Hôm nay,  

Doãn Quốc Sỹ, một tâm hồn thấm đẫm tinh thần dân tộc

20/10/202523:15:00(Xem: 960)

 

BuiVanPhu_2025_1020_DoanQuocSy_H01_VanDongNhanQuyen

Các tổ chức nhân quyền lên tiếng cho nhà văn Doãn Quốc Sỹ và những tù nhân lương tâm bị Hà Nội giam giữ (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Sống qua hơn một thế kỷ, nhà giáo, nhà văn Doãn Quốc Sỹ là nhân chứng của một giai đoạn lịch sử nước Việt đầy thăng trầm.

 

Giáo sư, nhà văn Doãn Quốc Sỹ vừa qua đời hôm 14/10/2025 tại Quận Cam, California, hưởng đại thọ 102 tuổi.

 

Khi tôi học lớp 10 và 11 ở trường Nguyễn Bá Tòng thì biết đến giáo sư Doãn Quốc Sỹ qua những tập sách khảo luận của ông về Tản Đà, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát mà tôi cần đọc thêm để làm bài trong giờ Việt văn với các thầy Thái Văn Khôi, Trần Bằng Phong và cũng để ôn bài cho kỳ thi Tú tài I.

 

Những năm sau đó tôi mới đọc Gìn vàng giữ ngọc, xuất bản năm 1960, và Sầu mây năm 1970, cùng vài tác phẩm khác nữa của Doãn Quốc Sỹ, một trí thức Hà Nội di cư vào sống trong Nam từ năm 1954, cùng với Mai Thảo, Nguyễn Đình Toàn và một số văn nghệ sĩ miền Bắc khác.

 

Gìn vàng giữ ngọc gồm 6 truyện ngắn: Khu vườn bên cửa sổ, Căn nhà hoangTiền kiếpCái chết của một ngườiHương nhân loạiChiếc chiếu hoa cạp diềuGìn vàng giữ ngọc. Qua những câu chuyện thời kháng chiến, chuyện tản cư của gia đình tác giả, dù trong hoàn cảnh nào thì tình thương yêu, tính nhân bản của nhân vật cũng được đề cao, dù có đói ăn, thiếu mặc hay đang sống trong hoàn cảnh giặc giã, chiến tranh.

 

Những điều về con người cộng sản trong phong trào Việt Minh, ông ghi lại trong chuyện Gìn vàng giữ ngọc, qua câu nói của một người thân trong gia đình: "Em nên nhớ anh Sơn bỏ ngoài kia vào đây cũng để tránh những thái độ soi mói vào đời tư một cách bất lịch sự, vô chính trị và vô… giáo dục như vậy." Đó là nguyên do khiến tác giả bỏ chiến khu về thành, sau năm năm theo kháng chiến chống Pháp từ 1946 đến 1951.

 

Truyện Khu vườn bên cửa sổ là cuộc tình lãng mạn của một "chàng" bác sĩ quân y với Linh, mà "chàng" sau này lại trở thành người yêu của Huyên. Linh và Huyên đều là sinh viên Đại học Văn khoa Sài Gòn, Linh học ban Anh văn, từng tu nghiệp Mỹ, có người yêu là sinh viên Việt đang học đại học Mỹ danh tiếng Cal Tech. Tính tình Linh cởi mở, hoạt bát tự nhiên, còn Huyên thì khép kín. Câu chuyện ghi lại nhiều biến cố lịch sử từ ngày gia đình các nhân vật ở Hà Nội, Thanh Hóa, Vĩnh Yên hay đã vào Tây Ninh, Sài Gòn.

BuiVanPhu_2025_1020_DoanQuocSy_H02_BiaSach
H02: Tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Từ chuyện tình của Linh, xuất bản lần đầu vào năm 1960, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã ít nhiều giới thiệu nước Mỹ cho độc giả miền Nam, dù khi đó ông chưa đặt chân đến Hoa Kỳ.

Vì sự can thiệp của người Mỹ vào cuộc chiến, nên ông đã đưa văn hóa Mỹ và Việt vào trong nhiều tác phẩm. Dấu chân cát xóa ông viết trước ngày 30/4/1975 nhưng chưa kịp xuất bản, cho đến khi được in ở Hoa Kỳ sau đó. Trong tác phẩm này là câu chuyện của Chương, một sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã giải ngũ, được du học Mỹ với học bổng USAID. Qua Chương, nhiều nét văn hóa Việt-Mỹ đã giao thoa, như những bài dân ca: Đèn cùLý con sáoSe chỉ luồn kim nghe được ở nhà một giáo sư đại học người Mỹ; như phong cảnh, tập tục của người Mỹ trải dài từ West Virginia, New York, Illinois sang California; đến nền móng của Kitô giáo, triết lý của đạo Phật. Trong tác phẩm này còn có chuyện tình giữa chàng trai Việt, cựu Trung úy Biệt động quân tên Lĩnh và cô gái Mỹ tên Horthy, chọn tên Việt là Hoa.

 

Ở đây nhà văn muốn cho độc giả thấy khi nhắc đến Việt Nam thì chiến tranh không phải là trọng điểm mà ở đó còn có một nền văn hóa truyền thống lâu đời với nhiều nét đẹp.

Giáo sư Doãn Quốc Sỹ đã qua Mỹ tu nghiệp sư phạm hai năm, 1966-68, về nước ông viết Sầu mây kể lại những ngày ở Mỹ ông đã giới thiệu văn hóa Việt cho người Mỹ mũi cao, tóc vàng, mắt xanh.

 

Có lẽ vì thế Hà Nội đã xem ông là "biệt kích văn hóa" và đã bắt giam ông hai lần, từ năm 1976 đến 1980 và lần thứ hai từ 1984 đến 1991.

 

Sự việc ông bị bắt lần thứ hai liên qua đến tác phẩm Đi ông gửi ra nước ngoài, xuất bản lần đầu ở Pháp vào thập niên 1980, dưới bút danh Hồ Khanh.

 

Khi vận động trả tự do cho ông và các văn nghệ sĩ bị Hà Nội giam tù, tổ chức nhân quyền Ân xá Quốc tế đã ghi trong bản tường trình về trường hợp giam giữ nhà văn Doãn Quốc Sỹ khi ông bị báo chí nhà nước lên án là "cán bộ chiến tranh tâm lý của Mỹ", "văn chương phản cách mạng", "bóp méo sự thật lịch sử của kháng chiến", là "kẻ lợi dụng thời cơ".

 

Tháng 5/1984, ông bị bắt cùng với các văn nghệ sĩ như Hoàng Hải Thủy, Khuất Duy Trác, Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường mà không bị đem ra xét xử trong nhiều năm.

 

Trước sự vận động của các tổ chức nhân quyền và áp lực của thế giới, tháng 4/1988, Hà Nội mới đem ông ra xử cùng với Hoàng Hải Thủy, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tú, Nguyễn Thị Phước Lý và nhân viên bưu điện Nguyễn Thị Nhàn, bị cáo buộc đồng lõa đã giúp chuyển tác phẩm Đi của ông sang Pháp.

 

Ông bị kết án 10 năm tù, được thả vào tháng 11/1991 và đến Mỹ đoàn tụ cùng gia đình năm 1995.

 

Tác phẩm Đi gồm 19 chương, ông viết ở trong nước, ghi lại sinh hoạt đời sống của gia đình ông, của nhiều người Việt với hai lần di cư vào năm 1954 và cuộc di tản tháng 4/1975 và sau đó là làn sóng vượt biển. Ông viết về những khó khăn trong đời sống dưới chính quyền cộng sản qua chuyện lý lịch, chuyện dạy học và chuyện vượt biển của hàng trăm ngàn người Việt.

Văn chương của ông nhẹ nhàng, dù phác họa lên những đắng cay, đau khổ, ngang trái của đời ông, trong cuộc sống của người Việt, nhưng luôn ẩn chứa niềm tin vào tiền thân lịch sử của dân tộc.

 

Qua nhân vật hay những câu viết trong truyện ngắn Tiền kiếp cho thấy ông không ưa cộng sản vì "gieo bi quan, nghi ngờ trong giới trí thức" nên Tân, một nhân vật biểu tượng của con người ông, đã bỏ kháng chiến năm 1951 để về thành. Ông không thích nếp sống xa hoa của những người thực dân Pháp trên quê hương mình, qua hành động của Tân khi vứt bỏ những đồng năm hào, là biểu tượng của người Pháp đang đô hộ Việt Nam, xuống cống nước đen. Ở những chỗ khác trong tác phẩm, ông đã biểu lộ không ưa chủ thuyết tư bản, thể hiện trong chính sách của Mỹ, hay nếp sống hiện sinh được bàn tán nhiều ở Pháp trong những năm đầu thập niên 1960.

 

Qua tác phẩm, Doãn Quốc Sỹ đã thể hiện ông là một người Việt chân chính, với tinh thần dân tộc, yêu thương đất nước, tôn vinh những cái đẹp, những điều nhân bản trong cuộc sống, giá trị của tự do: "Chỉ những hiện thân của u tối, của thiển cận mới tưởng rằng nắm được quyền hành là nắm được lòng người."

 

Dù có bị chế độ cộng sản giam tù, ông vẫn tin vào con người nhân bản: "Người đâu có nhất thiết tạo thành địa ngục cho nhau, nhất thiết là đao phủ của nhau."

 

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán.

 

Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu.

 

Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.

 

Năm 1956, ông là người đồng sáng lập ra nhóm Sáng Tạo, cùng với Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Sỹ Tế, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh, Ngọc Dũng, tạo ra diễn đàn sinh hoạt văn chương, xuất bản tác phẩm, tạp chí. Có thể nói ông là một trong những văn nghệ sĩ đã khai sinh ra nền văn học Việt Nam Cộng hòa với hàng chục nhà xuất bản đã phát hành cả ngàn tác phẩm văn học đủ thể loại trong 20 năm.

 

Cuộc đời của nhà văn Doãn Quốc Sỹ trải qua 102 năm, hơn một thế kỷ, nên ông đã là chứng nhân của lịch sử.

 

Với 25 tác phẩm để lại cho đời, đáng chú ý nhất là bộ trường thiên tiểu thuyết Khu rừng lau gồm bốn quyển, với gần hai ngàn trang sách: Ba sinh hương lửaNgười đàn bà bên kia vĩ tuyếnTình yêu thánh hóa và Đàm thoại độc thoại, ghi lại những biến động của đất nước qua các cuộc chiến tranh chống Pháp từ đầu thập niên 1930 cho đến chiến tranh Việt Nam khi lên cao điểm vào thập niên 1960, với sự can dự mạnh mẽ của Hoa Kỳ.

 

Sau khi chiến tranh Việt Nam chấm đứt, với tác phẩm Đi viết về đời sống và hoàn cảnh của người Việt sau ngày 30/4/1975, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã để lại cho thế hệ mai sau một bộ trường thiên tiểu thuyết 5 quyển phản ánh con người và nước Việt qua một giai đoạn với nhiều thăng trầm của lịch sử nhưng vẫn giữ được hồn dân tộc.

  • Tác giả Bùi Văn Phú dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do từ vùng Vịnh San Francisco, California.

 
Bùi Văn Phú

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
Vào ngày 6 tháng 12, 2023, nhà thơ, nhà văn, giáo sư văn học và nhà hoạt động xã hội được yêu mến người Palestine Refaat Alareer đã thiệt mạng trong một cuộc không kích từ Israel cùng với người anh, em gái và bốn đứa con của họ. Trong tuần để tang kể từ đó, những lời tri ân dành cho cuộc đời, sự nghiệp viết lách và các hoạt động nghệ thuật tích cực của Alareer đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới. Nhiều lời tri ân được đăng cùng với bài thơ cuối cùng “Nếu tôi phải chết” được ông đăng trên Twitter của mình vào ngày 1 tháng 11 năm 2023. Cho đến nay, bài thơ chia tay như một điềm báo đau lòng của Alareer hiện đã được dịch sang hơn 40 thứ tiếng; được đọc trên các sân khấu thế giới và được viết trên các bức tường sân ga tàu điện; được in trên các biểu ngữ, bảng hiệu, cờ và diều, được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi ngưng bắn trên khắp thế giới.
Nhà xuất bản của Ocean Vương trên Marketplace cũng như Ocean Vương trên Instagram của mình đã thông báo về cuốn tiểu thuyết mới sẽ được xuất bản vào tháng 6 năm 2025, Emperor of Gladness. “Emperor of Gladness” là cuốn tiểu thuyết thứ hai của Ocean Vương, “kể về một năm trong cuộc đời của một thanh niên ương ngạnh ở New England, người tình cờ trở thành người chăm sóc cho một góa phụ 82 tuổi bị mất trí nhớ, tạo nên câu chuyện về tình bạn. sự mất mát và mức độ chúng ta sẵn sàng mạo hiểm để đòi hỏi một trong những ân huệ quý giá nhất của cuộc đời: cơ hội thứ hai.”


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.