kinh tế, chính trị, kỹ thuật, phát triển và môi sinh... Nhưng còn một yếu tố thiết nghĩ cần phải nhấn mạnh thêm trong lãnh vực văn hóa là vấn đề ngôn ngữ. Do đó, nội dung của bài viết nầy nói lên một vài mối quan tâm về sự toàn cầu hóa ngôn ngữ, hay đặc biệt hơn nữa, Anh ngữ trong hiện tại là một sinh ngữ quốc tế có khả năng áp đặt và ảnh hưởng lên văn hóa của các quốc gia trên toàn thế giới.
Trên thế giới, hiện  có khoảng trên dưới 500 triệu người đang sử dụng tiếng Anh như là một quốc ngữ, và khoảng phân nửa dân số dùng Anh ngữ như là một ngôn ngữ thứ hai. Hiện tại, số lượng người đang học tiếng Anh tại các quốc gia tăng dần và theo dự báo sẽ có phân nửa nhân loại sẽ thông thạo tiếng Anh năm 2050. Sụ áp dụng tiếng Anh vào chương trình giáo dục của các quốc gia đã trở thành một nhu cầu cần thiết trước tiến trình toàn cầu hoá ngày hôm nay.
Dù phải chấp nhận hay phủ nhận, Anh ngữ hoàn toàn đã được xem như một “linga franca” (ngôn ngữ giao tiếp) cho truyền thông toàn cầu. Câu “Anh ngữ là một sinh ngữ quốc tế” đã được Brian Paltridge phát biểu đầu tiên trong kỳ hội nghị về ngôn ngữ tại Đông Tây Học viện thuộc đại học Hawai năm 1978. Từ đó, có rất nhiều thảo luận đã được khơi mào về tính chất phức tạp trong việc xử dụng Anh ngữ như là một ngôn ngữ của thế giới. Tính phức tạp nầy thể hiện trong cả hai phần lý thuyết và thực hành. Và cũng bắt nguồn từ đó, có rất nhiều bài viết trong các đại học lưu ý và cảnh báo về tính áp đặt của Anh ngữ. Dư luận quần chúng khắp nơi cũng bắt đầu lưu tâm đến vấn nạn nầy vì quan niệm rằng sự dung nạp Anh ngữ vào chính quốc có thể làm xói mòn các giá trị văn hoá của dân tộc.
Nói cho rốt ráo, việc sử dụng Anh ngữ đã tăng trưởng và dự phần trong hầu hết các lãnh vực như hội nghị, thương mãi, giáo dục, nghiên cứu, điện ảnh, âm nhạc, du lịch, và ngay cả trong các ngành đặc biệt như hàng không, hàng hải, tin học và truyền thông. Hiện tượng nầy đã xảy ra khắp toàn cầu từ các thành phố văn minh ở Âu châu cho tới các vùng thôn dã của các quốc gia ở Phi châu hay Á châu. Cho dù ở bất cứ nơi nào, cho dù có nhiều dị biệt về văn hóa, phong tục và tôn giáo, Anh ngữ cũng đã được sử dụng nhuần nhuyễn dưới hai dạng nói và viết để thông đạt đến các mục tiêu truyền thông. Tuy nhiên, nếu nhìn dưới một góc độ khác, nhiều người đã bắt đầu nghi ngờ sự tiện dụng của Anh ngữ sẽ trở thành một nhân tố tiêu cực trong tiến trình toàn cầu hóa của sinh ngữ nầy.
Kể từ các thế kỷ trước, và tương tự như các sinh ngữ thực dân như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh ngữ cũng được sử dụng như một sinh ngữ chính ở các xứ thuộc địa. Học sinh ở những quốc gia không nói tiếng Anh, đã được cổ súy và khuyến khích học Anh ngữ song hành với các ngoại ngữ khác để được tiếp cận với văn minh và văn hóa Tây phương.
Anh ngữ tại Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một hợp chủng quốc và thời gian lập quốc chỉ vừa hơn 220 năm. Quốc gia nầy thể hiện một tính đa văn hóa thực sự. Hơn bất cứ quốc gia nào trên quả địa cầu, Hoa Kỳ đã hiện có 85 ngôn ngữ khác nhau đang được giảng dạy trong hệ thống giáo dục trong nước. Các ngoại ngữ lần lần chiếm giữ vai trò quan trọng tùy theo mật độ dân cư ngoại quốc cư ngụ trong từng học khu giáo dục. Sự nhìn nhận Hoa kỳ là một melting pot cách đây hơn nửa thế kỷ có lẽ không còn thích hợp cho ngày hôm nay.
Vì, xã hội Hoa Kỳ hiện tại không còn là một xã hội thuần nhất và cuốn hút văn hóa của các sắc dân di dân nữa. Xã hội Hoa kỳ hiện tại là một xã hội đa văn hóa. Chính sự đa dạng văn hóa nầy làm cho Hoa Kỳ tiến nhanh và tiến tự nhiên theo tiến trình toàn cầu hóa. Sống ở Hoa Kỳ lần lần ta không còn cảm thấy mất cội nguồn, mà ngược lại, những nét đặc thù tinh túy của dân tộc lại càng thêm khởi sắc vì sự chung đụng giữa các văn hóa dị chủng khác nhau. Tiến trình tòan cầu hóa tại Hoa Kỳ chẳng những không biến các bản sắc văn hóa của các di dân thành một, mà là một tập hợp các dị biệt văn hóa của từng sắc dân. Sau cùng tất cả quy tụ lại thành một khối đa văn hóa, tuy khác biệt nhưng không mâu thuẩn, tuy đặc thù nhưng vẫn sống hài hòa trong một xã hội thực sự đang tiến vào kỷ nguyên mới của toàn cầu. Hoa Kỳ là hình ảnh nhỏ minh họa cho sự toàn cầu hóa: nhiều dân tộc Đại Hàn, Việt Nam, Trung Hoa, Phi, Ấn, Á Rập, Mễ, Trung Mỹ, Đông Âu, v.v...sống chung đụng nhau. Melting pot là hình ảnh táo, nho, xoài, mận, cam quit để chung lại quậy tán nhỏ  thành một melting pot, là dân Mỹ. Đó là hình ảnh không còn nền văn hóa gốc. Khoảng hai thập niên gần đây, người ta hình dung lại Hoa Kỳ là một salad bowl, rau cải, cà rốt, tô mát, hành, ngò,...ở bên nhau, vẫn giữ những mùi vị đặc thù của chúng, nhưng vẫn có cái chất kết hợp như dầu, dấm, tiêu, muối,...để làm nên một salad bowl.
Tại Hoa kỳ, các di dân, một nguồn nhân lực đã và đang đóng góp một phần không nhỏ vào kinh tế của quốc gia nầy, được giảng dạy Anh ngữ như một sinh ngữ thứ hai (English as a second language_ESL) trong tiến trình hội nhập vào đời sống và văn hóa địa phương. Tuy có để ý đến nguồn gốc của người di dân, nhưng chính sách trên có mục đích duy nhất là giúp người di dân sớm hội nhập vào dòng chính của xã hội Mỹ, và dĩ nhiên, sau đó người di dân ít có điều kiện để sử dụng ngôn ngữ của nguyên quốc nữa. Có chăng là chỉ xử dụng trong phạm vi gia đình và các ngôn từ của quốc gia gốc sẽ lần lần bị quên lãng (trường hợp của trẻ em Việt Nam sống tại Hoa Kỳ). 
Trên bình diện thế giới, Hoa Kỳ lần lần chiếm lĩnh thế thượng phong trong tư cách một siêu cường và lãnh đạo thế giới trong các lãnh vực quân sự, kinh tế, chính trị, và công nghệ. Do đó, nếu muốn đuổi kịp theo các đà tiến hóa trên, các quốc gia khác không còn con đường nào khác hơn là phải học và biết Anh ngữ. Từ hiện tượng trên, hầu hết các quốc gia không nói tiếng Anh, đặc biệt nhất là những quốc gia đang phát triển bắt đầu chấp nhận và sử dụng Anh ngữ trong giao tế, xem như đây là một phương tiện cần thiết để tiến thân mà chưa nhận thức được rằng Anh ngữ sẽ là mầm mống ảnh hưởng bất lợi lên nền văn hóa của họ trong tương lai. Hơn nữa, với tư cách thượng phong và siêu cường, Hoa kỳ đã làm cho người Mỹ có thái độ cao ngạo, tự cao tự đại trong việc tiếp cận với các nền văn hóa khác trên thế giới. Việc học một sinh ngữ khác Anh ngữ đối với người Hoa Kỳ không là một nhu cầu cần thiết. Trong hệ thống giáo dục Hoa Kỳ ở bậc trung học, chỉ có một vài ngoại ngữ được ghi vào chương trình học như Pháp, Đức, Tây Ban Nha, và Nga... và học sinh chỉ cần hoàn tất bốn lục cá nguyệt để đạt được tiêu chuẩn tốt nghiệp. Ngược lại, trong hầu hết các hệ thống giáo dục Âu châu và Á châu, học sinh cần phải trải qua bốn niên học để hoàn tất học trình sinh ngữ.
Anh ngữ tại Pháp
Có thể nói nước Pháp là một quốc gia cưỡng lại sự áp đặt của tiếng Anh trong mọi giao dịch. Có lẽ vì tự ái dân tộc, và cũng có lẽ vì người Pháp bảo thủ và không thích học thêm tiếng nước ngoài" Hàng năm chính phủ Pháp vẫn chi tiêu hàng trăm triệu Mỹ kim cho các chương trình hỗ trợ tiếng Pháp ở nước ngoài, đặc biệt là các quốc gia thuộc địa cũ, trong đó có Việt Nam.
Người Pháp đã từng hãnh diện về văn minh, văn hóa của họ. Họ vẫn còn đang tự hào về một sắc dân thuần chủng gaulois, văn minh nhất thế giới ở thế kỷ 21 nầy. Họ cũng đã phủ nhận Anh ngữ như là một ngôn ngữ của toàn cầu. Hậu quả, dân Pháp là một trong những dân tộc kém ngoại ngữ trên thế giới. Với những suy nghĩ trên và cung cách tiếp cận còn khép kín trong hành xử và trong tư tưởng, với tâm khảm đầy tự hào và tự mãn dân tộc, người Pháp từ ở thế cường quốc số một trên thế giới từ thế kỷ 19, đã đi xuống và tuy vẫn được xem là một cường quốc nhưng tiếng nói của nước Pháp bớt được lắng nghe.
Với tầm quan trọng của Anh ngữ trước tiến trình toàn cầu hóa, cũng như cảm nhận được tính cực đoan và bảo thủ của dân Pháp. Người Pháp, trong lãnh vực internet, cố gắng dịch thuật các từ thông dụng trên truyền thông tin học ra Pháp ngữ mà đôi khi không hiểu rõ ý nghĩa thực sự của các từ đó. Đại để như CD rom ra Cédérom, start-up ra jeunes pousses, hoặc stock option ra option sur titre. Quốc gia nầy đã thể hiện hai luồng tư tưởng hoàn toàn trái ngược và có cung cách hành xử không giống ai trước sự toàn cầu hóa ngôn ngữ. Hiện tượng trống đánh xuôi, kèn thổi ngược thật rõ ràng. Chính quyền và người dân Pháp không đi cùng một hướng. Kể từ tháng 2/2000, chính phủ Pháp đã đề ra trong luật an toàn không lưu về việc sử dụng Anh ngữ khi đi và đến phi trường De Gaulle (Paris). Nhưng phi công Pháp vẫn không chấp hành luật trên và vẫn dùng Pháp ngữ trong trao đổi. Năm 1994, Bộ trưởng Giáo dục Pháp Claude Allègre yêu cầu các nhà nghiên cứu, khoa học gia trình bày bằng Anh ngữ trong khi viết khảo luận hay báo cáo; kết quả cho thấy rằng tuyệt đại đa số các tài liệu nghiên cứu từ Pháp vẫn hoàn toàn được soạn thảo bằng Pháp ngữ.
Anh ngữ áp dụng cho các quốc gia trên thế giới
Trên thế giới ngày nay, người Hoa Kỳ không gặp khó khăn trong khi giao dịch thương mãi hay đi du lịch vì họ biết rằng Anh ngữ sẽ được xử dụng bất cứ nơi nào họ định đến. Ngược lại, du khách khi nhập cảnh vào Hoa Kỳ phải cần thông dịch viên hay phải có một trình độ Anh ngữ để trao đổi với người Mỹ trong mọi dịch vụ. Trên thế giới, tất cả phi công thương mãi đều được huấn luyện bằng Anh ngữ để được thống nhất thi hành các quy luật an toàn không lưu. Trong truyền thông, công nghệ tin học, Anh ngữ cũng được sử dụng cùng khắp. Tại Liên Hiệp Quốc, mặc dù Anh ngữ chỉ là một trong bốn sinh ngữ chánh được dung trong các văn kiện chính thức trong đó có Pháp, Nga, và Hoa ngữ, nhưng tiếng Anh vẫn được hầu hết các đại biểu dùng để trao đổi lẫn nhau.
Vậy, đứng trên bình diện của từng quốc gia, vấn đề được đặt ra là:  Các ảnh hưởng của việc toàn cầu hóa ngôn ngữ cần phải được duyệt xét lại để tìm một hướng đi phù hợp với điều kiện văn hóa và phong tục của từng địa phương" Phần trình bày tiếp theo sẽ nói lên tính đặc thù của một số quốc gia trong phương cách hóa giải hoặc cân bằng vấn nạn toàn cầu hóa ngôn ngữ.


Đức Quốc: Trước hết, Đức quốc với chủ nghĩa dân tộc cực đoan trước đây đã làm náo động thế giới qua hai cuộc đại chiến và làm tê liệt thế giới một thời gian. Ngày nay, lãnh đạo Đức đã nhận thức được sự sai lầm trên và lần lần điều chỉnh kể từ sau thế chiến thứ hai. Ngôn ngữ chính là Đức ngữ đã được tiếp thu thêm nhiều từ mới từ Anh và Pháp ngữ. Hiện tại, người dân Đức đã học và trao đổi với thế giới bên ngoài bằng Anh ngữ và phát sinh ra một ngôn ngữ đặc trưng gọi là Denglisch, một điều thật hiếm hoi so với người Đức bốn thập niên về trước. Đức là một cường quốc đứng thứ tư trên thế giới hiện tại trên bảy cường quốc đứng đầu.
Trung Quốc: Gần chúng ta nhất là Trung Quốc, một quốc gia hầu như đi ngược lại hoàn toàn với Hoa Kỳ trên phương diện toàn cầu hóa. Từ ngàn xưa, xã hội Trung Quốc là một xã hội phong kiến lấy nông nghiệp làm nền tảng. Hơn 50 năm dưới chế độ xã hội chủ nghĩa với biết bao kế hoạch nhảy vọt trên giấy tờ...Trung quốc vẫn còn bị xếp vào hạng các quốc gia đang phát triển. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan vẫn cho phép người Trung Hoa suy nghĩ với một cung cách tự mãn và chính họ vẫn tự công nhận xuất thân từ nguồn gốc của một dân tộc thượng đẳng “con trời” (Thiên tử) và tổ quốc Trung Hoa là trung tâm của nhân loại. Họ vẫn còn tự ru ngủ với những áng văn chương tuyệt tác, những bài đường thi tứ tuyệt vượt thời gian và không gian...của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu...
Và cuối cùng họ chơi vơi, chới với trước tiến trình toàn cầu hóa. Xã hội Trung Quốc, tuy đã mở nhiều so với hai mươi năm trước đây, nhưng vẫn chưa đủ mở vì các lực cản của chế độ chuyên chính đang áp đặt lên đất nước Tàu.
Nhưng trong vòng 10 năm trở lại đây, Trung Quốc đã áp đặt Anh ngữ vào chương trình giáo dục từ lớp ba bậc tiểu học. Hiện tại, có khoảng trên dưới 100 triệu người Trung Hoa có khả năng tiếng Anh trong giao dịch.
Iceland: Tại quốc gia ốc đảo Iceland, mặc dù toàn thể dân chúng đều thông thạo Anh ngữ, nhưng dưới mắt của Mary William Walch, Icelandic là một ngôn ngữ ái quốc (patriotic language) bất khả xâm nhập và thay thế. Nhưng trên mạng lưới truyền thông internet, Anh ngữ vẫn được sử dụng và Microsoft đã “vứt vào sọt rác ngôn ngữ Icelandic” (lời của M.W. Walch). Microsoft cũng đã từ chối chuyển window 98 ra ngôn ngữ ái quốc của quốc gia nầy. Trước hiện trạng trên, Iceland cố gắng chuyển ngữ các từ trên window thành ra các từ Icelandic mới với mục đích bảo tồn ngôn ngữ của chính quốc. Điều nầy đã làm cho giáo sư Arnason ở đại học Iceland không đồng ý và căm phẩm, vì dưới mắt ông đây là một nguy cơ to lớn vì “học sinh cầm máy computer, và ngôn ngữ của computer sẽ trở thành ngôn ngữ được áp dụng cùng khắp ngay cả nơi nhà bếp”. Do đó vấn nạn nầy sẽ đưa đến một nguy cơ khác là làm thế nào để cho trẻ con Iceland trong tương lai còn nói được tiếng Icelandic.
Na Uy, Thuỵ Điển, Phần Lan, và Hoà Lan: Ngược lại, các quốc gia vừa nêu đã dung hợp được các khuynh hướng đối nghịch cực đoan và chấp nhận những từ Anh ngữ như là những ngôn từ mới của Na Uy và làm giàu thêm kho tàng danh từ khoa học và truyền thông cho quốc gia.
Ghana: Tại Ghana (Phi châu), dân số của quốc gia nầy khoảng 9 triệu người và có khoảng hơn 50 ngôn ngữ khác nhau được sử dụng trong mọi dịch vụ. Hiện tượng đa ngôn ngữ nầy làm cho Anh ngữ trở thành một thứ ngôn ngữ trung gian ở cấp giáo dục trung học, đại học và các dịch vụ công cộng. Đa số báo chí nơi đây ấn hành bằng Anh ngữ. Đài phát thanh quốc gia chuyển đạt tin tức cũng bằng Anh ngữ ngay cả ở nông thôn.
Việc sử dụng Anh ngữ đã mang lại nhiều kết quả tích cực trong giáo dục, truyền thông, và  hiệu năng trong việc điều hành quốc gia, nhưng ngôn ngữ nầy cũng đã bắt đầu đưa đến nhiều mối quan ngại cho chính quốc Ghana. Dòng sóng ngầm của chủ nghĩa đế quốc có thể xảy ra bất cứ lúc nào từ sự áp đặt ngôn ngữ trên vì hiện tại dù muốn dù không, Ghana cũng không thể nào tách rời được hấp lực chính trị-kinh tế của Hoa Kỳ. Hiện trạng phân liệt do hai yếu tố chính trị và xã hội đã chia người dân Ghana làm hai loại công dân. Đa số người Ghana nói được tiếng Anh có thái độ hống hách, tự cao tự đại và tỏ vẻ khinh miệt các đệ nhị công dân Ghana không nói được tiếng Anh. Tình trạng nầy có thể làm hủy diệt các thổ ngữ của Ghana trong tương lai.
Nhật Bản: Qua trường hợp Nhật bản, việc xâm lấn của Anh ngữ đã thể hiện một hình thức rất khác biệt. Nicholas Christof đã nhận định trong một bài viết trên báo New York Times rằng giới trung niên và bô lão Nhật bản lộ rõ hai trạng thái tâm lý phiền nảo và bất ổn. Họ phải trực diện với nhiều thách đố trong sinh hoạt hàng ngày như phải nhận diện các bảng chỉ đường mới, khó khăn trong việc chọn lựa món ăn trong các thực đơn ở hàng quán hay truy tìm các quán ăn có nhà vệ sinh. Hơn nữa, họ gặp thêm nhiều cản ngại trong việc đọc sách, xem truyền hình, theo dõi tin tức, sử dụng máy điện toán và trầm trọng hơn cả là việc tiếp cận và thông cảm thế hể trẻ của Nhật bản.
Trong một quốc gia có truyền thống dân tộc cao như Nhật mà hầu hết mọi diễn đạt được trình bày bằng Anh ngữ hay “ba rọi” làm người Nhật lớn tuổi không hài lòng. Các từ du nhập từ Anh ngữ như Sutaato botan thay thế cho Start button, Kurikku thay thế cho Click, Paati menyuu cho Party menu, Ruijiana sutairu kurabukeeki cho Louisiana-style crab cakes... thể hiện tính thời thượng ở giới thượng lưu nhưng rất “cà chớn” về phương diện ngôn ngữ học. Lứa tuổi trung niên quan ngại cho tương lai của Nhật bản. Tuổi trẻ Nhật bản ngày càng chìm đắm trong khuynh hướng chấp nhận Anh ngữ làm ngôn ngữ chính cũng như ngôn ngữ Japlish (tiếng Anh-Nhựt) ngay cả trong điều kiện họ có khả năng diễn đạt nhuần nhuyển bằng ngôn ngữ của chính quốc. Ảnh hưởng của tiếng Anh càng hiện rõ thêm qua sự phân biệt hai thế giới sống khác biệt áp dụng cho lớp trẻ và lớp già tuy cùng nhau chia một mái nhà Nhật bản.
Nhật bản phải chịu ở thế bại trận năm 1945 khi đất nước hoàn toàn bị tàn phá về đủ mọi mặt. Nhưng người Nhật chấp nhận sự nhục nhã chấp nhận đi theo bước chân Mỹ để khôi phục lại kinh tế cho đất nước. Họ tự cởi trói, thoát khỏi những tập tục cổ truyền không còn thích hợp với tiến bộ mới. Họ chấp nhận sự du nhập một số “văn hóa Hoa kỳ” vào văn hóa dân tộc cực đoan, từ bỏ không luyến tiếc những tập tục có thể gây trở ngại cho đà phát triển theo chiều hướng toàn cầu. Họ đã chấp nhận Anh ngữ là một ngôn ngữ chính thức sau Nhật ngữ trong hành chánh và trao đổi quốc tế. Và Nhật, ngày nay là một cường quốc đứng thứ hai sau Hoa kỳ.
Việt Nam: Trong trường hợp Việt Nam, ảnh hưởng của văn hóa và ngôn ngữ Pháp rất quan trọng kể từ cuối thế kỷ 19. Vào giữa thế kỷ 20 có thể nói rằng hầu hết trí thức từ Bắc chí Nam đều xử dụng Pháp ngữ một cách rành rọt. Trong chương trình giáo dục trung học và đại học Việt Nam thời đó, Pháp ngữ là một ngôn ngữ chính dùng cho việc giảng dạy. Nhưng cho đến niên học năm 2000, trong kỳ thi tốt nghiệp trung học trên toàn quốc với tổng số 528.380 học sinh, chỉ còn 18.006 thí sinh chọn Pháp ngữ, trong khi đó có 471.585 thí sinh chọn Anh ngữ (và chỉ trên dưới 10 ngàn chọn Nga ngữ làm sinh ngữ chính). Nói tóm lại, Anh ngữ đã chiếm lĩnh toàn cầu trong hầu hết mọi lãnh vực trên hành tinh nầy. 
Đối với Việt Nam, tâm lý chuộng Anh ngữ đã xâm nhập lên mọi sinh hoạt của người dân, đặc biệt nhất là ở các thành phố lớn. Hơn bao giờ hết, xã hội Việt Nam đã cho chúng ta thấy một hình ảnh rạch ròi nhất trong tinh thần chuộng Anh ngữ ngày hôm nay. Muốn đạt đến đỉnh cao địa vị kinh tế-chính trị-xã hội, ngoài tính “hồng hơn chuyên” người dân cần phải “thông thạo” Anh ngữ. Hầu hết những cửa ngõ cho tương lai đều phải bắt đầu bằng Anh ngữ. Từ đó một số bản sắc dân tộc có thể lần lần biến mất do sự du nhập vào xã hội những “văn minh” Tây phương không phù hợp với tinh thần Việt Nam.
Thay lời kết
Để kết luận, dù chiếc huy chương nào cũng có hai mặt, nhưng thiết nghĩ cũng cần phải cân nhắc để có thể giữ thế thăng bằng cho xã hội. Nếu nhìn trên bình diện tích cực, hiện tượng toàn cầu hóa Anh ngữ đã giải quyết một phần nào vấn nạn nghèo đói ở một số quốc gia đang phát triển, làm cho đời sống của người dân ở các quốc gia nầy từng bước được nâng cao hơn về nhiều mặt. Nhưng nếu nhìn về một khía cạnh khác, nếu chính quyền bản xứ không sáng suốt, tâm lý và dân trí người dân không được chuẩn bị và cân nhắc kỹ lưỡng thì việc tòan cầu hóa ngôn ngữ sẽ làm đão lộn cả hệ thống văn hóa-xã hội- kinh tế-chính trị của những quốc gia đang phát triển.
Việt Nam đã có truyền thống văn hóa lâu đời và bền vững. Nhưng lịch sử cũng đã chứng minh rằng, trong thời Pháp thuộc và trong chiến tranh gần đây xã hội-phong hóa Việt Nam đã bị ô nhiễm, đã có nhiều rạn nứt và xáo trộn không những vì hệ lụy của chiến tranh mà cũng vì tinh thần “vọng ngoại” trong đó Pháp ngữ ngày xưa và Anh ngữ ngày nay là một trong những thước đo giá trị trong nấc thang xã hội Việt Nam.
Ngôn ngữ quốc gia là một hồn nước và phải cần được bảo vệ để tránh các áp đặt hay trấn áp như một số nhà ngôn ngữ học cảnh báo do sự toàn cầu hóa ngôn ngữ gây ra. Khái niệm về sự kiện nầy đã là một thực tế đang diển tiến trên toàn cầu. Do đó, muốn tránh khỏi sự cuốn hút của sức mạnh toàn cầu hóa trên, các quốc gia đang phát triển cần phải có một tầm nhìn dân tộc và nhân bản mới hy vọng bảo tồn được hồn nước cho dân tộc. Nên nhờ rằng, dù Anh ngữ là một ngôn ngữ toàn cầu nhằm mục đích thông tin, trao đổi và đối thoại giữa các quốc gia đối tác trên thế giới. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta phải hội nhập và áp đặt hoàn toàn Anh ngữ trong giao dịch mà quên đi ngôn ngữ của chính quốc. Bỡi lẽ, ngôn ngữ chính quốc mới thực sự thể hiện được hồn nước và văn hoá dân tộc. Đó mới đích thực thể hiện tính đặc thù của từng quốc gia.
Đừng vì lợi nhuận trước mắt, đừng vì nhu cầu phát triển kinh tế cấp bách, và cũng đừng vì phải bảo vệ chiếc ghế quyền lực mà bỏ quên hồn nước thiêng liêng của dân tộc.
Mai Thanh Truyết
VAST – 3/2009

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.