Hôm nay,  

Một Người Mỹ Tử Tế

01/01/200700:00:00(Xem: 11501)

Một Người Mỹ Tử Tế

Tổng thống Ford là một người tử tế. Nhưng thiếu mưu mô...

Trong một số báo đầu năm, chúng ta nên nói về chuyện tử tế. Không có gì tử tế hơn là nói về nhân vật đang được quốc táng, nguyên Tổng thống Gerald R. Ford.

Suốt tuần lễ cuối năm, nước Mỹ không có tổng thống.

Tổng thống Bush bị che khuất bởi quá nhiều biến cố và “ra Giêng” ông mới tái xuất hiện trong tư thế tổng thống và tư lệnh tối cao. Còn lại, dư luận nói đến tổng thống năm 2008, năm 2003 hay năm 1974. Dư luận nói đến việc cựu Nghị sĩ John Edwards sẽ thử thời vận lần nữa, chuyện ấy chưa nguội lại đến tin cựu Tổng thống Saddam Hussein của xứ Iraq bị dân Iraq xử giảo – treo cổ. Và bàng bạc bên dưới là tang lễ của Tổng thống Ford, kéo dài trong sáu ngày trên hai miền Tây Đông của nước Mỹ.

Trong suốt một tuần, Tổng thống Bush phải ôm một bình ga lặn rất sâu và chỉ xuất hiện trong tang lễ của một vị tiền nhiệm mà nhờ tiết lộ sốt sắng của nhà báo Bob Woddward – khi ông Ford vừa mất - người ta mới biết là đã có những phán đoán bất lợi cho ông Bush về chuyện Iraq.

Trên các cột báo Đông Tây, ai ai cũng nói đến người quá cố, Tổng thống Ford, không phải Saddam, với lời ái ngại. Đại để là làm tổng thống trong hoàn cảnh bất lợi – với hai di sản gần xa là vụ Watergate và Việt Nam – nhưng vẫn cố làm tròn nhiệm vụ hàn gắn cho nước Mỹ. Trong một thế giới mà lãnh đạo Mỹ bị lôi xuống bùn – hãy xem những cái mũ muôn màu đang được chụp lên đầu ông Bush – người ta bỗng tìm ra một người Mỹ, một Tổng thống Mỹ tử tế.

Đó là ông Ford.

Hiếm hoi lắm!

Người Việt Nam không thể quên ơn ông về hai việc, bốc trẻ cô nhi trong chiến dịch Babylift khi miền Nam hấp hối và cho di tản 237 ngàn người ta khỏi Việt Nam khi Sàigon hấp hối. Chúng ta buồn là với quyền lực bị xén gọn, ông không thể vận động Quốc hội Mỹ có một cử chỉ văn minh tối thiểu với miền Nam, nhưng cám ơn ông là đã cố hết sức mình. Cùng với cựu Đại sứ Graham Martin, Tổng thống Ford đã làm tối đa những gì có thể làm được.

Ông Martin còn đáng kính vì đã mất một người con trên chiến trường Việt Nam, và ông Ford  đáng khen vì bên cạnh vẫn còn một con kỳ đà là Ngoại trưởng kiêm Cố vấn An ninh Henry Kissinger.

Xong rồi, chúng ta nên bước qua một góc cạnh khác để nhìn lại hơn hai năm cầm quyền của vị Tổng thống tử tế này. Và có một cách phán đoán khác, từ giác độ quốc tế.

Không phải ông Bush (41 hay 43) đã lầm về Iraq. Chính là Tổng thống Ford, với sự cố vấn tất nhiên của ông Kissinger. Lại Kissinger!

Thời ấy, Hoa Kỳ đã kín đáo hợp tác với các lực lượng Kurd nổi dậy chống Saddam Hussein. Việc hợp tác này được Quốc vương Iran cổ võ nhằm hạ bớt uy thế của một xứ láng giềng quá mạnh và một lãnh tụ có quá nhiều quyền. Nhưng, khi Việt Nam Cộng Hoà sụp đổ, Quốc vương Pahlavi tại Tehran lại xoay chiều, đơn phương ký kết hiệp ước hoà giải với Saddam Hussein. Các đại cường có những lý lẽ mà lý trí và đạo đức con người không hiểu được.

Điều đáng buồn cho một người tử tế như ông Ford lại ngả theo lập luận thiếu tử tế của Kissinger, là cũng xoay theo Tehran và... bán đứng phe Kurd cho chế độ Saddam. Ông mở đầu cho lối tính toán được ông Bush 41 (George H. Bush) áp dụng sau này, với lời khuyên của một Ngoại trưởng khác là James Baker III: yểm trợ dân Kurd và Shia nổi dậy chống Saddam Hussein rồi buông họ giữa dòng cho Saddam tàn sát.

Vì vậy mà ông Bush 43 (George W. Bush) mới lãnh quả.

Cái nhân của sự hoài nghi từ các lực lượng Iraq đã được gieo từ 1975 và 1991. Chưa nói đến một biến cố khác là Tổng thống Jimmy Carter - một người tử tế khác - cũng cắt giây cho Quốc vương Iran rớt đài năm 1979, khiến các Giáo chủ Iran vào tới Tehran. Và họ trả lễ bằng vụ bắt giữ con tin Mỹ trong 444 ngày! Rồi cũng chính quyền Carter đã kín đáo yểm trợ lực lượng Thánh chiến để ngầm tấn công quân Viễn chinh Liên Xô tại Afghanistan, với kết quả là thổi lên đám âm binh al-Qaeda sau này!

Người Hồi giáo có nghi ngờ nước Mỹ vì những trò đảo điên ấy thì cũng có cái lý của họ.

Và ông Bush đang phải trả nghiệp cho những vị tiền nhiệm tử tế.

Cũng trong năm 1975 - khi ấy người Việt chúng ta đang lo chuyện khác - chính quyền Ford không cổ võ thì cũng mặc nhiên nín thinh trước việc chế độ Suharto tại Indonesia “giải phóng” East Timor. Đảo quốc tí hon này là thuộc địa của Portugal và khi Portugal đổi chủ thì xứ này được hạ phóng, Jakarta không để lỡ cơ hội chụp giựt. Hoa Kỳ khi ấy đã biểu đồng tình và.... vô tình củng cố ách độc tài của Suharto trong hơn ba chục năm. Dân Hồi giáo tại đây có kịch liệt chống Mỹ thì cũng có cái lý của họ. Và mấy trăm ngàn dân East Timor có bị tàn sát thì cũng do lối tính toán của người thiếu tử tế là ông Ford. Ông Ford chứ không phải Kissinger mới là Tổng thống!

Nhưng, đáng tiếc hơn cả là việc Tổng thống Ford từ chối không tiếp Aleksandr Solzhenitsyn. Nhân vật này đã chấp nhận mọi hình phạt, kể cả bị tù rồi bị trục xuất ra khỏi quê hương, để nói lên điều phải nói cho dân tộc mình trước sự thoái hoá của chế độ Xô viết. Thế rồi, cũng lại do lời khuyên của Henry Kissinger, Tổng thống Ford không muốn gặp ông ta hầu khỏi gây sứt mẻ cho chánh sách hoà dịu với Liên Xô. Người tử tế không ai lại làm vậy, như Tổng thống Ronald Reagan sẽ chứng minh sau này.

Bên lề thảm kịch Việt Nam, người ta có ngợi khen Tổng thống Ford ở một quyết định quả cảm là cho quân tiến vào giải phóng con thuyền Mayaguez bị chế độ Khờme Đỏ bắt giữ. Ít ra, Hoa Kỳ cũng chứng minh là dù có tháo chạy khỏi Việt Nam thì cũng vẫn là một đại cường đáng nể, chứ không để xảy ra cảnh dậu đổ bìm leo được!

Khốn nỗi sự thể lại chẳng oanh liệt như thế.

Sau này, Quốc hội mới điều tra ra là Cam Bốt đã thả con tầu Mayaguez rồi các đơn vị Mỹ mới nhập trận và tấn công đảo Koh Tang để thị uy! Một số binh lính Mỹ (18 Thủy quân Lục chiến và 23 Không quân) đã hy sinh cho màn biểu dương thừa thãi đó.

Cái lối vớt vát như vậy, khi cả Saigon và Phnom Penh đều đã sụp đổ không dọa được ai mà chỉ khiến kẻ thù của Mỹ bật cười.

Ông Ford đang được 70% dân chúng ủng hộ thì uy tín sụt mất phân nửa vì việc ân xá Richard Nixon, khiến ông thất cử sát nút năm 1976. Chúng ta tiếc cho ông, nhưng sự lụn bại của Hoa Kỳ khởi sự từ Richard Nixon đã kéo dài tới 1980 mới dứt nhờ một người tử tế khác là Ronald Reagan. Nếu Gerald Ford thắng cử năm 1976, chưa chắc nước Mỹ đã có Tổng thống Reagan!

Chúng ta thương tiếc một người không gặp thời, bất đắc dĩ phải làm Tổng thống sau khi Phó Tổng thống rồi Tổng thống phải lần lượt từ chức. Nhưng cũng tiếc là ông lỡ cơ hội trở thành một lãnh tụ anh hùng, làm cho kẻ thù phải sợ và đồng minh phải tin...

Những lầm lẫn hay nhu nhược của Hoa Kỳ trong vụ Iraq, Indonesia, Solzhenitsyn hay Cam Bốt có thể xuất phát từ bộ óc siêu hạng Henry Kissinger, nhưng với bên ngoài thì vẫn là vết nhơ cho 895 ngày cầm quyền của Tổng thống Ford.

Và giờ đây, Tổng thống Bush đang cố chùi mà chưa sạch! 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.