Hôm nay,  

Doãn Quốc Sỹ, một tâm hồn thấm đẫm tinh thần dân tộc

20/10/202523:15:00(Xem: 952)

 

BuiVanPhu_2025_1020_DoanQuocSy_H01_VanDongNhanQuyen

Các tổ chức nhân quyền lên tiếng cho nhà văn Doãn Quốc Sỹ và những tù nhân lương tâm bị Hà Nội giam giữ (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Sống qua hơn một thế kỷ, nhà giáo, nhà văn Doãn Quốc Sỹ là nhân chứng của một giai đoạn lịch sử nước Việt đầy thăng trầm.

 

Giáo sư, nhà văn Doãn Quốc Sỹ vừa qua đời hôm 14/10/2025 tại Quận Cam, California, hưởng đại thọ 102 tuổi.

 

Khi tôi học lớp 10 và 11 ở trường Nguyễn Bá Tòng thì biết đến giáo sư Doãn Quốc Sỹ qua những tập sách khảo luận của ông về Tản Đà, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát mà tôi cần đọc thêm để làm bài trong giờ Việt văn với các thầy Thái Văn Khôi, Trần Bằng Phong và cũng để ôn bài cho kỳ thi Tú tài I.

 

Những năm sau đó tôi mới đọc Gìn vàng giữ ngọc, xuất bản năm 1960, và Sầu mây năm 1970, cùng vài tác phẩm khác nữa của Doãn Quốc Sỹ, một trí thức Hà Nội di cư vào sống trong Nam từ năm 1954, cùng với Mai Thảo, Nguyễn Đình Toàn và một số văn nghệ sĩ miền Bắc khác.

 

Gìn vàng giữ ngọc gồm 6 truyện ngắn: Khu vườn bên cửa sổ, Căn nhà hoangTiền kiếpCái chết của một ngườiHương nhân loạiChiếc chiếu hoa cạp diềuGìn vàng giữ ngọc. Qua những câu chuyện thời kháng chiến, chuyện tản cư của gia đình tác giả, dù trong hoàn cảnh nào thì tình thương yêu, tính nhân bản của nhân vật cũng được đề cao, dù có đói ăn, thiếu mặc hay đang sống trong hoàn cảnh giặc giã, chiến tranh.

 

Những điều về con người cộng sản trong phong trào Việt Minh, ông ghi lại trong chuyện Gìn vàng giữ ngọc, qua câu nói của một người thân trong gia đình: "Em nên nhớ anh Sơn bỏ ngoài kia vào đây cũng để tránh những thái độ soi mói vào đời tư một cách bất lịch sự, vô chính trị và vô… giáo dục như vậy." Đó là nguyên do khiến tác giả bỏ chiến khu về thành, sau năm năm theo kháng chiến chống Pháp từ 1946 đến 1951.

 

Truyện Khu vườn bên cửa sổ là cuộc tình lãng mạn của một "chàng" bác sĩ quân y với Linh, mà "chàng" sau này lại trở thành người yêu của Huyên. Linh và Huyên đều là sinh viên Đại học Văn khoa Sài Gòn, Linh học ban Anh văn, từng tu nghiệp Mỹ, có người yêu là sinh viên Việt đang học đại học Mỹ danh tiếng Cal Tech. Tính tình Linh cởi mở, hoạt bát tự nhiên, còn Huyên thì khép kín. Câu chuyện ghi lại nhiều biến cố lịch sử từ ngày gia đình các nhân vật ở Hà Nội, Thanh Hóa, Vĩnh Yên hay đã vào Tây Ninh, Sài Gòn.

BuiVanPhu_2025_1020_DoanQuocSy_H02_BiaSach
H02: Tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Từ chuyện tình của Linh, xuất bản lần đầu vào năm 1960, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã ít nhiều giới thiệu nước Mỹ cho độc giả miền Nam, dù khi đó ông chưa đặt chân đến Hoa Kỳ.

Vì sự can thiệp của người Mỹ vào cuộc chiến, nên ông đã đưa văn hóa Mỹ và Việt vào trong nhiều tác phẩm. Dấu chân cát xóa ông viết trước ngày 30/4/1975 nhưng chưa kịp xuất bản, cho đến khi được in ở Hoa Kỳ sau đó. Trong tác phẩm này là câu chuyện của Chương, một sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã giải ngũ, được du học Mỹ với học bổng USAID. Qua Chương, nhiều nét văn hóa Việt-Mỹ đã giao thoa, như những bài dân ca: Đèn cùLý con sáoSe chỉ luồn kim nghe được ở nhà một giáo sư đại học người Mỹ; như phong cảnh, tập tục của người Mỹ trải dài từ West Virginia, New York, Illinois sang California; đến nền móng của Kitô giáo, triết lý của đạo Phật. Trong tác phẩm này còn có chuyện tình giữa chàng trai Việt, cựu Trung úy Biệt động quân tên Lĩnh và cô gái Mỹ tên Horthy, chọn tên Việt là Hoa.

 

Ở đây nhà văn muốn cho độc giả thấy khi nhắc đến Việt Nam thì chiến tranh không phải là trọng điểm mà ở đó còn có một nền văn hóa truyền thống lâu đời với nhiều nét đẹp.

Giáo sư Doãn Quốc Sỹ đã qua Mỹ tu nghiệp sư phạm hai năm, 1966-68, về nước ông viết Sầu mây kể lại những ngày ở Mỹ ông đã giới thiệu văn hóa Việt cho người Mỹ mũi cao, tóc vàng, mắt xanh.

 

Có lẽ vì thế Hà Nội đã xem ông là "biệt kích văn hóa" và đã bắt giam ông hai lần, từ năm 1976 đến 1980 và lần thứ hai từ 1984 đến 1991.

 

Sự việc ông bị bắt lần thứ hai liên qua đến tác phẩm Đi ông gửi ra nước ngoài, xuất bản lần đầu ở Pháp vào thập niên 1980, dưới bút danh Hồ Khanh.

 

Khi vận động trả tự do cho ông và các văn nghệ sĩ bị Hà Nội giam tù, tổ chức nhân quyền Ân xá Quốc tế đã ghi trong bản tường trình về trường hợp giam giữ nhà văn Doãn Quốc Sỹ khi ông bị báo chí nhà nước lên án là "cán bộ chiến tranh tâm lý của Mỹ", "văn chương phản cách mạng", "bóp méo sự thật lịch sử của kháng chiến", là "kẻ lợi dụng thời cơ".

 

Tháng 5/1984, ông bị bắt cùng với các văn nghệ sĩ như Hoàng Hải Thủy, Khuất Duy Trác, Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường mà không bị đem ra xét xử trong nhiều năm.

 

Trước sự vận động của các tổ chức nhân quyền và áp lực của thế giới, tháng 4/1988, Hà Nội mới đem ông ra xử cùng với Hoàng Hải Thủy, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tú, Nguyễn Thị Phước Lý và nhân viên bưu điện Nguyễn Thị Nhàn, bị cáo buộc đồng lõa đã giúp chuyển tác phẩm Đi của ông sang Pháp.

 

Ông bị kết án 10 năm tù, được thả vào tháng 11/1991 và đến Mỹ đoàn tụ cùng gia đình năm 1995.

 

Tác phẩm Đi gồm 19 chương, ông viết ở trong nước, ghi lại sinh hoạt đời sống của gia đình ông, của nhiều người Việt với hai lần di cư vào năm 1954 và cuộc di tản tháng 4/1975 và sau đó là làn sóng vượt biển. Ông viết về những khó khăn trong đời sống dưới chính quyền cộng sản qua chuyện lý lịch, chuyện dạy học và chuyện vượt biển của hàng trăm ngàn người Việt.

Văn chương của ông nhẹ nhàng, dù phác họa lên những đắng cay, đau khổ, ngang trái của đời ông, trong cuộc sống của người Việt, nhưng luôn ẩn chứa niềm tin vào tiền thân lịch sử của dân tộc.

 

Qua nhân vật hay những câu viết trong truyện ngắn Tiền kiếp cho thấy ông không ưa cộng sản vì "gieo bi quan, nghi ngờ trong giới trí thức" nên Tân, một nhân vật biểu tượng của con người ông, đã bỏ kháng chiến năm 1951 để về thành. Ông không thích nếp sống xa hoa của những người thực dân Pháp trên quê hương mình, qua hành động của Tân khi vứt bỏ những đồng năm hào, là biểu tượng của người Pháp đang đô hộ Việt Nam, xuống cống nước đen. Ở những chỗ khác trong tác phẩm, ông đã biểu lộ không ưa chủ thuyết tư bản, thể hiện trong chính sách của Mỹ, hay nếp sống hiện sinh được bàn tán nhiều ở Pháp trong những năm đầu thập niên 1960.

 

Qua tác phẩm, Doãn Quốc Sỹ đã thể hiện ông là một người Việt chân chính, với tinh thần dân tộc, yêu thương đất nước, tôn vinh những cái đẹp, những điều nhân bản trong cuộc sống, giá trị của tự do: "Chỉ những hiện thân của u tối, của thiển cận mới tưởng rằng nắm được quyền hành là nắm được lòng người."

 

Dù có bị chế độ cộng sản giam tù, ông vẫn tin vào con người nhân bản: "Người đâu có nhất thiết tạo thành địa ngục cho nhau, nhất thiết là đao phủ của nhau."

 

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán.

 

Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu.

 

Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.

 

Năm 1956, ông là người đồng sáng lập ra nhóm Sáng Tạo, cùng với Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Sỹ Tế, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh, Ngọc Dũng, tạo ra diễn đàn sinh hoạt văn chương, xuất bản tác phẩm, tạp chí. Có thể nói ông là một trong những văn nghệ sĩ đã khai sinh ra nền văn học Việt Nam Cộng hòa với hàng chục nhà xuất bản đã phát hành cả ngàn tác phẩm văn học đủ thể loại trong 20 năm.

 

Cuộc đời của nhà văn Doãn Quốc Sỹ trải qua 102 năm, hơn một thế kỷ, nên ông đã là chứng nhân của lịch sử.

 

Với 25 tác phẩm để lại cho đời, đáng chú ý nhất là bộ trường thiên tiểu thuyết Khu rừng lau gồm bốn quyển, với gần hai ngàn trang sách: Ba sinh hương lửaNgười đàn bà bên kia vĩ tuyếnTình yêu thánh hóa và Đàm thoại độc thoại, ghi lại những biến động của đất nước qua các cuộc chiến tranh chống Pháp từ đầu thập niên 1930 cho đến chiến tranh Việt Nam khi lên cao điểm vào thập niên 1960, với sự can dự mạnh mẽ của Hoa Kỳ.

 

Sau khi chiến tranh Việt Nam chấm đứt, với tác phẩm Đi viết về đời sống và hoàn cảnh của người Việt sau ngày 30/4/1975, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã để lại cho thế hệ mai sau một bộ trường thiên tiểu thuyết 5 quyển phản ánh con người và nước Việt qua một giai đoạn với nhiều thăng trầm của lịch sử nhưng vẫn giữ được hồn dân tộc.

  • Tác giả Bùi Văn Phú dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do từ vùng Vịnh San Francisco, California.

 
Bùi Văn Phú

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.