Hôm nay,  

Khủng Hoảng Vì Hốt Hoảng

14/02/200800:00:00(Xem: 10382)

RFA & Nguyễn Xuân Nghĩa

 ...khi tiêu thụ tại Hoa Kỳ sút giảm thì xuất khẩu của Việt Nam cũng giảm và nạn nhập siêu sẽ tăng...

Trong những tháng vừa qua, cả thế giới đều ưu lo về tình hình kinh tế Hoa Kỳ, vì sợ rằng kinh tế Mỹ mà bị suy trầm thì mình cũng bị ảnh hưởng. Diễn đàn Kinh tế đai2ì RFA tìm hiểu về hiện tượng tâm lý ấy qua phần trao đổi sau đây cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, do Việt Long thực hiện hầu quý thính giả.

 Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, từ tháng Tám năm ngoái và nhất là qua mấy đợt cắt giảm lãi suất liên tục tại Hoa Kỳ vào đầu năm nay, cả thế giới đều e rằng kinh tế Mỹ có thể bị suy trầm với ảnh hưởng lan rộng đến các nước khác. Ông đã nói qua về đề tài này trong một số kỳ trước, nhưng gần đây các nước đã có những phản ứng cụ thể trên địa hạt kinh tế, liên quan đến vấn đề này. Vì thế chúng tôi đề nghị là ta lại cùng tìm hiểu sâu xa hơn về đề tài vì sao kinh tế Mỹ lại có tầm quan trọng lớn lao như vậy với kinh tế thế giới"

- Đây là một thắc mắc chính đáng và việc mình tìm hiểu về đề tài này sẽ có lợi cho Việt Nam khi thẩm định ảnh hưởng của Hoa Kỳ và quyết định về chiến lược kinh tế của mình.

 Nói về sức sản xuất thì kinh tế Hoa Kỳ có sức sản xuất chỉ bằng từ 22 đến 25% của sản lượng địa cầu, một sức nặng có giảm sút nhiều so với mấy thập niên về trước khi tổng sản lượng nội địa, gọi tắt là GDP, của Mỹ chiếm một phần ba tổng sản lượng thế giới.

 Con số GDP đó chỉ ra sức sản xuất của một nền kinh tế, bao gồm tất cả mọi hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong một thời khoảng nhất định, thí dụ là một năm, trên một lãnh thổ nhất định như của một quốc gia, bất kể tới quốc tịch của nhà sản xuất. Về thống kê thì đó là tổng số của tiêu thụ, đầu tư gộp, công chi ngân sách và kết số của cán cân thương mại, tức là số xuất khẩu trừ đi nhập khẩu, trong một tài khóa, là một năm kế toán.

Nhưng Hoa Kỳ sở dĩ có ảnh hưởng lớn tới sinh hoạt kinh tế vì hai yếu tố. Thứ nhất, tiêu thụ tại Mỹ chiếm tới hơn hai phần ba của tổng sản lượng GDP, nên sức tiêu thụ của Mỹ trở thành lực kéo cho nền kinh tế nào bán hàng cho Mỹ. Thứ hai, nhiều nền kinh tế lại giàng bộ máy sản xuất của mình vào kinh tế Mỹ qua xuất nhập khẩu và đầu tư, hoặc qua chính sách ngoại hối, tức là quy định tỷ giá đồng bạc của mình từ đồng Mỹ kim.

Hậu quả là dù chỉ sản xuất hơn 20% sản lượng thế giới, kinh tế Mỹ vẫn ảnh hưởng tới 60% vào đà tăng trưởng của kinh tế thế giới. Thí dụ như kinh tế thế giới mà tăng trưởng bình quân chừng 5% một năm thì kinh tế Mỹ ảnh hưởng tới 3%. Tiêu thụ tại Mỹ mà giảm là sẽ ghìm sức sản xuất của các nước khác theo tỷ lệ đó, nếu các xứ này lệ thuộc vào Mỹ.

 Hỏi: Nhưng vì sao gần đây dư luận thế giới lại có vẻ hốt hoảng về những gì xảy ra tại Mỹ trong khi nhiều quốc gia, kể cả Việt Nam hay Trung Quốc, đã đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, tưởng như đã có thể tách rời khỏi sức hút của kinh tế Hoa Kỳ" Trong khi đó thì ông Lý Quang Dịêu ở Singapore tuyên bố là châu Á sẽ không bị rơi vào suy trầm vì kinh tế ở Mỹ"   

 - Chỉ vì một hiện tượng tôi xin tạm gọi là quên trí nhớ, tức là có ký ức rất mỏng, đi cùng tật chủ quan và ưa hốt hoảng! 

Trong năm năm liền, nhiều quốc gia đã có tốc độ tăng trưởng rất cao và buôn bán với nhau rất nhiều nên tưởng rằng cái trớn sản xuất ấy đã giúp mình bay khỏi quỹ đạo Mỹ. Như trong năm ngoái, khi sản xuất tại Hoa Kỳ bắt đầu sút giảm nhẹ từ quý ba trở đi thì kinh tế các nước vẫn tăng trưởng mạnh. Người ta gọi đó là hiện tượng "tách rời khỏi Mỹ", nôm na là ra khỏi trạng thái lệ thuộc vào kinh tế Mỹ, nên kinh tế Hoa Kỳ có bị suy trầm thì cũng không gây suy trầm cho thế giới. Qua tới năm nay thì thiên hạ có phản ứng trái ngược, và phải nói là thái quá, từ phía Hoa Kỳ lẫn thế giới ngoài Hoa Kỳ. Người ta đang lo sợ là Mỹ mà hắt hơi thì xứ khác lại bị cảm mạo.

 Hỏi: Ông vui lòng giải thích thêm nữa theo khía cạnh kinh tế, thay vì trên khía cạnh tâm lý đưa đến cả chủ quan lẫn hốt hoảng vân vân. Câu hỏi là vì sao kinh tế Hoa Kỳ lại có hiệu ứng mạnh như vậy"

- Ta cần nhìn rõ hiện tượng tạm gọi là "chuyển lực", là bốn yếu tố khiến sự thăng trầm tại Mỹ có thể kéo theo sự thịnh suy của xứ khác.

 Đầu tiên là qua trao đổi kinh tế gồm có buôn bán và đầu tư tại các nước có quan hệ với kinh tế Hoa Kỳ. Tiêu thụ tại Mỹ mà giảm thì xuất khẩu vào Mỹ cũng sụt và doanh lợi đầu tư của xứ khác vào Mỹ cũng giảm theo. Thí dụ như Việt Nam đạt xuất siêu một tỷ Mỹ kim với Mỹ là nhờ bán nhiều hơn mua của Hoa Kỳ; khi tiêu thụ tại Hoa Kỳ sút giảm thì xuất khẩu của Việt Nam cũng giảm và nạn nhập siêu sẽ tăng, với ảnh hưởng trên tỷ giá đồng bạc của Việt Nam.

 Bộ phận chuyển lực thứ hai là luồng trao đổi tài chính giữa các nước với nhau, như đầu tư hay vay mượn của nhau. Vụ khủng hoảng tín dụng địa ốc do trái bóng tín dụng loại thứ cấp bị bể tại Mỹ đã kéo theo khủng hoảng tín dụng tại các xứ khác, thí dụ như Âu châu, khiến tín dụng khan hiếm có thể đánh sụt đầu tư và sản xuất ở mấy xứ đó.

Thứ ba là khi sản xuất bị đình đọng và xuất khẩu sút giảm, số cầu về nguyên nhiên vật liệu trên thế giới, thí dụ như dầu thô, kim loại hay nông phẩm cũng có thể bị sụt và điều ấy ảnh hưởng tới giá cả thương phẩm, vốn đã tăng rất mạnh trong nhiều năm qua, và có thể đánh sụt lợi tức của các nước xuất cảng thương phẩm.

 Sau cùng là khi kinh tế toàn cầu bị giao động mạnh do ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp từ Hoa Kỳ thì nhiều nhược điểm kinh tế trong từng nước cũng gây ra vấn đề, như cơ thể yếu kém thì dễ bị nhiễm bệnh khi khí trời thay đổi. Cụ thể là khả năng quản lý vĩ mô yếu kém tại Việt Nam có thể bị chấn động mạnh khi kinh tế Mỹ bị suy trầm. Hoặc Âu châu cũng có nạn suy sụp gia cư mà chẳng vì buôn bán loại tín dụng thứ cấp với Hoa Kỳ

 Hỏi: Từ bốn yếu tố chuyển lực ấy, kinh tế thế giới sẽ ra sao do hiệu ứng Hoa Kỳ"

 - Do cấu trúc trao đổi kinh tế giữa từng quốc gia hay từng khối kinh tế với nhau, kinh tế Hoa Kỳ có ảnh hưởng mạnh tới sự thịnh suy của các nền kinh tế Nhật Bản, Âu châu, vốn cũng đang có vấn đề nội tại của họ. Sau đó mới tới kinh tế của Trung Nam Mỹ mà ta cứ gọi là Mỹ châu La tinh. Ở vòng ngoài, với hiệu ứng nhẹ hơn, là các nền kinh tế Á châu - không kể Nhật Bản - Liên bang Nga và Trung Đông. Vì vậy, ảnh hưởng trực tiếp về sự thăng trầm của kinh tế Mỹ không nhất thiết đã là toàn cầu. Nhưng ta cũng phải nói tới ảnh hưởng gián tiếp.

 Đó là kinh tế Mỹ, Nhật và Âu châu hiện đang là ba nền kinh tế mạnh nhất thế giới, nên nếu hai đầu máy Nhật Bản và Âu châu mà bị hiệu ứng suy trầm tại Mỹ thì dễ bị thiệt hại nhất vì vấn đề riêng của họ. Khi ba đầu máy đều bị chững thì khả năng sản xuất của các nền kinh tế khác của địa cầu cũng bị ảnh hưởng. Vì vậy mà từ mấy tháng nay, người ta mới ưu lo về hậu quả của những gì xảy ra tại Hoa Kỳ. Mà lý do lo ngại cũng có rất nhiều, kể cả lo ngại sự hốt hoảng thái quá từ khu vực tài chính.

 Hỏi: Ông cho rằng thế giới đang có hiện tượng tâm lý là hốt hoảng thái quá hay sao"

 - Tôi thiển nghĩ rằng sự hốt hoảng đã khởi đầu tại Hoa Kỳ, và như đặc tính chung của mọi phản ứng hốt hoảng là nó dễ lan rộng và có thể gây tai hoạ nếu mình thiếu bình tĩnh. 

Trên diễn đàn này, chúng ta đã nhiều lần nói về định nghĩa của từng hiện tượng kinh tế mà ta vẫn cần nhắc lại để thấy ra mức độ trầm trọng của vấn đề và để khỏi bị hốt hoảng. Căn cứ trên định nghĩa của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF thì suy trầm hay recession xảy ra khi đà tăng trưởng sản xuất có sụt giảm trong hai quý liền, tức là có tăng mà chậm hơn. Nói chung, các kinh tế gia trên thế giới đều áp dụng định nghĩa ấy.

 Riêng Mỹ áp dụng một định nghĩa rắc rối hơn của một tổ chức độc lập là Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia NBER là "khi sinh hoạt kinh tế sút giảm đáng kể trong cả nền kinh tế, kéo dài qua nhiều tháng, thường được phản ảnh qua GDP, số lợi tức thực tế, thất nghiệp, sản lượng công nghiệp và phân phối sỉ và lẻ". Định nghĩa này mơ hồ về thời gian mà lại chi tiết về hậu quả. Tuy nhiên, dù theo định nghĩa nào đi nữa thì suy trầm chỉ là tăng trưởng giảm sút trong nhiều tháng và thực tế là một hiện tượng tự nhiên của chu kỳ kinh doanh. Thông thường thì các nước theo kinh tế thị trường vẫn thấy rằng sáu năm lại gặp một lần suy trầm và tại Mỹ thì từ nửa thế kỷ nay, bình quân mỗi đợt suy trầm không dài quá 10 tháng.

 Nặng hơn suy trầm là nạn suy thoái, tức là không có tăng trưởng nhẹ hơn mà là suy sụp sản xuất. Nặng hơn nữa thì có khủng hoảng là suy thoái trong nhiều lãnh vực và lây lan qua nhiều quốc gia. Nếu không chịu tìm hiểu và cứ nghe nói ẩu rằng kinh tế suy thoái hay khủng hoảng trong khi vẫn chưa bị suy trầm thì chính là phản ứng tâm lý hốt hoảng ấy mới gây ra khủng hoảng, là điều đang xảy ra tại Hoa Kỳ và có thể lan qua xứ khác.

 Hỏi: Ông nêu ra một nhận xét có vẻ mâu thuẫn trong khi cả thế giới đang nói đến nạn suy trầm hay suy thoái tại Hoa Kỳ. Ông có thể giải thích cho rõ hơn được không"

 - Ta có hiện tượng gọi là quán tính của nhận thức, là chỉ ý thức được sự thể sau khi xảy ra.

 Cụ thể là chỉ biết là kinh tế bị suy trầm sau khi thu thập thống kê về lợi tức, thất nghiệp, sản xuất hay phân phối của sớm nhất là ba tháng về trước. Nhiều nhà kinh tế có thấy rằng biết như vậy là quá chậm nên phải tìm cách dự đoán trước khi tai hoạ xảy ra. Mà cũng biết rằng mình có thể dự đoán sai. Thí dụ như nếu căn cứ trên số thất nghiệp gia tăng dù sao cũng rất nhẹ tại Mỹ trong tháng Giêng vừa rồi thì kinh tế Mỹ có thể bị rủi ro suy trầm với xác suất chừng 6%, so với xác suất suy trầm trong tháng 12 là hơn 35%. Tức là dường như trận bão đã qua, và các tổ hợp tài chính đã chấn chỉnh lại cơ cấu tài trợ của họ.

 Tuy nhiên, từ đầu năm ngoái, báo chí Mỹ đã nói đến sự đình đọng của thị trường gia cư, mối nguy của loại tín dụng thứ cấp sub-prime, đến tháng Tám thì trái bóng tín dụng ấy bể kéo theo sự lỗ lã của nhiều tổ hợp tài chính thế giới. Sự hốt hoảng của thị trường tài chính mới lây lan qua thị trường chứng khoán và dội ngược về giới sản xuất và tiêu thụ khiến Ngân hàng Trung ương Mỹ phải đột ngột và liên tiếp hạ lãi suất rất mạnh trong mấy tháng qua. Đã vậy, người ta còn thấy rằng từ tháng Tám năm 2001 đến nay, kinh tế Mỹ chưa bị suy trầm nên hẳn đã thầm nghĩ rằng sắp đến kỳ. Tâm lý chờ đợi tin xấu như vậy còn bị trùng vào một năm tranh cử khi mà nhiều đại diện dân cử cần chứng tỏ với cử tri mối quan tâm kinh tế của mình và nói đến nhu cầu cấp cứu kinh tế để tỏ ra thân dân.

 Người Mỹ nói chung thường có đặc tính văn hóa là lạc quan thái quá mà cũng ưa hốt hoảng bậy khiến lãnh đạo dễ có phản ứng cũng thái quá. Giờ đây thì có thể là những lời báo động đã có tác dụng, tức là gây không khí hốt hoảng và có khi gây ra suy trầm thật vì ai ai cũng sợ bị thất nghiệp, ế ẩm và bèn cắt giảm chi tiêu để phòng ngừa!

 Hỏi: Và bây giờ, thế giới đang chuẩn bị đối phó với nạn khủng hoảng vì hốt hoảng khởi đi từ Hoa Kỳ"

 - Thưa đúng như vậy vì ngoài hai nền kinh tế gắn bó nhất với Mỹ là Canada và Mexico - bị ảnh hưởng nặng nhất qua đà sút giảm tiêu thụ và nhập khẩu của Mỹ - các nền kinh tế khác cũng có bị nhưng nhẹ hơn. Tuy nhiên ảnh hưởng tâm lý bất lợi của lời báo động ấy cũng chi phối quyết định đầu tư sản xuất của xứ khác và xứ nào càng có nhiều nhược điểm nội tại thì càng bị nguy ngập hơn.

 Trường hợp rõ rệt là nhược điểm nội tại của kinh tế Nhật Bản có thể vừa bị suy trầm vừa lo lạm phát. Trong khi ấy, Âu châu cũng bị nạn bể bóng đầu tư trên thị trường gia cư và cũng có hệ thống tín dụng thứ cấp mà không do nhập khẩu từ Hoa Kỳ. Nạn suy trầm tại Nhật Bản và Âu châu có thể còn nguy kịch hơn tại Mỹ. Đã thế, họ còn có khả năng ứng phó rất hẹp vì lãi suất tại Nhật đã mấp mé số không nên khó hạ, và vì tổ chức kinh tế chính trị của Liên hiệp Âu châu và của Ngân hàng Trung ương Âu châu không cho phép họ linh động áp dụng các biện pháp cấp cứu. Ba khối kinh tế đầu máy là Mỹ, Nhật, Âu mà lao đao thì lợi nhuận và đầu tư của doanh nghiệp cũng sút giảm.

 Vì vậy, thế giới vẫn còn lệ thuộc nhiều vào những thăng trầm tại Mỹ, kể cả hiện tượng lạc quan tếu lẫn tâm lý hốt hoảng bậy. Càng có vấn đề nội tại mà càng lệ thuộc vào sự thăng trầm trên thị trường Hoa Kỳ là càng dễ mang họa. Trong một kỳ sau, tôi mong là chúng ta sẽ có cơ hội đề cập tới trường hợp Việt Nam.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.