Hôm nay,  

Năm Ngày Nơi Cực Lạc

24/06/200800:00:00(Xem: 8356)

Pháp hội trang nghiêm.

Thật là một vinh hạnh khi Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đã trở lại Úc Đại Lợi để thuyết pháp và hướng dẫn tu học trong năm ngày tại The Dome, Sydney Showground, Sydney Olympic Park, từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 6 năm 2008 (http://www.dalailamainaustralia.org/).

Khác với những chuyến đi trước, thường gồm những buổi nói chuyện với công chúng tại các tiểu bang nước Úc, lần này Đức Đạt Lai Lạt Ma dành thời gian năm ngày ở Sydney để thuyết giảng bài giáo pháp cổ điển “Các Giai - tầng Thiền định” (“Stages of Meditation”) của Ngài Đại Sư Ấn Độ Kamalashila.  Theo Đức Đạt Lai Lạt Ma, “Bài pháp này là chìa khóa để mở cửa vào tất cả kinh điển chính yếu của Phật giáo”, đã được tất cả các truyền thống Phật giáo tôn kính từ ngày Ngài Kamalashila giáo huấn.

Được biết, “Giáo pháp của Ngài Kamalashila trình bày toàn bộ tinh yếu của Con đường Giác ngộ trong 10 chương ngắn, đặc biệt nhấn mạnh vào thiền chỉ và thiền quán.  Ngài cẩn trọng giảng rõ phương cách thiền từ cơ cấu đến các thời thiền định như là gạch nối giữa triết lý Phật giáo và chứng nghiệm trong tâm thức của hành giả.  Căn nguyên về bản chất của sự tỉnh thức, phát khởi từ sự thực hành thiền định hầu chuyển hóa thành trí huệ trực chứng cần thiết để đạt được giác ngộ sẽ được Đức Đạt Lai Lạt ma giải thích” (http://www.dalailamainaustralia.org/).

Buổi tối ngày thứ ba 10 tháng 6 năm 2008, hàng trăm thiện nguyện viên từ các tiểu bang nước Úc, và cả từ Tân Tây Lan, đã tụ về địa điểm The Dome, để được phổ biến những điều cần biết để làm tròn công tác thiện nguyện.  Qua sự đóng góp của các thiện nguyện viên, dưới sự hướng dẫn của chư Tăng Ni, The Dome đã biến thành một nơi Đạo Tràng nghiêm tịnh, với tràng phan bảo cái, chính giữa là Tôn Dung Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật trong tư thế thiền định, tay thủ ấn Xúc Thổ đánh dấu thời điểm Đức Phật Thành Đạo dưới cội Bồ Đề.  Bên phải Đức Bổn Sư là Tôn Dung Đức Chenrezig, vị Hóa Thân Thiên Thủ Thiên Nhãn của Đức Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát.  Bên trái Đức Bổn Sư là Tôn Dung Đức Chenrezig, vị Hóa Thân Quan Âm Tứ Tý, và Tôn Dung Đức Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.

 Chính giữa là Pháp Tòa, nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết giảng, hai bên trải tọa cụ để chư Tôn Đức Tăng Ni từ các truyền thống khác nhau ngồi nghe Pháp.  Được biết có 280 vị Tăng Ni về tham dự, gồm có các Tăng Ni theo truyền thống Nguyên Thuỷ như Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan; Bắc Tông như Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản; và các tông phái khác nhau của Phật Giáo Tây Tạng như Gelugpa, Shakya, v.v.  trong đó có Geshela Thubten Tenzin từ Darwin, Geshela Tashi Tsering và Geshela Jamyang từ Chenrezig Institute, Brisbane, Gyatso Rigzin (Gyatul) Rinpoche từ nước ngoài mới đến Sydney, là những vị đã từng dạy bảo và truyền giới pháp cho con trong thời gian ở Darwin và Brisbane.  Quý Thầy Cô Việt Nam có Hòa Thượng Phương Trượng chùa Pháp Bảo, Sydney, Thượng Tọa Viện Chủ Tu Viện Vạn Hạnh, Canberra, quý Thầy Trụ Trì chùa Quang Minh, Melbourne, chùa Nguyên Thiều, Sydney, chư Tăng chùa Huyền Quang, Sydney, Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, …

 Trong suốt năm ngày, đã có khoảng 6000 người từ 12 nước trong vùng Châu Á Thái Bình Dương về tham dự.  Ngoài hai thời Đức Đạt Lai Lạt Ma giảng pháp vào buổi sáng và chiều, còn có các thời thiền định, tụng kinh, các buổi thảo luận và những buổi tham vấn riêng với chư Tăng Ni trong suốt khóa học.  Như vậy, chương trình năm ngày này được xem như là một lần nhập thất với những ai ao ước muốn tu học và thực hành đầy đủ.  Quả nhiên, “đây chính là nhân duyên hiếm quý và quan trọng để hiểu rõ tại sao thiền định đóng vai trò quan trọng đặc biệt trong Phật giáo và trong đời sống tâm linh nói chung và lại được hướng dẫn và thực hành với chính thân và lời chỉ dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma” (http://www.dalailamainaustralia.org/).

Được biết chuyến bay đưa Đức Đạt Lai Lạt Ma đến Úc gặp trở ngại kỹ thuật nên thay vì đến Sydney vào chiều thứ ba, đến sáng thứ tư Ngài mới đến, và Ngài đã đến thuyết giảng ngay để giữ đúng hẹn với Phật tử.  Thật là một điều rất cảm động và là một duyên phước hy hữu cho những ai được có mặt ở Sydney để nghe Ngài thuyết giảng.  Có những tình nguyện viên vì được giao phó nhiệm vụ ở nơi khác không được nghe giảng, nhưng vẫn có niềm vui là biết rằng đang ở cùng nơi chốn với Ngài, và cảm nhận được sự mầu nhiệm do sự hiện hữu của Ngài trong lúc này và ở đây đem lại.  Quả đúng như trong Kinh A Di Đà, trong năm ngày qua ở Sydney, được cùng Chư Thượng Thiện Nhơn ở chung một chỗ, sáng chiều được nghe pháp, được nhìn thấy những khuôn mặt rạng rỡ, những ánh mắt hoan hỷ, nào khác nơi Cực Lạc phương Tây!

Thêm vào những thời pháp quý báu, vào chiều thứ bảy ngày 14 tháng 6 năm 2008, Đức Đạt Lai Lạt Ma còn có buổi thuyết giảng cho công chúng về “Tìm Mục đích cho Cuộc Sống”, có hơn 6000 người tham dự và nghe giảng về việc ứng dụng lòng từ bi và sự thông cảm trong cuộc sống hằng ngày, từ gia đình ra ngoài xã hội, cho đến quốc gia và thế giới.

Đặc biệt vào ngày cuối, sáng chủ nhật 15 tháng 6 năm 2008, có Lễ Quán Đảnh (Chenrizig Initiation), có thể được hiểu là buổi Lễ Truyền Pháp Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn.  Quan Âm là biểu hiện lòng Từ Bi của Phật.  Ngàn tay tượng trưng cho việc chìa tay ra cứu khổ chúng sinh ở khắp mọi phương, và ngàn mắt tượng trưng cho việc thấy rõ mọi chúng sinh và tiềm năng giác ngộ của họ.  Trước khi nhận Lễ Quán Đảnh, hành giả được Đức Đạt Lai Lạt Ma hướng dẫn thọ Tam Quy và Ngũ Giới, mà theo Ngài là Ba La Đề Mộc Xoa của hàng Phật tử tại gia.  Sau đó, Phật tử còn được truyền Bồ Đề Tâm Ấn và Bồ Tát Giới rồi mới lãnh thọ phép Quán Đảnh Quán Âm.  Khi đó, hạt giống tình thương được gieo vào trong tâm hành giả, hạt giống này được truởng dưỡng qua việc tu tập hằng ngày cho đến lúc đức Từ Bi viên mãn rốt ráo.  Đức Đạt Lai Lạt Ma ban cho tất cả những vị thọ phép Quán Đảnh Quán Âm một tantric name chung và khuyên tất cả nên trì chú Om Mani Padme Hung ít nhất là 100 biến mỗi ngày để thực hành thiền định du già và thành tâm giúp ích mọi loài.

Ngoài ra, quý Thầy Tây Tạng còn tạo Sand Mandala, hoa Mạn Đà La bằng cát, là Mạn Đà La của Đức Quán Âm.  Sau buổi giảng pháp sau cùng vào chiều chủ nhật 15 tháng 6 năm 2008, quý Thầy làm lễ xả bỏ hoa Mạn Đà La, đây là một bài học về vô thường và tinh thần xả ly rất cao quý, không dính mắc vào những việc đã làm, cho dầu là việc tốt đẹp.

Hợp rồi tan, đến rồi đi, năm ngày quả thật quá ngắn ngủi với những tấm lòng khao khát Phật Pháp, với những ai có đủ cơ duyên quý hiếm được thân cận một vị Đạo Sư cao cả hiếm có.  Tuy nhiên, những lời dạy trân quý của Ngài vẫn còn âm vang trong tâm thức mỗi người, và khi mỗi ngày lần chuỗi trì chú Om Mani Padme Hung thì như có Ngài đang hiện hữu bên cạnh khuyên răn nhắc nhở Từ Bi Tâm, Bồ Đề Tâm và Bồ Tát Hạnh.

Tâm Quang ghi nhanh

Mùa Đông Brisbane 2008

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.