Hôm nay,  

Khủng Hoảng Vì Hốt Hoảng

14/02/200800:00:00(Xem: 10384)

RFA & Nguyễn Xuân Nghĩa

 ...khi tiêu thụ tại Hoa Kỳ sút giảm thì xuất khẩu của Việt Nam cũng giảm và nạn nhập siêu sẽ tăng...

Trong những tháng vừa qua, cả thế giới đều ưu lo về tình hình kinh tế Hoa Kỳ, vì sợ rằng kinh tế Mỹ mà bị suy trầm thì mình cũng bị ảnh hưởng. Diễn đàn Kinh tế đai2ì RFA tìm hiểu về hiện tượng tâm lý ấy qua phần trao đổi sau đây cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, do Việt Long thực hiện hầu quý thính giả.

 Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, từ tháng Tám năm ngoái và nhất là qua mấy đợt cắt giảm lãi suất liên tục tại Hoa Kỳ vào đầu năm nay, cả thế giới đều e rằng kinh tế Mỹ có thể bị suy trầm với ảnh hưởng lan rộng đến các nước khác. Ông đã nói qua về đề tài này trong một số kỳ trước, nhưng gần đây các nước đã có những phản ứng cụ thể trên địa hạt kinh tế, liên quan đến vấn đề này. Vì thế chúng tôi đề nghị là ta lại cùng tìm hiểu sâu xa hơn về đề tài vì sao kinh tế Mỹ lại có tầm quan trọng lớn lao như vậy với kinh tế thế giới"

- Đây là một thắc mắc chính đáng và việc mình tìm hiểu về đề tài này sẽ có lợi cho Việt Nam khi thẩm định ảnh hưởng của Hoa Kỳ và quyết định về chiến lược kinh tế của mình.

 Nói về sức sản xuất thì kinh tế Hoa Kỳ có sức sản xuất chỉ bằng từ 22 đến 25% của sản lượng địa cầu, một sức nặng có giảm sút nhiều so với mấy thập niên về trước khi tổng sản lượng nội địa, gọi tắt là GDP, của Mỹ chiếm một phần ba tổng sản lượng thế giới.

 Con số GDP đó chỉ ra sức sản xuất của một nền kinh tế, bao gồm tất cả mọi hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong một thời khoảng nhất định, thí dụ là một năm, trên một lãnh thổ nhất định như của một quốc gia, bất kể tới quốc tịch của nhà sản xuất. Về thống kê thì đó là tổng số của tiêu thụ, đầu tư gộp, công chi ngân sách và kết số của cán cân thương mại, tức là số xuất khẩu trừ đi nhập khẩu, trong một tài khóa, là một năm kế toán.

Nhưng Hoa Kỳ sở dĩ có ảnh hưởng lớn tới sinh hoạt kinh tế vì hai yếu tố. Thứ nhất, tiêu thụ tại Mỹ chiếm tới hơn hai phần ba của tổng sản lượng GDP, nên sức tiêu thụ của Mỹ trở thành lực kéo cho nền kinh tế nào bán hàng cho Mỹ. Thứ hai, nhiều nền kinh tế lại giàng bộ máy sản xuất của mình vào kinh tế Mỹ qua xuất nhập khẩu và đầu tư, hoặc qua chính sách ngoại hối, tức là quy định tỷ giá đồng bạc của mình từ đồng Mỹ kim.

Hậu quả là dù chỉ sản xuất hơn 20% sản lượng thế giới, kinh tế Mỹ vẫn ảnh hưởng tới 60% vào đà tăng trưởng của kinh tế thế giới. Thí dụ như kinh tế thế giới mà tăng trưởng bình quân chừng 5% một năm thì kinh tế Mỹ ảnh hưởng tới 3%. Tiêu thụ tại Mỹ mà giảm là sẽ ghìm sức sản xuất của các nước khác theo tỷ lệ đó, nếu các xứ này lệ thuộc vào Mỹ.

 Hỏi: Nhưng vì sao gần đây dư luận thế giới lại có vẻ hốt hoảng về những gì xảy ra tại Mỹ trong khi nhiều quốc gia, kể cả Việt Nam hay Trung Quốc, đã đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, tưởng như đã có thể tách rời khỏi sức hút của kinh tế Hoa Kỳ" Trong khi đó thì ông Lý Quang Dịêu ở Singapore tuyên bố là châu Á sẽ không bị rơi vào suy trầm vì kinh tế ở Mỹ"   

 - Chỉ vì một hiện tượng tôi xin tạm gọi là quên trí nhớ, tức là có ký ức rất mỏng, đi cùng tật chủ quan và ưa hốt hoảng! 

Trong năm năm liền, nhiều quốc gia đã có tốc độ tăng trưởng rất cao và buôn bán với nhau rất nhiều nên tưởng rằng cái trớn sản xuất ấy đã giúp mình bay khỏi quỹ đạo Mỹ. Như trong năm ngoái, khi sản xuất tại Hoa Kỳ bắt đầu sút giảm nhẹ từ quý ba trở đi thì kinh tế các nước vẫn tăng trưởng mạnh. Người ta gọi đó là hiện tượng "tách rời khỏi Mỹ", nôm na là ra khỏi trạng thái lệ thuộc vào kinh tế Mỹ, nên kinh tế Hoa Kỳ có bị suy trầm thì cũng không gây suy trầm cho thế giới. Qua tới năm nay thì thiên hạ có phản ứng trái ngược, và phải nói là thái quá, từ phía Hoa Kỳ lẫn thế giới ngoài Hoa Kỳ. Người ta đang lo sợ là Mỹ mà hắt hơi thì xứ khác lại bị cảm mạo.

 Hỏi: Ông vui lòng giải thích thêm nữa theo khía cạnh kinh tế, thay vì trên khía cạnh tâm lý đưa đến cả chủ quan lẫn hốt hoảng vân vân. Câu hỏi là vì sao kinh tế Hoa Kỳ lại có hiệu ứng mạnh như vậy"

- Ta cần nhìn rõ hiện tượng tạm gọi là "chuyển lực", là bốn yếu tố khiến sự thăng trầm tại Mỹ có thể kéo theo sự thịnh suy của xứ khác.

 Đầu tiên là qua trao đổi kinh tế gồm có buôn bán và đầu tư tại các nước có quan hệ với kinh tế Hoa Kỳ. Tiêu thụ tại Mỹ mà giảm thì xuất khẩu vào Mỹ cũng sụt và doanh lợi đầu tư của xứ khác vào Mỹ cũng giảm theo. Thí dụ như Việt Nam đạt xuất siêu một tỷ Mỹ kim với Mỹ là nhờ bán nhiều hơn mua của Hoa Kỳ; khi tiêu thụ tại Hoa Kỳ sút giảm thì xuất khẩu của Việt Nam cũng giảm và nạn nhập siêu sẽ tăng, với ảnh hưởng trên tỷ giá đồng bạc của Việt Nam.

 Bộ phận chuyển lực thứ hai là luồng trao đổi tài chính giữa các nước với nhau, như đầu tư hay vay mượn của nhau. Vụ khủng hoảng tín dụng địa ốc do trái bóng tín dụng loại thứ cấp bị bể tại Mỹ đã kéo theo khủng hoảng tín dụng tại các xứ khác, thí dụ như Âu châu, khiến tín dụng khan hiếm có thể đánh sụt đầu tư và sản xuất ở mấy xứ đó.

Thứ ba là khi sản xuất bị đình đọng và xuất khẩu sút giảm, số cầu về nguyên nhiên vật liệu trên thế giới, thí dụ như dầu thô, kim loại hay nông phẩm cũng có thể bị sụt và điều ấy ảnh hưởng tới giá cả thương phẩm, vốn đã tăng rất mạnh trong nhiều năm qua, và có thể đánh sụt lợi tức của các nước xuất cảng thương phẩm.

 Sau cùng là khi kinh tế toàn cầu bị giao động mạnh do ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp từ Hoa Kỳ thì nhiều nhược điểm kinh tế trong từng nước cũng gây ra vấn đề, như cơ thể yếu kém thì dễ bị nhiễm bệnh khi khí trời thay đổi. Cụ thể là khả năng quản lý vĩ mô yếu kém tại Việt Nam có thể bị chấn động mạnh khi kinh tế Mỹ bị suy trầm. Hoặc Âu châu cũng có nạn suy sụp gia cư mà chẳng vì buôn bán loại tín dụng thứ cấp với Hoa Kỳ

 Hỏi: Từ bốn yếu tố chuyển lực ấy, kinh tế thế giới sẽ ra sao do hiệu ứng Hoa Kỳ"

 - Do cấu trúc trao đổi kinh tế giữa từng quốc gia hay từng khối kinh tế với nhau, kinh tế Hoa Kỳ có ảnh hưởng mạnh tới sự thịnh suy của các nền kinh tế Nhật Bản, Âu châu, vốn cũng đang có vấn đề nội tại của họ. Sau đó mới tới kinh tế của Trung Nam Mỹ mà ta cứ gọi là Mỹ châu La tinh. Ở vòng ngoài, với hiệu ứng nhẹ hơn, là các nền kinh tế Á châu - không kể Nhật Bản - Liên bang Nga và Trung Đông. Vì vậy, ảnh hưởng trực tiếp về sự thăng trầm của kinh tế Mỹ không nhất thiết đã là toàn cầu. Nhưng ta cũng phải nói tới ảnh hưởng gián tiếp.

 Đó là kinh tế Mỹ, Nhật và Âu châu hiện đang là ba nền kinh tế mạnh nhất thế giới, nên nếu hai đầu máy Nhật Bản và Âu châu mà bị hiệu ứng suy trầm tại Mỹ thì dễ bị thiệt hại nhất vì vấn đề riêng của họ. Khi ba đầu máy đều bị chững thì khả năng sản xuất của các nền kinh tế khác của địa cầu cũng bị ảnh hưởng. Vì vậy mà từ mấy tháng nay, người ta mới ưu lo về hậu quả của những gì xảy ra tại Hoa Kỳ. Mà lý do lo ngại cũng có rất nhiều, kể cả lo ngại sự hốt hoảng thái quá từ khu vực tài chính.

 Hỏi: Ông cho rằng thế giới đang có hiện tượng tâm lý là hốt hoảng thái quá hay sao"

 - Tôi thiển nghĩ rằng sự hốt hoảng đã khởi đầu tại Hoa Kỳ, và như đặc tính chung của mọi phản ứng hốt hoảng là nó dễ lan rộng và có thể gây tai hoạ nếu mình thiếu bình tĩnh. 

Trên diễn đàn này, chúng ta đã nhiều lần nói về định nghĩa của từng hiện tượng kinh tế mà ta vẫn cần nhắc lại để thấy ra mức độ trầm trọng của vấn đề và để khỏi bị hốt hoảng. Căn cứ trên định nghĩa của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF thì suy trầm hay recession xảy ra khi đà tăng trưởng sản xuất có sụt giảm trong hai quý liền, tức là có tăng mà chậm hơn. Nói chung, các kinh tế gia trên thế giới đều áp dụng định nghĩa ấy.

 Riêng Mỹ áp dụng một định nghĩa rắc rối hơn của một tổ chức độc lập là Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia NBER là "khi sinh hoạt kinh tế sút giảm đáng kể trong cả nền kinh tế, kéo dài qua nhiều tháng, thường được phản ảnh qua GDP, số lợi tức thực tế, thất nghiệp, sản lượng công nghiệp và phân phối sỉ và lẻ". Định nghĩa này mơ hồ về thời gian mà lại chi tiết về hậu quả. Tuy nhiên, dù theo định nghĩa nào đi nữa thì suy trầm chỉ là tăng trưởng giảm sút trong nhiều tháng và thực tế là một hiện tượng tự nhiên của chu kỳ kinh doanh. Thông thường thì các nước theo kinh tế thị trường vẫn thấy rằng sáu năm lại gặp một lần suy trầm và tại Mỹ thì từ nửa thế kỷ nay, bình quân mỗi đợt suy trầm không dài quá 10 tháng.

 Nặng hơn suy trầm là nạn suy thoái, tức là không có tăng trưởng nhẹ hơn mà là suy sụp sản xuất. Nặng hơn nữa thì có khủng hoảng là suy thoái trong nhiều lãnh vực và lây lan qua nhiều quốc gia. Nếu không chịu tìm hiểu và cứ nghe nói ẩu rằng kinh tế suy thoái hay khủng hoảng trong khi vẫn chưa bị suy trầm thì chính là phản ứng tâm lý hốt hoảng ấy mới gây ra khủng hoảng, là điều đang xảy ra tại Hoa Kỳ và có thể lan qua xứ khác.

 Hỏi: Ông nêu ra một nhận xét có vẻ mâu thuẫn trong khi cả thế giới đang nói đến nạn suy trầm hay suy thoái tại Hoa Kỳ. Ông có thể giải thích cho rõ hơn được không"

 - Ta có hiện tượng gọi là quán tính của nhận thức, là chỉ ý thức được sự thể sau khi xảy ra.

 Cụ thể là chỉ biết là kinh tế bị suy trầm sau khi thu thập thống kê về lợi tức, thất nghiệp, sản xuất hay phân phối của sớm nhất là ba tháng về trước. Nhiều nhà kinh tế có thấy rằng biết như vậy là quá chậm nên phải tìm cách dự đoán trước khi tai hoạ xảy ra. Mà cũng biết rằng mình có thể dự đoán sai. Thí dụ như nếu căn cứ trên số thất nghiệp gia tăng dù sao cũng rất nhẹ tại Mỹ trong tháng Giêng vừa rồi thì kinh tế Mỹ có thể bị rủi ro suy trầm với xác suất chừng 6%, so với xác suất suy trầm trong tháng 12 là hơn 35%. Tức là dường như trận bão đã qua, và các tổ hợp tài chính đã chấn chỉnh lại cơ cấu tài trợ của họ.

 Tuy nhiên, từ đầu năm ngoái, báo chí Mỹ đã nói đến sự đình đọng của thị trường gia cư, mối nguy của loại tín dụng thứ cấp sub-prime, đến tháng Tám thì trái bóng tín dụng ấy bể kéo theo sự lỗ lã của nhiều tổ hợp tài chính thế giới. Sự hốt hoảng của thị trường tài chính mới lây lan qua thị trường chứng khoán và dội ngược về giới sản xuất và tiêu thụ khiến Ngân hàng Trung ương Mỹ phải đột ngột và liên tiếp hạ lãi suất rất mạnh trong mấy tháng qua. Đã vậy, người ta còn thấy rằng từ tháng Tám năm 2001 đến nay, kinh tế Mỹ chưa bị suy trầm nên hẳn đã thầm nghĩ rằng sắp đến kỳ. Tâm lý chờ đợi tin xấu như vậy còn bị trùng vào một năm tranh cử khi mà nhiều đại diện dân cử cần chứng tỏ với cử tri mối quan tâm kinh tế của mình và nói đến nhu cầu cấp cứu kinh tế để tỏ ra thân dân.

 Người Mỹ nói chung thường có đặc tính văn hóa là lạc quan thái quá mà cũng ưa hốt hoảng bậy khiến lãnh đạo dễ có phản ứng cũng thái quá. Giờ đây thì có thể là những lời báo động đã có tác dụng, tức là gây không khí hốt hoảng và có khi gây ra suy trầm thật vì ai ai cũng sợ bị thất nghiệp, ế ẩm và bèn cắt giảm chi tiêu để phòng ngừa!

 Hỏi: Và bây giờ, thế giới đang chuẩn bị đối phó với nạn khủng hoảng vì hốt hoảng khởi đi từ Hoa Kỳ"

 - Thưa đúng như vậy vì ngoài hai nền kinh tế gắn bó nhất với Mỹ là Canada và Mexico - bị ảnh hưởng nặng nhất qua đà sút giảm tiêu thụ và nhập khẩu của Mỹ - các nền kinh tế khác cũng có bị nhưng nhẹ hơn. Tuy nhiên ảnh hưởng tâm lý bất lợi của lời báo động ấy cũng chi phối quyết định đầu tư sản xuất của xứ khác và xứ nào càng có nhiều nhược điểm nội tại thì càng bị nguy ngập hơn.

 Trường hợp rõ rệt là nhược điểm nội tại của kinh tế Nhật Bản có thể vừa bị suy trầm vừa lo lạm phát. Trong khi ấy, Âu châu cũng bị nạn bể bóng đầu tư trên thị trường gia cư và cũng có hệ thống tín dụng thứ cấp mà không do nhập khẩu từ Hoa Kỳ. Nạn suy trầm tại Nhật Bản và Âu châu có thể còn nguy kịch hơn tại Mỹ. Đã thế, họ còn có khả năng ứng phó rất hẹp vì lãi suất tại Nhật đã mấp mé số không nên khó hạ, và vì tổ chức kinh tế chính trị của Liên hiệp Âu châu và của Ngân hàng Trung ương Âu châu không cho phép họ linh động áp dụng các biện pháp cấp cứu. Ba khối kinh tế đầu máy là Mỹ, Nhật, Âu mà lao đao thì lợi nhuận và đầu tư của doanh nghiệp cũng sút giảm.

 Vì vậy, thế giới vẫn còn lệ thuộc nhiều vào những thăng trầm tại Mỹ, kể cả hiện tượng lạc quan tếu lẫn tâm lý hốt hoảng bậy. Càng có vấn đề nội tại mà càng lệ thuộc vào sự thăng trầm trên thị trường Hoa Kỳ là càng dễ mang họa. Trong một kỳ sau, tôi mong là chúng ta sẽ có cơ hội đề cập tới trường hợp Việt Nam.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.