Hôm nay,  

Đi Tìm Lại Nhịp Cầu Đánh Mất

07/07/200700:00:00(Xem: 10084)
Lời dẫn

Bài viết này được đúc kết bởi cảm xúc có được sau hai ngày tham dự Hội Nghị Quốc Tế Về Tiếng Việt (HNQTVTV) do Viện Việt Học (1) tổ chức. Tôi tình cờ được biết đến hội nghị này qua một người bạn. Sự tình cờ này đã trở thành một vinh hạnh cho tôi khi được nghe diễn thuyết, được tiếp chuyện, và được gặp gỡ các giáo sư tên tuổi như Gs bác sĩ Nguyễn Hy Vọng, Gs Trần Ngọc Ninh, Gs Nguyễn Ngọc Bích, Gs Phạm Văn Hải, Ông Đoàn Xuân, Ông Nguyễn Phước Đáng, cùng rất nhiều các giáo sư khác đến từ các nơi khác nhau.

Cảm xúc vui buồn lẫn lộn này đã khơi lại những ưu tư đã đến rồi đi nhưng chưa bao giờ được viết xuống trong những buổi trò chuyện giữa tôi và một vài bạn trẻ khác. Đó là những ưu tư về khoảng cách nới rộng giữa hai thế hệ trẻ và già ở hải ngoại trong các sinh hoạt cộng đồng trên hai lãnh vực văn hóa và chính trị Việt Nam. Nhịp cầu nối liền hai thế hệ bị đánh mất này theo quan niệm riêng của tôi không gì khác hơn là sự kém hiểu biết của giới trẻ hải ngoại hôm nay về lịch sử văn hóa, lịch sử chính trị, và nguồn gốc dân tộc cũng như ngôn ngữ Việt. Sau một thời gian tiếp xúc với các bậc trưởng thượng ngoài đời và trong các diễn đàn mạng, tôi tin chắc đây không phải là những ưu tư riêng của một vài người mà là một nỗi lo chung cho những ai yêu tiếng Việt, yêu nguồn gốc dân tộc Việt, và nước Việt.

Mặc dù trong lúc này, tôi chỉ đi tìm lại nhịp cầu đánh mất cho riêng cá nhân tôi. Nhưng tôi đã rất cảm động khi bác sĩ Nguyễn Hy Vọng đã nói với tôi bằng tất cả chân tình: "Lỗi ở Bác!". Tuy tôi không cho rằng câu nói đó hiện nay hoàn toàn đúng, nhưng đó là một cử chỉ cao đẹp mà tôi chưa lần thấy, không kể đây là từ một giáo sư lớn tuổi đã từng có những đóng góp đáng kể trong trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn, trong QLVNCH, trong khoa tâm thần học ở ĐH Kansas, tự điển Pháp Việt, và tự điển bách khoa Việt Nam. Trong tâm tình đó, tôi muốn dùng bài viết này trước là để cảm ơn Viện Việt Học cùng các giáo sư đã bỏ thời gian và tâm huyết để duy trì, phát huy sự hiểu biết về nguồn gốc tiếng Việt; sau đó là khuyến khích các bạn trẻ khác hãy đi tìm lại nhịp cầu đánh mất cho riêng mình.

Sơ kết về hai ngày đầu của HNQTVTV

Theo chương trình, hai ngày cuối tuần trong 4 ngày hội nghị (6/30/07 và 7/1/07) được dành cho phần lịch sử tiếng Việt. Mặc dù tôi đến trễ, nhưng vẫn nghe được một số điều lý thú về sự cách sử dụng "i" và "y" trong hệ thống chữ viết của người Việt Nam qua phần thuyết trình của Gs Phạm Văn Hải. Tiếp theo đó là phần thuyết trình của Gs Nguyễn Ngọc Bích về địa tầng Mã Lai đa đảo trong tiếng Việt. Tôi được làm quen với một thuyết mới về nguồn gốc tiếng Việt trước khi bị ảnh hưởng bởi chữ Nôm và chữ Hán với những điểm tương quan giữa các ngôn ngữ nằm trong vùng Mã Lai đa đảo (2). Thuyết này hoàn toàn phù hợp với những nghiên cứu khoa học về nguồn gốc sắc tộc và gen con người.

Các trường hợp đồng âm, đồng nghĩa của một số từ giữa các ngôn ngữ khác nhau một lần nữa được nhấn mạnh trong phần thuyết trình của bác sĩ Nguyễn Hy Vọng về ảnh hưởng các ngôn ngữ lân cận trên tiếng Việt. Với một loạt các câu nói ngắn gọn giữa tiếng Khmer và tiếng Việt được ghi âm, tôi có cảm giác là người phát ngôn tiếng Khmer trong phần ghi âm đang nháy lại từng câu nói tiếng Việt. Điều bất ngờ hơn nữa là những người tôi quen biết nói cùng hai thứ tiếng này tôi quen biết không hề để ý đến những trùng hợp kỳ lạ này.

Qua phần thuyết trình của Gs Trần Ngọc Ninh về tiếng và vần, tôi lại biết nhận diện âm bằng, âm trắc qua cách đánh dấu, và sau phần thuyết trình của Ông Đoàn Xuân, tôi bắt đầu để ý đến sự cần thiết của dấu gạch nối trong quốc ngữ để xóa đi những phức tạp về ý nghĩa trong các từ ghép như quân tử (lính chết, hay vua chết), săn sóc (săn con sóc), học giả (học thiệt), giáo sư (xảo sư hay giảo sư), v.v... Tôi cũng được biết đến các từ mới lạ đối với tôi như âm vận, tiết âm vị, mẫu âm, chánh âm, nguyên âm, phụ âm đơn, phụ âm kép... Và cứ thế theo từng phần thuyết trình, nhận thức về cái "biết" trong tôi cứ nhỏ dần và tôi bắt đầu có cảm giác về cái "hiểu".

Sự cố gắng của Ông Nguyễn Hữu Đáng với phần thuyết trình về cách dạy học vỡ lòng cho lớp trẻ là một đóng góp đáng kể cần phải được tìm hiểu nhiều trước khi phê phán. Những nghiên cứu của ông có thể chưa được hoàn hảo để được công nhận vào chương trình giảng dạy toàn diện, nhưng vẫn có giá trị đối với những thầy cô giáo tuổi đôi mươi ở hải ngoại đang lúng túng tìm cách dạy các trẻ em đánh vần và nhận diện chữ Việt. Nó có thể dùng như một phương pháp trong những phương pháp khác. Nói đúng hơn là vẫn có thể dùng như một phương pháp hay trong khi chưa có một phương pháp nào chính thức.

Trong phần thuyết trình về thế hệ trẻ VN ở hải ngoại và nhu cầu giảng dạy tiếng Việt, cô Hoàng Quế Trân (3) đã gây ấn tượng với lối diễn thuyết rõ ràng bằng tiếng Việt về phương pháp giáo dục văn hóa ngoại quốc ở Canada. Kết quả thành công của phương pháp này nói lên sự cần thiết của việc tạo dựng sự hiểu biết về văn hóa trước khi học hỏi về ngôn ngữ. Đối với người ngoại quốc hoặc trẻ em lớn lên ở hải ngoại, việc tập đọc và viết tiếng Việt không phải là một việc tất yếu như ở Việt Nam. Các học viên cũng không biết gì nhiều về văn hóa Việt trước khi học chữ Việt. Do đó, họ thiếu mất sự hăng say và lòng kiên trì trong việc học. Theo tôi, đấy cũng là một phương pháp cần nghiên cứu mặc dù không phù hợp với chương trình giảng dạy của đại học Hoa Kỳ. Ít ra, nó sẽ cho chúng ta thấy là tại sao mình có thể bắt con em ngồi trong lớp tiếng Việt bao năm liền mà phần đông chúng vẫn nghe tiếng Việt, trả lời tiếng Anh. Và khi chúng nói tiếng Việt, lại nói ra những câu có thể khiến cha mẹ chúng dở khóc, dở cười.

Vẫn nhịp cầu đánh mất

Khi bước vào phòng hội nghị, những điều đầu tiên tôi cảm nhận được là diện tích căn phòng, số người hiện diện, và tuổi tác. Đấy là một căn phòng chỉ đủ sức chứa khoảng 100 người với xấp xỉ 50 người tham dự, phần đông là các bậc chú bác thuộc tầng lớp đi trước. Tôi có cảm giác đây là một hội nghị dành riêng cho các nhà chuyên môn và bắt đầu thắc mắc là mình đang làm gì ở đây. Nhưng qua hai phần thuyết trình, những thắc mắc ban đầu đã trở thành tiếc rẻ. Theo tôi, nội dung của những bài thuyết trình là một cái gì đó vừa hấp dẫn, vừa quan trọng, vừa có giá trị suy ngẫm. Hấp dẫn là vì nó nói về một để tài tôi biết không ít nhưng chả hiểu gì cả. Nó quan trọng vì nó là một phần của nhịp cầu tôi tìm kiếm. Và nó có giá trị vì những gì tôi học được không phải là ý kiến phát xuất từ cái "tôi" của diễn giả, mà là những suy luận được gom góp từ mấy chục năm nghiên cứu có hệ thống khoa học.
Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng đã mở đầu phần thuyết trình của ông với câu nói khôi hài dí dõm: "Tôi vui vì số người đến nghe diễn thuyết hôm nay bằng số diễn giả tham dự. Và tôi mừng vì trong số đó có vài bạn trẻ.". Câu nói đó (đối với tôi có một cái gì đó không ổn") đã phản ảnh cảm giác về thắc mắc lúc đầu là mình đang gì ở đây, và sự tiếc rẻ của tôi sau đó như đã nói. Gs Trần Ngọc Ninh đã phát biểu một câu mà theo tôi hiểu đại khái là: Chỉ có qua đối thoại, chân lý mới được lóe sáng. Sống và lớn lên ở hải ngoại, được nghe một giáo sư với vài chục năm nghiên cứu về lịch sử văn hóa dân tộc thuyết giảng là chuyện đáng quý. Và việc nghe hơn một chục người như thế đối thoại, bình luận thì thật hiếm hoi. Nhưng rất tiếc, chỉ có một vài bạn trẻ tìm đến và số người tham dự cũng ít oi so với thành phần diễn giả.

Không riêng gì về hội nghị tiếng Việt này, những cuộc họp mặt khác mà tôi đã từng có mặt cũng có sự chênh lệch rất rõ ràng giữa thế hệ trẻ và các thế hệ đi trước. Và khi được đề cập đến, những phát biểu của cả hai thế hệ về lý do dẫn đến sự chênh lệch này đầy dẫy những "tại" và "bởi" nhưng hoàn toàn không phải là "tại tôi". Nếu để ý, ta sẽ nghe "tại thời thế", "tại chúng không biết dựa cột mà nghe", "tại mấy ổng nghĩ biết nhiều thì phải đúng", "tại bận đi làm", "tại chúng ham chơi", "tại mấy chú ham danh", "tại ai cũng đầy thành kiến", "tại họ không thống nhất, chia rẽ hoài", v.v... Chúng ta sẽ ít khi nghe: "tại tôi muốn mua thêm nhà", "tại tôi thích đi chơi", "tại tôi muốn mở thêm tiệm", "tại tôi bận đi rong ngoài phố", "tại tôi bận đi cua gái", "tại tôi ham lợi", v.v...

Tại sao tôi đi tìm"

Tôi rời Việt Nam vào đầu thập niên 90 khi học gần xong lớp 7. Lúc bấy giờ, việc nói và đọc tiếng Việt đối với tôi không phải là chuyện khó khăn. Hơn nữa, tôi thường tìm đọc và xem các bộ tiểu tiểu thuyết võ hiệp Trung Hoa qua sách vở, phim ảnh được dịch và chuyển âm sang tiếng Việt. Thỉnh thoảng, tôi lại giúp bố đánh máy các bản tin nhỏ lượm lặt từ báo chí. Theo quan niệm sai lầm của tôi lúc trước, tiếng Việt bao gồm tất cả những gì được nói và dùng bởi người Việt. Không có một tiếng Việt nào tôi không viết ra được hoặc không đọc được. Vì vậy mà trong mười năm liền, tôi thường tự hào với bản thân là mình biết tiếng Việt, mình không bị mất gốc.

Mãi cho đến khi bắt đầu viết lách và đọc lại bài viết của mình, tôi mới khám phá ra rằng bài viết của mình vẫn đơn sơ như bài viết của đứa bé lớp 7 năm nào. Những câu văn hoa mỹ, những từ ngữ phong phú mà tôi cho rằng mình biết được hoàn toàn không có trong bài viết của tôi. Và khi tôi bắt đầu để ý và tập sử dụng, tôi lại phải lúng túng vì phần nhiều các từ khi tách ra để dùng, tôi không biết nó phát xuất từ đâu, có ý nghĩa riêng gì, và được dùng như thế nào trong trường hợp nào. Thế là tôi không dám dùng. Tôi bắt đầu nhận định được rằng chuyện biết và hiểu là hai đề tài khác nhau. Và như thế, tôi bắt đầu lặn ngụp, mò mẫm học hỏi tiếng Việt vì trong quá khứ, tôi chỉ nói như một con vẹt và đọc như một cái máy. Bằng chứng là tôi chỉ nghe, đọc, và dùng một phần nhỏ của hơn 9,700 từ trong tiếng Việt. Tôi và các bạn chung quanh mình cũng chẳng biết nhiều về nguồn gốc và những thay đổi của tiếng Việt trong lịch sử trước khi có Hán ngữ trong tiếng Việt. Chỉ nội trong một bài viết của tôi, lúc thì bố, lúc thì bác, lúc thì lĩnh vực, lúc thì lãnh vực. "Chúng tôi" hay "chúng ta"" "dùng" và "sử dụng" hay "xài"" "mời dùng cơm" hay "mời ăn cơm", "mời xơi cơm"" Tôi không biết các chữ có nghĩa giống nhau khác nhau ở chỗ nào (chỗ hay chổ)" Và những chữ giống nhau có bao nhiêu ý nghĩa khác nhau. Lúc nào xài chữ nào" Bỏ dấu ra sao" Thôi thì cứ ráng viết và ai có kiên nhẫn đọc thì hãy cứ ráng mà hiểu và sửa dùm, vì ai cũng bảo nếu không viết ai biết mình muốn nói gì.

Trong vài năm gần đây trước sự đàn áp nhân quyền trong nước cùng phong trào dân chủ gia tăng, tôi bắt đầu để ý đến tình hình chính trị và những sự kiện thế giới đã dẫn đến thực trạng hôm nay. Tôi lại một lần nữa nhận thức được rằng sự hiểu biết của mình rất kém cỏi và mù mờ khi nói đến lịch sử Việt Nam và các nhân vật tên tuổi trong lịch sử thế giới. Và tôi cũng bắt đầu mò mẫm tìm hiểu về lịch sử chính trị dân tộc mình. Trong khi tôi không có thời gian để nghiền ngẫm các pho Việt Sử Toàn Thư, các tác phẩm văn học và tiểu sử, hồi ký của người xưa, v.v... tôi lại phải len lỏi giữa một rừng ý kiến về chính trị, lịch sử, văn hóa Việt Nam trên các diễn đàn, bài viết trên mạng, báo chí trong và ngoài nước. Phần nhiều những ý kiến ấy nếu không bị bóp méo bởi thành kiến, tuyên truyền chính trị thì cũng bị sai lệch vì thiếu những hiểu biết chuyên môn và cái nhìn tổng quát. Tôi bắt đầu thấm thía hai câu nói "không thầy đố mầy làm nên" và "học thầy không tầy học bạn". Ở hải ngoại tìm thầy học đã khó, tìm bạn để học lại càng khó hơn vì số bạn bè tôi biết có cơ hội, thời gian, và nhu cầu để học hỏi như tôi chỉ được một ít người. Cho dù vậy, học lẫn nhau chẳng khác nào thằng mù dẫn đường thằng đui.

Tại sao các chú, các bác tôi được biết lại đi tìm"

Ở tuổi 85, Gs Trần Ngọc Ninh vẫn phải cặm cụi với những đề án văn học và giáo dục của Viện Việt Học nhằm duy trì tiếng Việt, văn hóa dân tộc Việt cho thế hệ sau ở hải ngoại. Ông Nguyễn Phước Đáng với cặp kiếng lão, dáng đứng và giọng nói run run vẫn cố gắng nghiên cứu và trình bài một phương pháp dạy đánh vần và ghép chữ cho các thầy cô giáo trẻ sau này. Ông Đoàn Xuân với tác phẩm Về Nguồn mà ông gọi là "chiếc chìa khóa" mấy mươi năm vẫn lay hoay tìm người trẻ để trao lại với hy vọng là thế hệ sau sẽ tìm ra cánh cửa để mở khóa những phức tạp trong ý nghĩa các từ ghép được viết bằng quốc ngữ. Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng, cũng đã hơn 70, vừa trao địa chỉ, điện thư, điện thoại cho tôi vừa nói: "Cứ liên lạc với Bác, any time, any place, any language (Anh, Pháp, Việt), any topic." Ông chỉ muốn trao lại cho giới trẻ những gì mình biết được để thu hẹp lại khoảng trống giữa hai thế hệ.
Không chỉ những giáo sư tận tụy này, các nhà chính trị, bình luận gia lớn tuổi với nhiều kinh nghiệm và hiểu biết về lịch sử chính trị, kinh tế thế giới lúc nào cũng rất vui vẻ và phấn khởi khi các bạn trẻ tìm đến và hỏi han về lịch sử Việt Nam. Bác Đỗ Quý Toàn đã từng thuyết giảng liên tục 3 giờ liền về các sự kiện nhân vật lịch sử VN từ 1900 đến 1975 cho một nhóm trẻ chúng tôi biết. Một vài người lớn tuổi tôi quen lại dùng các diễn đàn để giao du với các bạn trẻ và lúc nào cũng sẵn sàng trả lời những câu hỏi về nguồn gốc văn hóa chính trị trong lịch sử, những câu hỏi về Hán ngữ, thơ văn, v.v...

Tất cả đều cùng một nỗi lo chung, họ muốn nối lại nhịp cầu đã và đang bị đánh mất trước khi quá trễ. Họ là những người đang có một cái gì đó cần phải được trao lại. Công cuộc duy trì nền văn hóa Việt ở hải ngoại cùng với sự phấn đầu cho nhân quyền, dân chủ, tự do Việt Nam là hai chuyện đòi hỏi sự kiên trì và đóng góp của nhiều thế hệ. Một khi bờ bên kia biến mất thì nhịp cầu đánh mất sẽ không thể nào tìm lại. Không riêng gì đến người Việt ở hải ngoại, nền giáo dục quốc nội cũng đang phải đối đầu với nhiều vấn nạn. Việc duy trì những kiến thức về nguồn gốc, lịch sử văn hóa cũng là một nỗi lo cho các nhà giáo dục trong nước. Trong một xã hội bị kiểm soát chặt chẽ, kẻ chiến thắng vẫn là người toàn quyền viết sử. Tất nhiên là những gì bất lợi cho Đảng sẽ bị bóp méo hoặc ém nhẹm một thời gian dài qua sự kiểm duyệt của cán bộ giáo dục. Khi thế hệ trước ra đi và đem theo những hiểu biết của mình, tuổi trẻ VN ở hải ngoại phải đối đầu với những nhịp cầu bị hạn chế và bóp méo của quốc nội để tìm về nguồn cội. Đồng thời, họ cũng phải tìm hiểu lịch sử văn hóa Việt Nam qua cái nhìn của người ngoại quốc; một phương pháp mà tôi chẳng có chữ gì khác thích hợp để diễn tả hơn là "chở củi về rừng".

Lời kết

Bác sĩ Vọng có thể đúng lúc ban đầu khi ông nói với tôi: "Lỗi ở Bác!". Nhưng hiện tại thì lỗi không phải bởi riêng một thế hệ nào. Nếu có khả năng đi tìm lại nhịp cầu đánh mất mà không làm, đó mới là lỗi. Ý nghĩa câu nói "thành kiến gây chia rẽ" mãi mãi không thay đổi ở bất cứ trường hợp nào, thời đại nào, thế hệ nào. Khi có thể bắt đầu câu nói từ "tại tôi", thì chúng ta sẽ thấy được rằng ở hai thế hệ, có rất nhiều người đang lần mò tìm lại nhịp cầu đánh mất. Và khi thấy được rồi, việc đi tìm nhau sẽ không còn khó khăn.

Sau sự thành công với dự án "Nam Phong Tạp Chí" (4), Viện Việt Học vẫn còn các dự án khác muốn được trình bài đến tất cả. Tôi hy vọng là chung với những dự án đó, Viện Việt Học sẽ đảm nhiệm luôn trách nhiệm nối lại nhịp cầu bằng cách tạo phương tiện để hai thế hệ có một chỗ để tìm đến nhau. Và tôi cũng hy vọng là một bài viết nói về cái nhìn của một người trẻ sẽ được các bạn trẻ để ý đến. Nếu có khả năng, chúng ta hãy cùng nhau tìm lại cho chúng ta và cho con cái chúng ta. Câu hỏi "có lợi gì cho tôi"" hôm nay nếu chúng ta không trả lời được thì sau này chúng ta sẽ phải nhìn vào con cái và nói rằng: "Lỗi ở Bố!".

Phần B của Hội Nghị Quốc Tế về Tiếng Việt sẽ được tiếp tục trong hai ngày cuối tuần 7/7 và 7/8 với chủ đề: giảng dạy tiếng Việt. Nội dung chương trình có thể tìm thấy trên trang nhà của Viện Việt Học. Đây là một dịp để đến và nghe các giáo sư bàn thảo về những phương pháp dạy tiếng Việt cho thế hệ sau. Đây cũng là dịp để chúng ta góp ý kiến giúp họ nhận định đối tượng, nhận định nhu cầu của mình và con cái mình. Tôi xin mượn câu nói của Gs Trần Ngọc Ninh để kết thúc bài viết này: "Qua đối thoại, chúng ta mới có thể tìm ra chân lý." Hy vọng trên con đường tìm lại nhịp cầu đánh mất, các bạn trẻ sẽ đồng ý với tôi rằng biết và hiểu là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.

7/3/07


Chú thích:

(1) Viện Việt Học - http://www.viethoc.org/

(2) Malayo-Polynesian. Xin tìm đọc thêm về ngôn ngữ của các sắc dân trong vùng này dưới phần "Astronesian Languages" trong Wikipedia (http://en.wikipedia.org/wiki/Austronesian_languages)

(3) Phụ tá cho dân biểu Adrian Dix, đại diện khu vực Vancouver-Kingsway, Canada.

(4) Nam Phong Tạp Chí toàn bộ đã được chuyển vào DVD. Có thể xem ở trên trang web của Viện Việt Học.

http://www.viethoc.org/index.php"module=pagemaster&PAGE_user_op=view_page&PAGE_id=101
"Để bảo tồn và tìm hiểu một số tài liệu về văn hoá của các thế hệ trước để lại, Viện Việt-Học với sự hợp tác của gia đình học giả Phạm Quỳnh (người đại diện là Ông Phạm Tuân, con trai út của học giả Phạm Quỳnh) sẽ chuyển bộ Nam-Phong Tạp-Chí (1917-1934) vào DVD và kính mời các quí vị học giả, nhà giáo dục, nho học tham dự vào công trình dịch thuật phần chữ nho của tạp chí này sang chữ abc." - VVH

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.