Hôm nay,  

Câu Chuyện Lý Số: Duyên Nghiệp, Phúc Phần Và Nhân Quả Trong Cuộc Sống

21/02/200900:00:00(Xem: 10036)
Câu Chuyện Lý Số: Duyên nghiệp, phúc phần và nhân quả trong cuộc sống
PTTVG Song Lộc
(Ký sự tham luận về phong thủy, Tử vi lý số và huyền học của PTTVG Song Lộc - ĐT: (817) 419-7371)
Ngày xưa, trong dân gian cổ nhân thường dùng các câu phương ngôn, ngạn ngữ dễ hiểu   hoặc thăng trầm, dẫn giải cho con cháu cách hành xử  trong cuộc sống, sao cho hợp lòng người và hợp lòng trời như "có phúc có phần" gieo nhân nào hái hái quả nấy"  "khi nên trời cũng chiều người" với ý là làm phúc thì sẽ được phúc. Làm phải thì trời cũng chiều ý của mình, phúc hay họa cũng do mình. Không phải hoàn toàn thụ động "con vua thì lại làm vua, còn con thầy chùa lại quét lá đa" hai câu chuyện kể dưới đây có thể nói lên điều đó.
Đã lâu lắm, tại một vương quốc trù phú, thanh bình, thịnh trị, dân chúng an cư lạc nghiệp. Nhà vua là một anh quân lấy đức trị dân, nên được tahn dân yêu mến. Ngài có được 12 công chúa nhưng chưa có được một hoàng nam để nối nghiệp. Và vấn đề này đã gây ra biết bao  buồn vui về mọi phía trong hoàng tộc. Nhà vua cho rằng nếu không có hoàng nam thì Hoàng đế nối ngôi, anh em ai ở ngôi trời cũng được. Tuy nhiên, các vị khác như Hoàng hậu, Tây phi, hoàng đệ và nhất một vị thượng  thư đầu triều lại có những buồn vui lo lắng khác nhau: Hoàng hậu ngày đêm lo nghĩ, Tây phi đang long thai, nếu bà này sớm sinh hoàng nam thì sẽ trở thành Tây cung hoàng hậu và sẽ thâu tóm queỳn binh ở hậu cung. Hoàng hậu vì long ghen tuông, đố kỵ nên không nghĩ xa hơn, khi mà đức vua truyền ngôi cho hoàng đệ bà sẽ chẳng còn gì cả, Tây phi tuy trẻ đẹp không khéo được lòng ngài ngự và lại đang có long thai, bà chỉ lo sẽ sinh công chúa, nhưng được Thái Bốc tiên đoán là bà có số mẫu nghi thiên hạ, nên luôn an lòng đắc ý; vị hoàng đệ thấy nhà vua không có con trai thì luôn mừng rỡ, hy vọng hoàng huynh sẽ sớm thoái vị để mình tiếp nối ngôi trời. Ông ta bất tài nhưng lòng đầy tam vọng nên ngày đêm nghĩ cách xây dựng thực lực để nắm quyền. Còn vị thượng thư đầu triều thì luôn trung quân ái quốc, một lòng phò vua lo cho dân cho nước. Oâng cũng đã lớn tuổi mà chưa có con ối dõi và đang có mối lo âu đặc biệt mà lẽ ra phải vui mừng mới phải. Số là ông có một bạn đồng liêu rất thân, làm quan phụ trách khâm thiên giám, ông này xem thiên tướng và thấy "đế tinh" chiếu xuống phủ đệ của ông, vợ ông cũng đang mang thai, chả lẽ sinh ra là bé trai và sau này sẽ trở thành nghịch thần tặc tử, khuynh đảo triều đình để cướp ngôi. Không thể được, ông không thể để con ông làm trái luân thường đạo lý. Nhưng chuyện đó xảy ra thì ông phải làm sao" Chả lẽ lại đi giết conmòn. Bốn người đề có tâm sự pahỉ dấu kín vì teít lộ ta là hỏng chuyện mà còn nguy hiểm đến tính mạng nữa. Ở Tây cung, Tây quý phi có sự trợ lực của thủ lĩnh thái giám. Người này vì sự ưu đãi của vua đối với Tâu cung, nên được nhà vua tin và trao cho quyền điều hành Đông xưởng, có liên hệ trực tiếp đến sự an nguy của quốc gia (cơ quan này gân như là cơ quan an ninh điệp  báo và phản gián bây giờ) nên Tây Cung có một thế lực ngầm đáng sợ và là đầu mối của mọi chuyện sẽ xảy ra tại hoàng cung.
Một buổi tối, được bẩm báo là Tây thi đang trở dạ nhà vua bãi bỏ mọi yến tiệc, nôn nóng chờ tin tại Tây Cung, thủ lãnh thái giám cho canh phòng nghiêm mật, chỉ có vài thái giám và cung nữ htân cận phụ bà mụ lo việc thai sinh, khi đứa trẻ oe oe chào đời, Tây phi cố gượng dậy truyền bế lại gần và tỏ vẻ chán nản bực bội vì đứa bé lại là một công chúa. Hiểu ý chủ, thủ lãnh thái giám ghé tai Tây phi thì thầm, chỉ thấy Tây phi tươi nét mặt truyền cho y gấp gấp thi hành. Bà thương con nhưng vì phải tính kế lâu dài nên đành chịu. Tại dinh vị thượng thư, ban sáng phu nhân đã hạ sanh được một bé trai, đang vui thì có thủ lãnh thái giám Tây cung tới thăm và tỏ ý mượn đứa trẻ vô Tây cung cho Tây Thi bồng bế lấy hên, một lát sẽ trả về. Quả nhiên, chỉ một khắc đồng hồ sau là đứa bé được trả về. Thị nữ bế  trao lại cho phu nhân thì bà ngất xỉu vì đứa bé biến thành con gái. Tỉnh lại bà la hét đòi vào Tây cung giành lại con trai nhưng ông cố dỗ dành vợ và cấm gia nhân tiết lộ ra ngoài. Ông đã hiểu ra mọi sự nhưng không thể nào làm ngược lại được. Bà thì nhìn đứa bé  căm hận, bà ôm đứa trẻ và cắn một miếng khá sâu vào tay để trả thù. Bà cho đứa nhỏ là nguyên nhân gây ra chia cắt tình cốt nhục nên quyết báo thù. Vài hôm sau bà mang cháu gái con bà chị về nuôi và mượn người đem cô công chúa đi bỏ trước một kỷ viện lớn ở thành phố gần đó. Rất may là khi tiễn khách ra về, một ca kỹ nghe thấy tiếng khóc đã bế con bé vào kỷ viện. Mọi người đều vui thích nhìn đứa bé và họ quyết tâm cùng nhau chăm sóc, chăm lo cho cô bé.
Ở hoàng cung khi được thủ lãnh thái giám Tây cung bẩm báo là Tây phi  nương nương đã hạ sanh hoàng tử nhà vua vội vã đến thăm con và ngay sang hôm sau đã đem hoàng tử thiết triều để bá quan diện kiến và phong Tây thi làm Tây cung hoàng hậu lo việc hậu cung. Lớn lên hoàng tử rất thông minh đĩnh ngộ, ham chuộng văn chương võ nghệ nhưng lại rất nghịch ngợm, thường trốn khỏi hoàng thành và rong chơi nơi dân giả, đôi khi làm mẫu hậu buồn lòng. Bà thương con ruột của mình nên tính kế mang con gái vào cung, gần hoàng tử để hai trẻ gần nhau sau này có thể nên duyên cầm sắt, đôi đường trọn vẹn. Cô bé này khi lớn lên lại rất ham danh, chuộng lợi, kiêu sa đanh đá, ai gần cũng chán ghét nhưng thấy hoàng hậu cưng yêu nên họ phải xuôi chiều cho êm chuyện. Ngược lại, cô công chúa tuy lớn lên tại kỹ viện nhưng tính tình đôn hậu, hiếu thảo với các mẹ nuôi, thân thiện với mọi người, mọi thành phần trong thị trấn. Có điều có chuộng võ khinh văn, chỉ ưa tập luyện võ nghệ mà sao lãng việc học hành văn chương chữ nghĩa. Mặt khác cô rất nghịch ngợm, có nhiều nam tính nhưng lại đẹp đẽ và dễ thương nên cả phố đều yêu mến, che chở và đùm bọc.
Trong triều đình, từ ngày Tây cung hoàng hậu sanh thái tử, mọi chuyện đều thay đổi, thủ lãnh thái giám Tây cung bây giờ trở thành tổng thái giám đặc trách mọi chuyện trong cung, đông xưởng nhiều quyền hơn và chen chân vào mọi lãnh vực trong triều đình ai cũng phải kiêng nể, hoàng đệ thì ngấm ngầm tổ chức phe đảng, tuyển chọn sát thủ để mưu đồ đại sự. Nhất là khoảng 16 năm sau hoàng đế băng hà, Tây thái hậu thùy liêm thính chính", tân quân còn nhỏ, nên mọi việc quân quốc đai sự đều giao cho cận thần là Tổng Thái giám đảm trách. Một số nịnh thần thuận theo chiều gió đã xưng tụng y là "cửu thiên tuế" chỉ thua vạn tuế có một bực. Mấy năm sau, khi thiếu quân trưởng thành thu hồi lại quyền hành và tỏ ra coi thường y thì y lại căm thù, liên kết với hoàng đệ và chánh cung hoàng hậu âm mưu thay thế ngai vàng và giữ lấy  uy lực cũ, rất may cho triều đình là thiếu quân tuy còn trẻ nhưng thông minh, tài trí, đức độ hơn người được các trung thần không phò và các cao thủ võ lâm  bảo vệ nên âm mưu khuynh đảo bị thất bại và bị trừng trị đích đáng. Ngai vàng vững như bàn thạch.
Như thế, ngôi vua đã chuyển đổi qua họ khác hoàn toàn bí ẩn đúng như thiên tượng đã báo hiệu. Có điều, vì lẽ gì mà một công chúa lại  bỗng trở thành thứ dân, hơn nữa còn có thể trở thành ca kỹ bán thân xác, mua vui cho mọi người. Chỉ biết, năm cô 13 tuổi, có một thầy tướng số đoán rằng kiếp trước cô là một tướng quân tài giỏi nhưn đa sát, không nương tay với kẻ thù và còn hay tổ chức các cuộc đi săn, tàn sát nhiều muôn thú nên kiếp này tuy cô là dòng dõi quyền quý nhưng vì nghiệp quả phải trầm luân, nếu gắng tu nhân tích đức, hạn xấu sẽ qua đi, thì sẽ là mẫu nghi thiên hạ. Như thế có phải chăng mọi sự trên thế gian đều do phúc, phần và Nhân quả"

Câu chuyện còn có hậu ở chỗ, có sự tình cờ gặp gỡ giữa tân quân và nàng công chúa. Cô đã cứu tân quân khỏi sự mưu hại của Hoàng thúc, được mời vô hoàng cung và nhờ có cật chứng là tấm tả lót cầu kỳ chỉ có nơi cung cấm, thái hậu đã nhận ra con ruột của mình và đã sắp xếp tác thành mối lương duyên lẽ ra không thể có vì giai cấp. Sauđó, thái hậu đã xuống tóc đi tu để trả hết nợ vì oan trái.
Thời nay, tuy khoa học đã tiến bộ vượt mực nhưng phúc phần và nhân quả vẫn rõ nét trong cuộc sống, và câu chuyện gần như có thực sau đây là một ví dụ:
Ông Hoàng là một nhà nông trung lưu ở miệt Thái Bình người đôn hậu và có một cuộc sống tương đôi đầy đủ tại vùng nông thôn trù phú. Năm Ất Dậu (1954) miền Bắc Việt Nam gặp nạn đói kinh người, mọi nơi người chết như rạ, các thành phố phải cho xe bò nhặt xác đi chôn, còn ở nông thôn thì hàng ngày đều có người chết đói nơi đình chùa miếu mạo hoặc đầu đườmg xó chợ. Lương thực thiếu thốn đến nỗi không có cả cám heo hay khoai sắn đỡ dạ, họ phải đào củ chuối vớt bèo tây mà ăn. Sông không có con cá, ngoài đồng không còn chim chóc, cào cào, châu chấu và ếch nhái. Trong lúc khó khăn đó, vợ chồng ông Hoàng đã cùng chia xẻ từng chén cơm, chén cháo, đấu cám, của khoai cho người trong xóm ngoài làng. Nhiều người được cứu sống và nhiều gia đình được sống còn đến vụ chiêm, "cứu nhất nhân, đắc vạn phúc". Gia đình ông đã cứu được nhiều người nên đã được người cứu.
Tháng 8 năm 1945, Việt minh CS đội lốt quốc gia, phỉnh lừa dân chúng cướp chính quyền từ tay Nam triều, ép Hoàng đế Bảo Đại thoái vị. Khi đã cướp được công quyền, họ chủ trương tiêu diệt tất cả các thành phần Trí, Phú, Địa, Hào bần cùng hoá nhân dân, theo đúng đường lối của Nga sô và sau này là Trung Cộng. Số người bị giết, bị bắt đưa đi khu tư nhiều vô số kể. Địa phương của ông cũng không ngoại lệ, riêng ông vì đã cứu sống họ mới đây nên họ lơ đi không giết nhưng cũng bị tịch thu hết tài sản, ruộng đất do cha ông để lại. Sau đó, may nhờ có chính quyền quốc gia được tái lập và quân đội quốc gia về trấn đóng nên ông mới được bình an. Cuối tháng 6-1954, sau khi Pháp thua trận tại Điện Biên Phủ vì bị phản phé và VC có sự yểm trợ tích cực của Trung cộng (cán bộ, lính, pháo, đạn dược) mấy tỉnh đồng bằng Băùc Việt bị bỏ rơi. Tháng 7 Pháp và Việt cộng ký hiệp định Geneve chia đôi đất nước, ông phải dùng tài sản còn lại đổi lấy sự an toàn cho gia đình trốn lên Hà Nội, rồi chuyển xuống Hải Phòng và di cư vào Nam với gia đình toàn vein, hai vợ chồng và 4 đứa con, nhỏ nhất là 10 tuổi. Thật đáng mừng. Vào Saigon ông mua được một căn nhà trệt tại đường Lý Thái Tổ, mau chóng ổn định cho con cái đến trường và chung vốn với một người Hà Nội di cư mở cửa hàng bán vật liệu xây cất, món hàng cần thiết cho các trại di cư của người vào từ miền Bắc. Các con ông đều chịu khó học hành, ra trường, học tại trường võ bị quốc gia và quốc gia hành chánh, rồi trở thành sĩ quan đơn vị và phó quận ở vùng 4.
Hai cô gái cũng có chồng là sĩ quan và trưởng ty hành chánh tỉnh.
Tháng tư đen 1975, khi cộng sản Bắc Việt vi phạm hiệp định Paris, tấn công cưỡng chiếm miền Nam thì các con trai và con rể của ông đều kẹt tại đơn vị hành quân và nhiệm sở, Ông vẫn bình tĩnh ứng phó vì tin rằng hiền sẽ gặp lành. Ít lâu sau, khi cộng sản đánh tư sản, ông gặp một người cùng quê được ông cứu sống khi xưa (1945) nay là cán bộ cao cấp có uy thế tại Saigon. Có thể y vẫn nhớ ơn xưa hoặc đã tối mắt vì của cải, đề nghị ông nên trao hết tài sản cho y, y sẽ che chở cho cả gia đình, ông rút về Lâm Đồng trồng cây chờ thời. Năm 1985, khi các con trai và con rễ trở về đầy đủ, y lại tổ chức cho cả gia đình ông ra đi và được ông (hoặc buộc ông) trao hết số tài sản còn lại. Gia đình ông, tuy một lần nữa hầu như bị mất hết của cải, nhưng đã đến được bờ tự do ngay sau đó, và hiện nay cả gia đình ông đã hội nhập vào xã hội mới với khí thế ngày xưa (trước 1975) chỉ có một cô con dâu thứ hai là bạc phước, vì nghiệp số chưa toàn, không biết tương lai sẽ về đâu và có còn dám trở lại gia đình ông nữa hay không. Chuyện thật tình cờ và có thể nghiệp số: Trước Tết Mậu Thân X. là một cô gái đẹp dậy thì, bán cà phê ở chợ Cầu Muối, cô rất mê nét hào hoa của chàng chiến sĩ quân lực VNCH, nên sau Tết đi theo phái đoàn dân chính uỷ lạo chiến siõ sư đoàn 5 bộ binh tại Bình Dương, ngầm có ý "gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân" biết đâu lại không chọn được một chàng trai vẹn ý. Đến nơi, phái đoàn chia nhau đi thăm các đơn vị và có lẽ duyên số nên người sĩ quan nghênh đón toán của cô, Trung uý T, một chàng trai phong nhã, tốt nghiệp võ bị quốc gia Đà Lạt, đã lọt vào mắt xanh của cô. Nhìn dáng dấp học trò e lệ, ăn nói nhỏ nhẹ và có duyên của cô, chàng ta cũng cảm thấy thích thú. Họ hạp nhau hẹn nhau tại Saigon và yêu nhau. Chiều ý người "trai thời chinh chiến, mấy người đi trở lại" ông Hoàng tổ chức lễ cưới dâu thật chu đáo và cho ngay hai vợ chồng cậu này một tiệm vải đường Lê Lợi. Cặp vợ chồng trẻ yêu nhau tha thiết, nhiều khi cô mạo hiểm đến tận mặt trận thăm chàng. Họ có với nhau hai đứa con bụ bẫm, hạnh phúc vô chừng. Chàng cưng vợ con như trứng mỏng. Bảy năm trọn vẹn thì miền nam bị ...trao cho CS.
Ngày 30/4/1975 chàng đang là thiếu tá tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn nổi tiếng của sư đoàn, bị CS giam giữ và đưa ngay ra Bắc. Ở Saigon đang sống xa hoa đầy đủ, bỗng chốc mọi thứ đều bị CS cướp sạch, lại phải đi Lâm Đồng làm rẫy. Cô X, bây giờ là bà thiếu tá T, hết sức chán nản, buồn bực. Đúng lúc đó, thì một tên cán bộ kinh tài nội thành, xưa khi thường tán tỉnh cô, đến rủ cô đem hết tài sản vượt biên sang Hoa Kỳ để có một cuộc sống đầy đủ hơn xưa. Nghe lời đường mật đầy hấp dẫn, vả lại chờ chồng thì chả biết đến bao giờ, có khi "xôi hỏng bỏng không" nên cô giao 2 con lại cho cha mẹ chồng và cuốn gói theo người tình mới. Lúc này ông Hoàng mới ân hận vì đã chọn dâu không kỹ, Thiên bất dung gian, trên biển cô bị cướp biển hãm hiếp và lấy hết của cải, may nhờ một tàu buôn cứu và đưa đến Mã Lai.
Đến đây, người tình mới của cô trở mặt, khinh bỉ dẻ bỉu cô đủ điều. Khi đến Mỹ y chỉ lo ăn chơi, nhậu nhẹt, đàn đúm, cón cô thì phải đi may vá để có tiền cung phụng người tình oan nghiệt. Năm 1985, được tin chồng con đến Mỹ, cô thấy tủi phận. Thương chồng, nhớ con nhưng bây giờ nhan sắc đã tàn phai, lại thêm sóng gió đầy nhơ nhuốc thì làm sao mà gặp mặt chồng con. Mình làm mình chịụ, kêu mà ai thương. Âu cũng là nghiệp số. Đúng là có Phúc có Phần và gieo nhân nào hái quả ấy.
Qua hai câu chuyện cổ kim kể trên, đúng là cuộc đời có vay thì có trả. Dòng đời biến chuyển không ngừng, có nay rồi không đấy, còn đấy rồi hết đấy. Công chúa mà lớn lên tại thanh lâu kỹ viện, ngôi cao hoàng đế từ trên trời rớt xuống cho kẻ có nhân. Ở hiền gặp lành và vô tình bạc nghĩa thì lại gặp tham lận bất long. Con người bé nhỏ biết làm sao chu toàn mọi lẽ cho thân tâm luôn an lạc. Khó vậy thay!!!
Bùi Công Hồ
1715 Powder Horn Ln.
Arlington, TX. 76018
Tel: (817) 419-7371

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.