Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Một Người Mỹ Tử Tế

01/01/200700:00:00(Xem: 8586)

Một Người Mỹ Tử Tế

Tổng thống Ford là một người tử tế. Nhưng thiếu mưu mô...

Trong một số báo đầu năm, chúng ta nên nói về chuyện tử tế. Không có gì tử tế hơn là nói về nhân vật đang được quốc táng, nguyên Tổng thống Gerald R. Ford.

Suốt tuần lễ cuối năm, nước Mỹ không có tổng thống.

Tổng thống Bush bị che khuất bởi quá nhiều biến cố và “ra Giêng” ông mới tái xuất hiện trong tư thế tổng thống và tư lệnh tối cao. Còn lại, dư luận nói đến tổng thống năm 2008, năm 2003 hay năm 1974. Dư luận nói đến việc cựu Nghị sĩ John Edwards sẽ thử thời vận lần nữa, chuyện ấy chưa nguội lại đến tin cựu Tổng thống Saddam Hussein của xứ Iraq bị dân Iraq xử giảo – treo cổ. Và bàng bạc bên dưới là tang lễ của Tổng thống Ford, kéo dài trong sáu ngày trên hai miền Tây Đông của nước Mỹ.

Trong suốt một tuần, Tổng thống Bush phải ôm một bình ga lặn rất sâu và chỉ xuất hiện trong tang lễ của một vị tiền nhiệm mà nhờ tiết lộ sốt sắng của nhà báo Bob Woddward – khi ông Ford vừa mất - người ta mới biết là đã có những phán đoán bất lợi cho ông Bush về chuyện Iraq.

Trên các cột báo Đông Tây, ai ai cũng nói đến người quá cố, Tổng thống Ford, không phải Saddam, với lời ái ngại. Đại để là làm tổng thống trong hoàn cảnh bất lợi – với hai di sản gần xa là vụ Watergate và Việt Nam – nhưng vẫn cố làm tròn nhiệm vụ hàn gắn cho nước Mỹ. Trong một thế giới mà lãnh đạo Mỹ bị lôi xuống bùn – hãy xem những cái mũ muôn màu đang được chụp lên đầu ông Bush – người ta bỗng tìm ra một người Mỹ, một Tổng thống Mỹ tử tế.

Đó là ông Ford.

Hiếm hoi lắm!

Người Việt Nam không thể quên ơn ông về hai việc, bốc trẻ cô nhi trong chiến dịch Babylift khi miền Nam hấp hối và cho di tản 237 ngàn người ta khỏi Việt Nam khi Sàigon hấp hối. Chúng ta buồn là với quyền lực bị xén gọn, ông không thể vận động Quốc hội Mỹ có một cử chỉ văn minh tối thiểu với miền Nam, nhưng cám ơn ông là đã cố hết sức mình. Cùng với cựu Đại sứ Graham Martin, Tổng thống Ford đã làm tối đa những gì có thể làm được.

Ông Martin còn đáng kính vì đã mất một người con trên chiến trường Việt Nam, và ông Ford  đáng khen vì bên cạnh vẫn còn một con kỳ đà là Ngoại trưởng kiêm Cố vấn An ninh Henry Kissinger.

Xong rồi, chúng ta nên bước qua một góc cạnh khác để nhìn lại hơn hai năm cầm quyền của vị Tổng thống tử tế này. Và có một cách phán đoán khác, từ giác độ quốc tế.

Không phải ông Bush (41 hay 43) đã lầm về Iraq. Chính là Tổng thống Ford, với sự cố vấn tất nhiên của ông Kissinger. Lại Kissinger!

Thời ấy, Hoa Kỳ đã kín đáo hợp tác với các lực lượng Kurd nổi dậy chống Saddam Hussein. Việc hợp tác này được Quốc vương Iran cổ võ nhằm hạ bớt uy thế của một xứ láng giềng quá mạnh và một lãnh tụ có quá nhiều quyền. Nhưng, khi Việt Nam Cộng Hoà sụp đổ, Quốc vương Pahlavi tại Tehran lại xoay chiều, đơn phương ký kết hiệp ước hoà giải với Saddam Hussein. Các đại cường có những lý lẽ mà lý trí và đạo đức con người không hiểu được.

Điều đáng buồn cho một người tử tế như ông Ford lại ngả theo lập luận thiếu tử tế của Kissinger, là cũng xoay theo Tehran và... bán đứng phe Kurd cho chế độ Saddam. Ông mở đầu cho lối tính toán được ông Bush 41 (George H. Bush) áp dụng sau này, với lời khuyên của một Ngoại trưởng khác là James Baker III: yểm trợ dân Kurd và Shia nổi dậy chống Saddam Hussein rồi buông họ giữa dòng cho Saddam tàn sát.

Vì vậy mà ông Bush 43 (George W. Bush) mới lãnh quả.

Cái nhân của sự hoài nghi từ các lực lượng Iraq đã được gieo từ 1975 và 1991. Chưa nói đến một biến cố khác là Tổng thống Jimmy Carter - một người tử tế khác - cũng cắt giây cho Quốc vương Iran rớt đài năm 1979, khiến các Giáo chủ Iran vào tới Tehran. Và họ trả lễ bằng vụ bắt giữ con tin Mỹ trong 444 ngày! Rồi cũng chính quyền Carter đã kín đáo yểm trợ lực lượng Thánh chiến để ngầm tấn công quân Viễn chinh Liên Xô tại Afghanistan, với kết quả là thổi lên đám âm binh al-Qaeda sau này!

Người Hồi giáo có nghi ngờ nước Mỹ vì những trò đảo điên ấy thì cũng có cái lý của họ.

Và ông Bush đang phải trả nghiệp cho những vị tiền nhiệm tử tế.

Cũng trong năm 1975 - khi ấy người Việt chúng ta đang lo chuyện khác - chính quyền Ford không cổ võ thì cũng mặc nhiên nín thinh trước việc chế độ Suharto tại Indonesia “giải phóng” East Timor. Đảo quốc tí hon này là thuộc địa của Portugal và khi Portugal đổi chủ thì xứ này được hạ phóng, Jakarta không để lỡ cơ hội chụp giựt. Hoa Kỳ khi ấy đã biểu đồng tình và.... vô tình củng cố ách độc tài của Suharto trong hơn ba chục năm. Dân Hồi giáo tại đây có kịch liệt chống Mỹ thì cũng có cái lý của họ. Và mấy trăm ngàn dân East Timor có bị tàn sát thì cũng do lối tính toán của người thiếu tử tế là ông Ford. Ông Ford chứ không phải Kissinger mới là Tổng thống!

Nhưng, đáng tiếc hơn cả là việc Tổng thống Ford từ chối không tiếp Aleksandr Solzhenitsyn. Nhân vật này đã chấp nhận mọi hình phạt, kể cả bị tù rồi bị trục xuất ra khỏi quê hương, để nói lên điều phải nói cho dân tộc mình trước sự thoái hoá của chế độ Xô viết. Thế rồi, cũng lại do lời khuyên của Henry Kissinger, Tổng thống Ford không muốn gặp ông ta hầu khỏi gây sứt mẻ cho chánh sách hoà dịu với Liên Xô. Người tử tế không ai lại làm vậy, như Tổng thống Ronald Reagan sẽ chứng minh sau này.

Bên lề thảm kịch Việt Nam, người ta có ngợi khen Tổng thống Ford ở một quyết định quả cảm là cho quân tiến vào giải phóng con thuyền Mayaguez bị chế độ Khờme Đỏ bắt giữ. Ít ra, Hoa Kỳ cũng chứng minh là dù có tháo chạy khỏi Việt Nam thì cũng vẫn là một đại cường đáng nể, chứ không để xảy ra cảnh dậu đổ bìm leo được!

Khốn nỗi sự thể lại chẳng oanh liệt như thế.

Sau này, Quốc hội mới điều tra ra là Cam Bốt đã thả con tầu Mayaguez rồi các đơn vị Mỹ mới nhập trận và tấn công đảo Koh Tang để thị uy! Một số binh lính Mỹ (18 Thủy quân Lục chiến và 23 Không quân) đã hy sinh cho màn biểu dương thừa thãi đó.

Cái lối vớt vát như vậy, khi cả Saigon và Phnom Penh đều đã sụp đổ không dọa được ai mà chỉ khiến kẻ thù của Mỹ bật cười.

Ông Ford đang được 70% dân chúng ủng hộ thì uy tín sụt mất phân nửa vì việc ân xá Richard Nixon, khiến ông thất cử sát nút năm 1976. Chúng ta tiếc cho ông, nhưng sự lụn bại của Hoa Kỳ khởi sự từ Richard Nixon đã kéo dài tới 1980 mới dứt nhờ một người tử tế khác là Ronald Reagan. Nếu Gerald Ford thắng cử năm 1976, chưa chắc nước Mỹ đã có Tổng thống Reagan!

Chúng ta thương tiếc một người không gặp thời, bất đắc dĩ phải làm Tổng thống sau khi Phó Tổng thống rồi Tổng thống phải lần lượt từ chức. Nhưng cũng tiếc là ông lỡ cơ hội trở thành một lãnh tụ anh hùng, làm cho kẻ thù phải sợ và đồng minh phải tin...

Những lầm lẫn hay nhu nhược của Hoa Kỳ trong vụ Iraq, Indonesia, Solzhenitsyn hay Cam Bốt có thể xuất phát từ bộ óc siêu hạng Henry Kissinger, nhưng với bên ngoài thì vẫn là vết nhơ cho 895 ngày cầm quyền của Tổng thống Ford.

Và giờ đây, Tổng thống Bush đang cố chùi mà chưa sạch! 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.