Hôm nay,  

Hoa, họa và đàn bà: cái cảm và cái nghĩ

23/11/202310:03:00(Xem: 3116)
Tạp bút

vi phat
Portrait of Nguyễn Hoàng Văn -- Tranh Vi Phát.


Có một dạo tôi thắc mắc mãi về dung mạo của Cúc Tiểu Muội, người đàn bà khiến Nguyễn Tuân, dù chỉ nghe kể qua thôi, cũng phải thốt lên: “Tôi hết sức bị kích thích. Chắc nàng phải đẹp quá. Đẹp hơn cả Mỹ Thuật”. [1]
    Mỹ thuật, nói cho gọn, là nghệ thuật tạo nên cái đẹp. Vậy mà cô Cúc này còn đẹp hơn cả mỹ thuật, mà là Mỹ-Thuật-viết-hoa.
    Nhưng khoan nói là “hơn Mỹ Thuật”, cô ta mà đẹp “như Mỹ Thuật” thôi thì cũng đã là một bài toán khó lắm rồi. Nếu Cúc đẹp “như Mỹ Thuật” của Tô Ngọc Vân, trong “Thiếu nữ bên hoa huệ”, chúng ta có bị kích thích thì cũng là lẽ thường. Nhưng nếu Cúc mà đẹp “như Mỹ Thuật” của Amedeo Modigliani hay Pablo Picasso, làm sao cô ta có thể kích thích Nguyễn Tuân cho nổi?
    Nhưng nhờ suy nghĩ vẩn vơ về chuyện này mà tôi tin rằng tôi có thể tìm ra lời giải cho các họa sĩ khi bị làm khó.
    Người đời, nói theo Picasso, thích nghe tiếng chim hót nhưng không ai lên tiếng đòi chim phải hót sao cho họ hiểu. Họ cũng thích trồng hoa hay cắm hoa nhưng không bắt hoa phải nở cho họ hiểu. Tuy nhiên họ cứ bắt các họa sĩ phải vẽ sao cho mình hiểu[2].
    Tôi không phải là họa sĩ mà cũng bị làm khó. Nhà treo mấy bức tranh – tranh in có, tranh gốc có, của các họa sĩ Vi Phát, Lê Văn Tài, Nguyễn Hưng Trinh v.v. – nên, thỉnh thoảng, tôi lại bị người này người kia thắc mắc với giọng điệu chẳng có gì là thân thiện. Họ, chủ yếu là các ông thợ điện, thợ ống nước, thợ mộc v.v. được gọi đến nhà sữa chữa lặt vặt và thường, khi nhìn thấy những họa phẩm lại ngứa cổ lắc và ngứa mồm mỉa mai, đại loại: “Tranh này ý nói gì vậy?” “Anh có hiểu nó không?” hay “Bảo tôi ngu thì tôi chịu, tôi không hiểu gì cả!” Thường, tôi chỉ cười cho qua chuyện, bảo thích thì treo, được tặng thì treo. Họ chỉ bày tỏ thái độ mà không cần câu trả lời nên dẫu có dẫn ra một ngàn ông Picasso cũng không thể nào thay đổi được.
    Tôi có anh bạn đồng hương, ở Việt Nam học cùng trường, cùng khóa với chị tôi, sang Úc thành công cả trong kinh doanh lẫn học vấn. Vốn là dân kỹ thuật, ở Việt Nam anh học Đại học Bách khoa Sài Gòn khóa thứ hai sau năm 1975, mới xong năm thứ nhất anh vượt biển, đến Úc theo đuổi ngành quản trị-tài chính, học một mạch đến bậc cao học rồi mở công ty chuyên về sản phẩm canh nông, vừa kinh doanh, vừa thai nghén một đề tài tiến sĩ trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp. Học vấn của anh bạn, như thế, là thuộc lại cao nhưng về mặt cảm thụ nghệ thuật thì, như anh thẳng thắn thừa nhận, thuộc loại i tờ, không thoát ra khỏi hệ thẩm mỹ “mai cúc trúc đào”. Biết mình biết người, anh tỏ ra “kính nhi viễn chi” với người có khả năng hơn mình trong chuyện này và có lần nhờ tôi cùng nhạc sĩ Hoàng Ngọc-Tuấn làm cố vấn, chọn tranh và sắp đặt cách treo tranh trong căn nhà hai tầng rộng thênh thang như dinh tỉnh trưởng của mình, với ngân khoản đâu trên dưới hai mươi ngàn đô la.
    Không chịu được nghệ thuật phi hình thể, anh muốn tranh trong nhà mình phải là tranh “có hình ra hình” nhưng phải có tính “nghệ thuật cao”, lại phù hợp với lĩnh vực anh kinh doanh, đặc biệt là hoa trái, những sản phẩm canh nông. Nghe vậy, tôi nói ngay: Tranh tĩnh vật của các họa sĩ Ấn Tượng hay Dã Thú và mở các đường link trên Internet. Anh bị hút hồn ngay lập tức và tấm tắc khen tôi “dịch từ ‘still life’ quá hay” khiến Hoàng Ngọc-Tuấn cười ngất, bảo người ta đã dịch nó lâu rồi, từ khi tôi chưa ra đời lận.
    Anh bạn ấy biết rõ giới hạn của mình. Anh chọn lựa những tác phẩm hợp với tầm hiểu biết của mình và không đòi hỏi các họa sĩ khác phải sáng tác sao cho anh hiểu. Anh còn cố mở rộng tầm mắt của mình khi, sau đó, nhờ tôi giới thiệu một, và chỉ một, cuốn sách hướng dẫn để giúp anh hiểu sâu hơn về nghệ thuật. Bận bịu với những con số thu chi của công ty mà còn đau đáu với luận án tiến sĩ sắp viết, anh không có nhiều thì giờ, muốn đó phải là một cuốn sách ngắn gọn, súc tích, đại loại một thứ Introduction to Art, To Understand Art hay, thậm chí, Art for Dummies… Tôi cố giải thích rằng đọc những sách đó anh bạn có thể thủ đắc một số kiến thức, nhưng là kiến thức chỉ để mang ra “xổ”, để lòe người trong lúc trà dư tửu hậu, tranh hơn tranh thua với đám anh em rể khi về nhà ngoại. Tôi giải thích rằng trước một tác phẩm hội họa thì vấn đề không phải là chúng ta “hiểu” gì mà là chúng ta “nghĩ” gì. Mà cái “nghĩ” này thì hình thành từ cái “cảm”, qua những trải nghiệm cá nhân.
    “Cảm” là phần cảm nhận, thiên về cảm tính. "Nghĩ" là phần suy tưởng, nặng về lý tính. Có người chan hòa giữa hai thứ. Có người nặng về lý tính mà nhẹ về cảm tính. Lại có người thì chỉ thiên về cảm. Thí dụ như Mai Thảo, Võ Phiến từng nhận xét là nhà văn này chỉ có “cảm” mà không có “nghĩ" tả bước chân của một cô gái, Mai Thảo bắt chữ nghĩa bay lượn theo từng gót chân nhưng tất cả chỉ có vậy, chỉ có cái đẹp của chữ nghĩa bay lượn mà không đọng lại ở người đọc một suy tưởng trí tuệ nào.
    Tôi kể với anh tôi đã “cảm” Van Gogh như thế nào từ năm 18 tuổi, chỉ từ bức “Người tù đi dạo”, in trong một cuốn sách tiểu sử. Mười mấy tù nhân sắp hàng thành vòng tròn để nối đuôi nhau “đi dạo” trong một sân tù chật hẹp, còn tôi thì đang sống trong một xã hội chật hẹp, cũng “tự do”, cũng “đi dạo” có khác gì những tù nhân trong tranh? Tôi kể với anh việc Piccasso của thời kỳ xanh đã mê hoặc tôi vào lứa tuổi đó như thế nào với bức “Old guitarist”: Tôi mê tiếng nhạc Tây Ban Cầm sau khi nghe bài “Capricho Árabe” của Francisco Tárrega từ một cuộn băng cũ mèm và hình ảnh người nghệ sĩ rách rưới làm tôi nghĩ đến cây đàn guitar rách nát vá chằng vá đụp, nồng nặc mùi keo dán gỗ của mình. Từ sự "đồng cảm" ấy, tôi đã tìm hiểu sâu hơn về những thiên tài hội hoạ như thế để rồi “cảm” ban đầu được phần trí tuệ thu thập nâng cánh, nuôi dưỡng thành cái “nghĩ” khi đứng trước tác phẩm.
    Tôi nhớ một kỷ niệm khác với họa sĩ Vi Phát, hơn mười năm trước. Đọc xong tiểu luận “Đụ, như là lịch sử” tôi viết trên Tiền Vệ, Vi Phát cao hứng vẽ bức thư pháp khổ lớn mang đến tặng, mặt sau ghi “Portrait of Nguyễn Hoàng Văn”! [3]
    Trời đất, tôi hoàn toàn không ngờ là có ngày sẽ có người vẽ chân dung tôi bằng chỉ hai chữ “đ”, “u” rồi thêm vào dấu nặng. Tranh treo giữa nhà, một bữa tụ họp anh em bạn bè, nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc cùng nhạc sĩ Hoàng Ngọc-Tuấn đứng ngắm, và Hoàng Ngọc-Tuấn thốt lên: “Chữ đụ này khai triển từ chữ ‘tâm’”.
    Chữ “tâm’, trong Hán tự, là chữ tượng hình, mô phỏng hình trái tim và chỉ Hoàng Ngọc- Tuấn mới nhìn ra điều này.
    Vi Phát tốt nghiệp mỹ thuật tại Việt Nam và cả Úc, Vi Phát viết và nói thông thạo tiếng Hoa, và anh có nghĩ đến điều này khi vẽ “chân dung” của tôi bằng hai chữ và một dấu chấm? Tôi không bất lịch sự đến độ sỗ sàng hỏi thẳng, chỉ kể lại nhận xét của Hoàng Ngọc-Tuấn và nhận thấy đôi mắt anh rực lên, cái lóe sáng của một nhà sáng tạo khi tác phẩm của mình được khám phá trong một ý nghĩa mới hay cảm nhận đồng điệu.
    Trở lại với những kẻ hay nói kháy, làm khó các họa sĩ. Có lẽ vấn đề nằm ở chỗ cái “cảm” và cái “nghĩ” của đa số người Việt chúng ta đã bị đổ khuôn từ lối giáo dục thẩm mỹ qua cách dạy văn, học văn, rồi thi văn, qua những đề thi kiểu “Nhà thơ X/ Nhà văn Y đã viết ‘a, b, c, d, e, f…” anh chị hãy cho biết cảm nghĩ của mình” mà, những bài thi “đạt yêu cầu” nhất, lại là những bài sáo nhất, mòn vẹt nhất, theo mấy bài văn mẫu. Chính cái lối giáo dục này đã khiến đa số chúng ta không thực sự cảm, không thực sự nghĩ, chỉ "cảm nghĩ" rập khuôn và, do đó, luôn bắt các tác phẩm nghệ thuật phải có cái gì đó nằm trong tầm hiểu biết hạn hẹp của mình.
Và người đẹp Cúc Tiểu Muội của Nguyễn Tuân. Suy nghĩ mãi về dung mạo của cô nàng “đẹp hơn Mỹ Thuật” này, tôi nghĩ là tôi đã tìm ra cách đối đáp cho các họa sĩ. Vì chưng toàn bộ những kẻ nói kháy tôi đều là đàn ông nên lời đáp của tôi cũng hướng về nam giới.
    Mỗi lần bị ông nào chất vấn là sao vẽ tranh khó hiểu, tại sao các họa sĩ không vặc lại: “Anh có thích đàn bà không?” Dĩ nhiên là trừ những anh chàng đồng tính ra, có anh đàn ông nào mà không thích đàn bà, và họ có thể vặc tiếp: “Thế anh có hiểu đàn bà hay không?”
    Đàn bà là một giống sinh vật cực kỳ khó hiểu, khó hiểu đến độ nhà tâm lý học Louann Brizendine của Đại học California, đã phải viết nguyên cuốn Female Brain để giải thích tại sao họ lại khó hiểu. Vấn đề là, vì một lý do nào đó, người đàn ông đã “cảm” người đàn bà, rồi từ đó họ “nghĩ” là người đàn bà đó được Tạo Hóa ban cho mình, cho dù không hề hiểu hết.
    Quả là bất công cho các họa sĩ. Không hoàn toàn hiểu đàn bà nhưng người đời sẵn sàng hào phóng với đàn bà, dâng hiến và bỏ cả cuộc đời mình để cảm, để hiểu, và để sống cùng. Trong khi đó thì họ khăng khăng làm khó các họa sĩ mà không chịu bỏ ra, chỉ một vài sát na với ý nghĩ thoáng qua rằng, để cảm cái gì đó thì phải vứt bỏ định kiến, phải xích lại thật gần và, để hiểu, thì phải học.
 
-- Nguyễn Hoàng Văn
 
Tìm đọc:
ĐÀN BÀ ĐẸP VÀ CHÍNH QUYỀN
Tác phẩm mới của Nguyễn Hoàng Văn, Lotus Media xuất bản 2023
 
“Nguyễn Hoàng Văn là một ngòi bút thông minh. Hơn nữa, thông minh một cách tinh quái.
Thông minh là một phẩm chất của trí tuệ. Thông minh một cách tinh quái là một phong cách văn học. Phong cách ấy bàng bạc trong hầu hết các bài tiểu luận và tuỳ bút của Nguyễn Hoàng Văn.” --Nguyễn Hưng Quốc.
 
“Anh tiếp tục cái truyền thống cái truyền thống các danh sĩ Quảng Nam: Suy tưởng và biện luận thật tinh tường, lời lẽ thật sắc sảo.. Anh lý luận thì cặn kẽ, phát biểu thẳng thừng, sát phạt. Mà khi thưởng thức sáng tác thì khoan hòa, rộng rãi, đậm đà tình nghĩa…” --Võ Phiến.
 
 

[1] Tùy bút “Ấn Tín của người con gái Tỉnh Việt”, trong Một chuyến đi.

 

[2] “Everyone wants to understand art. Why don’t we try to understand the song of a bird? Why do we love the night, the flowers, everything around us, without trying to understand them? But in the case of a painting, people think they have to understand.”

[3] http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do...

In trong cuốn Ngôn ngữ và Quyền lực, Người Việt California, 2014

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.