Hôm nay,  

Người Việt Di Dân Sau 48 Năm (1975-2023) – Phần III (Kết)

02/10/202312:02:00(Xem: 2153)
little saigon business
Little Saigon, Westminster, CA.



Người Việt di cư thích nghi nhanh chóng với văn hóa Mỹ

 

Người nhập cư Việt Nam đã thích nghi nhanh chóng với văn hóa Mỹ. Dưới đây là một số yếu tố quan trọng nhất đã góp phần vào thành công của họ:
 
a) Tính cần cù (“đạo đức lao động” mạnh mẽ/ strong work ethic):
    Người nhập cư Việt Nam được biết đến với “đạo đức làm việc” mạnh mẽ của họ. Họ sẵn sàng bỏ ra nhiều giờ và hy sinh để đạt được mục tiêu của mình. Tính cần cù này đã giúp họ thành công trong nhiều lĩnh vực, bao gồm kinh doanh, giáo dục và các ngành nghề khác.
 
b) Ý thức cộng đồng mạnh mẽ:
    Người nhập cư Việt Nam có xu hướng sống rất gần gũi với nhau. Họ hình thành mối liên kết chặt chẽ với gia đình, bạn bè và hàng xóm. Ý thức cộng đồng này đã giúp họ vượt qua những thách thức của việc nhập cư và xây dựng cuộc sống mới cho chính họ ở Mỹ.
 
c) Hiếu học:
    Người nhập cư Việt Nam trẻ tuổi thích nghi nhanh với môi trường mới nhờ họ cố gắng học hỏi và họ được sự hỗ trợ tích cực cũng như khuyến khích (hay có khi gia đình bắt buộc) từ thế hệ phụ huynh. Nói chung, chúng ta có truyền thống coi trọng học vấn, khoa bảng như trong thứ tự xã hội “sĩ, nông, công, thương “ hay “chẳng tham ruộng cả ao liền, chỉ ham cái bút cái nghiên anh đồ”.
 
d) Ý thức mạnh mẽ về bản sắc:
    Người nhập cư nhất là lứa tuổi phụ huynh Việt Nam tự hào về di sản và văn hóa của họ, muốn giữ gìn bản sắc và truyền lại cho con cháu. Ý thức mạnh mẽ về bản sắc này đã giúp họ duy trì truyền thống văn hóa của mình đồng thời thích nghi với văn hóa Mỹ.
    Chúng ta để ý là VNI để gõ tiếng Việt trên máy tính do Hồ Thanh Việt, một người Việt ở Westmisnster phát triển và trong Unicode Consortium, phần dùng để viết tiếng Việt là do một nhóm người Việt hải ngoại đề xướng (9). Các trang mạng, blog, YouTube nhan nhản của người Việt hải ngoại. Các sách báo cũ của VNCH đều được in lại lúc ban đầu, nay được số hóa trên mạng (ví dụ Nam Phong Tạp Chí, Tự lực Văn đoàn, báo Bách Khoa).
 
e) Ngoài những yếu tố này, người nhập cư Việt Nam cũng được hưởng lợi từ sự hỗ trợ của một số tổ chức, bao gồm nhà thờ, trường học và các nhóm cộng đồng. Các tổ chức này đã giúp những người nhập cư Việt Nam tìm được việc làm, học tiếng Anh và thích nghi với cuộc sống ở Mỹ.
 
f) Vai trò phụ nữ:
    Có những khác biệt giữa tình trạng phụ nữ tại Mỹ và Á Châu, và chỉ trong nội bộ Á Châu, cũng lại có những khác biệt rất lớn giữa các vùng hay các nước. Một ví dụ rõ ràng nhất là các hoạt động ngoài xã hội và cơ hội giáo dục rất giới hạn của phụ nữ Afganistan hiện nay và phụ nữ ở Indonesia trong lúc hai nước đều đa số Hồi giáo. Về phương diện lịch sử, trong xã hội vùng Đông Nam Á người phụ nữ có vai trò lớn hơn là ở Trung Quốc hay Đông Á như Nhật và Korea. Một lý do được đưa ra là chế độ mẫu hệ từng hiện diện trong lịch sử Đông Nam Á, thay vì vai trò độc tôn của chế độ phụ hệ ( Khổng giáo). Bà Trưng, Bà Triệu, Đô Đốc Tây Sơn Bùi Thị Xuân là những nhân vật tiêu biểu cho vai trò đáng kể người phụ nữ trong lịch sử Việt Nam. Về tình hình Việt Nam hiện nay, một bài phân tích của Quỹ tiền tệ Quốc Tế cho thấy tỷ số phụ nữ Việt Nam đi làm thuộc loại cao nhất thế giới. Chiến tranh Việt Nam đã dẫn đến sự sụt giảm mạnh về dân số nam so với dân số nữ, đặc biệt ở nhóm tuổi trưởng thành. Khi nền kinh tế bắt đầu phát triển sau khi bắt đầu công cuộc Đổi Mới vào năm 1986, nguồn cung lao động sẵn có chủ yếu là nữ, và không có gì ngạc nhiên khi số lượng phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động ngày càng nhiều. Cải cách Đổi Mới mang lại tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, mở cửa nền kinh tế cho thương mại và dẫn đến đô thị hóa nhanh chóng. Trong khi vẫn còn một tỷ lệ lớn lực lượng lao động nữ tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp, thì lao động nữ làm công ăn lương ngày càng tham gia nhiều hơn vào các lĩnh vực dịch vụ lớn và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
    Riêng đối với phụ nữ Việt hải ngoại, ngoài truyền thống lịch sử nói trên của phụ nữ Đông Nam Á, họ từng thay thế hay phụ chồng phải đi lính giữ trách nhiệm nuôi sống gia đình, dạy dỗ con cái trong thời chiến tranh, nuôi chồng đi cải tạo, tổ chức vượt biên, lén lút buôn bán chợ trời trong nên kinh tế “bao cấp”, ngăn sông cấm chợ, cho nên họ rất linh động, thích ứng nhanh với hoàn cảnh và có khả năng sống còn cao. Một ví dụ điển hình là Bà Khúc Minh Thơ, người sáng lập Hội Tù Nhân Chính Trị và đã vận động từ ngành ngoại giao cũng như lập pháp Mỹ để đưa tới chương trình H.O. đem các người cựu tù cải tạo và gia đình họ qua Mỹ. Một ví dụ khác là kỹ nghệ làm móng ở Mỹ hiện nay đáng giá hàng tỷ đô la, phần chính là do các bà Việt nam gầy dựng nên từ những ngày mới đến Mỹ được một nữ diễn viên điện ảnh Mỹ giúp đỡ,
 
g) Nhờ những yếu tố này, người nhập cư Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho xã hội Hoa Kỳ, tiếp tục ghi dấu ấn trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
    Những người Việt tỵ nạn qua Mỹ sớm (1975) và những người đến Mỹ sau có thể có những cuộc sống và cái nhìn khác nhau. Minh Tường, một bác sĩ rời Việt Nam khoảng 1980, trong bài “Một thủa Sàigòn” (viết năm 1988) được đăng trên bản tin Mùa Hè 2022 của Hội Y Tế Hoa Kỳ Florida, đã viết về cảm giác của mình lúc viếng Little Saigon ở California như sau:
    “... Những người bạn, nhờ qua sớm, nên bây giờ thành công và là những công dân Mỹ mới, vênh váo, hợm hĩnh, dương dương tự đắc, quên hẳn (hay muốn quên?) bạn bè cũ “quê mùa”, nhiều chất Việt Nam quá. Số nhỏ này làm tôi buồn, một nỗi buồn man mác, không thể nói hết được. Tôi biết những người bạn cao ngạo của tôi bây giờ, đã ra đi vào những ngày cuối tháng tư 75. Họ hoàn toàn không hiểu, không nếm mùi những gì đã xảy ra từ sau tháng tư năm đó ở quê nhà. ”
     Sự khác biệt giữa những người đến Mỹ qua những đợt cách nhau mấy chục năm lại càng lớn hơn nữa. Những người trẻ ở Mỹ qua ngã hôn nhân hay du học không từng sống qua trải nghiệm của người tỵ nạn hay thuyền nhân trước đây và có thể không hiểu những gian khổ của lúc ban đầu xây dựng của diaspora trước khi có chỗ đứng trong cộng đồng các dân tộc Hiệp chủng quốc như hiện nay.
 
7) Hôn nhân dị chủng:
    Trong các gia đình mà chủ hộ là người Việt nhập cư ở Mỹ, 91.6% vợ hay chồng là người Việt, 4% là người châu Á (inter-Asian), 4% là người da trắng. Tỷ lệ này cao nhất trong các nhóm Á Châu, cao hơn người Hoa một chút (90%) nhưng cao hơn người Nhật nhiều (66% có vợ hoặc chồng Nhật, nhưng 18.7% chồng hoặc vợ da trắng).
    Đàn ông Việt nói chung (nhập cư hoặc sinh tại Mỹ) đa số lấy vợ người Việt (92.6%), bằng người Ấn (92.5%), người Hàn quốc (90.4%), và người Phi (85.1%) một chút, cao hơn người Nhật (62.8%) nhiều.
    Nhưng phụ nữ có chồng Việt (84.6%) ít hơn là đàn ông có vợ Việt. Tuy nhiên phụ nữ Việt có chồng cùng gốc gác (Việt) nhiều hơn phụ nhữ gốc Á châu khác, nhất là Nhật (44.4%), chỉ thua Ấn Độ (92.9).
    Nhưng nếu chỉ xét đến những cặp vợ chồng mà cả hai người đều được sinh ra (US born) hay lớn lên ở Mỹ (US raised) thì có nhiều khác biệt. 59% đàn ông lấy vợ Việt, và chỉ 40.9% các cô Việt có chồng cùng xứ gốc (ít hơn phụ nữ Nhật, Trung Hoa, Ấ́n Độ, chỉ nhiều hơn phụ nữ Phi 29% và Hàn Quốc 24%).
    Đa số các cô “US Born+US Raised” lấy chồng “ngoại quốc”, phần lớn là người da trắng (41.3%) hay người Á Châu khác (12.2%). Như vậy, cô dâu Việt sinh ra hay lớn lên tại Mỹ lấy chồng Mỹ trắng nhiều hơn là lấy thanh niên gôc Việt.
    Cô dâu sanh tại Mỹ lấy chồng Việt chỉ trong 38% trường hợp, 35% lấy chồng da trắng.
     Chỉ 51% chú rể sanh tại Mỹ có vợ gốc Việt, nếu cả hai đều sanh tại Mỹ, chúng ta không biết số đối với người về Việt Nam lấy vợ như thế nào.
    Trong lãnh vực hôn nhân dị chủng, tình hình đang thay đổi nhanh, càng ngày càng có nhiều cô dâu Việt kết hôn với người khác chủng tộc hay khác dân tộc. Đối với Mỹ, từ thế hệ 1 (nhập cư), qua thế hệ 1.5 (sinh tại VN, lớn lên tại Mỹ), qua thế hệ 2 (sinh tại Mỹ), tỷ lệ lấy người cùng gốc Việt càng ngày càng thấp. Kết quả của những nghiên cứu thống kê thực hiện cách đây mười năm cho thấy đối với những người sinh tại Mỹ, đàn ông chỉ lấy vợ gốc Việt trong quá nửa trường hợp, các phụ nữ (thế hệ 2) chỉ lấy chồng gốc Việt trong hơn một phần ba các trường hợp. Có lẽ khuynh hướng này sẽ càng ngày càng gia tăng. Mẫu số chung cho giới trẻ sẽ là tiếng Anh, văn hóa Mỹ nói chung và giáo dục Mỹ; những yếu tố này sẽ lấn ép yếu tố nguồn gốc chủng tôc, văn hóa, truyền thống gia đình hay sự ưa thích của cha mẹ muốn có người dâu rễ cùng nguồn gốc dễ đối thoại, thông cảm hơn. Có lẽ thế hệ đi trước cần tìm hiểu học hỏi thêm về quê hương mới để có thể đối thoại và vui sống với các thế hệ sau. (10)
 
Kết luận
 
Người Việt di cư quy mô lớn từ Việt Nam sang Hoa Kỳ và các nước khác sau Chiến tranh Việt Nam chấm dứt, khi Sài Gòn thất thủ ngày 30 tháng 4 năm 1975, bắt đầu bằng cuộc di tản do Hoa Kỳ bảo trợ cho khoảng 125.000 người tị nạn Việt Nam. Khi cuộc khủng hoảng nhân đạo và sự di dời của người dân ở khu vực Đông Dương (Việt Nam, Campuchia và Lào) ngày càng gia tăng, ngày càng có nhiều người tị nạn và gia đình họ được nhận vào một số nước phát triển phương tây, phần chính là Hoa Kỳ.
    Riêng về Hoa Kỳ, dân số nhập cư Việt Nam đã tăng đáng kể kể từ đó, tăng gần gấp đôi mỗi thập kỷ từ năm 1980 đến năm 2000, và sau đó tăng 26% vào những năm 2000. Năm 2017, hơn 1,3 triệu người Việt cư trú tại Hoa Kỳ, chiếm 3% trong tổng số 44,5 triệu người nhập cư của cả nước và là nhóm người sinh ra ở nước ngoài lớn thứ sáu ở Mỹ. Khác với trước đây khi hầu hết người Việt Nam được nhận là người tị nạn, những người Việt thường trú hợp pháp tại Hoa Kỳ ngày nay (có thẻ xanh/green card) phần lớn thông qua việc đoàn tụ gia đình; rất ít người được thẻ xanh thông qua công việc làm hoặc các kênh khác. Người nhập cư Việt Nam nói chung bị giới hạn về tiếng Anh hơn (LEP hay Limited English Proficient) so với tổng dân số sinh ra ở nước ngoài tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, người Việt có quốc tịch Mỹ ở tỷ lệ cao hơn nhiều và họ ít khi bị xếp vào thành phần nghèo khó hoặc ít khi thiếu bảo hiểm y tế so với tổng dân số nhập cư khác.(11) Sự hiện diện của trên 20 ngàn sinh viên từ Việt Nam đi du học ở Mỹ với đa số có ý định ở lại sau khi học xong là một hiện tượng tương đối mới đáng chú ý.
    Trên bình diện toàn cầu, với số người Việt di dân ra khỏi nước chừng 100 ngàn người mỗi năm, và số lượng các phụ nữ lấy chồng ở ngoại quốc càng ngày càng tăng tạo nên một thế hệ mới trẻ em gốc Việt ở Hàn Quốc, Đài Loan, Mỹ, Úc…cộng đồng người Việt hay gốc Việt hứa hẹn sẽ có những phát triển và thay đổi ngoạn mục.
    Một điểm quan trọng cần nhắc tới khi nói đến cộng đồng hải ngoại là số tiền hiện nay họ gởi về Việt Nam mỗi năm, lên đến 18 tỷ dollars Mỹ năm 2022 (12), và một nửa gởi từ Mỹ. So sánh số lượng này với những gói quà gồm thuốc men, thuốc lá, áo quần gởi lẻ tẻ về nước trong những năm sau 1975, hay tổng sản lượng của VN hiện nay chừng 366 tỷ dollars (chừng 1/20 của GDP). Một so sánh khác là số tiền này gấp đôi số tiền Mỹ chi 9,3 tỷ đô la mỗi năm cho chiến tranh Việt Nam. Hiện nay Israel là nước nhận được nhiều viện trợ nhất của Mỹ, 3,8 tỷ USD cho quân sự và 80 triệu cho kinh tế. Nếu xét theo chiều hướng này, người Việt hải ngoại là nguồn viện trợ lớn nhất của Việt Nam hiện nay.
 

– Bác sĩ Hồ Văn Hiền


Tham khảo:
 

(6) https://www.ocregister.com/2015/05/01/how-they-became-us-orange-county-changed-forever-in-the-40-years-since-the-fall-of-saigon/

 

(7) https://vietbao.com/p301418a312775/song-va-viet-o-hai-ngoai-hoi-ky-cua-nguyen-hung-quoc

 

(8) https://www.voatiengviet.com/a/7071676.html)

 

(9) https://saigoneer.com/saigon-technology/14055-typing-vietnamese,-part-2-the-vietnamese-diaspora,-unicode-and-the-ubiquity-of-unikey

 

(10) https://langhue.org/index.php/van-hoc/but-ky,-but-luan,-dich-thuat/21551-tl-hon-nhan-di-chung-ho-van-hien.html

 

(11) https://www.migrationpolicy.org/article/vietnamese-immigrants-united-states-5

 

(12) https://tuoitre.vn/kieu-hoi-ve-viet-nam-dau-tu-kinh-doanh-ngay-cang-nhieu-2023052218354347.htm

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vinh quang xương máu lại được hâm nóng thêm một lần nữa, với lễ kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên và, lần này, như để thoát khỏi lối mòn, không khí chiến tranh đã… mùi hơn với hôn lễ ở căn hầm khét mùi thuốc súng của Christian de Castries, lấy xe tăng thay thế xe hoa. Đó là đám cưới của Đại đoàn phó Cao Văn Khánh -- tức sư đoàn phó, về sau là Trung tướng Phó Tổng tham mưu trưởng -- với nữ y tá –sinh viên Nguyễn Thị Ngọc Toản, về sau là Giáo sư – Bác sĩ tại Quân y viện 108. “Nhứt đốn tre, nhì ve gái”, những ai từng khổ sở với khoản thứ nhì này đều ao ước rằng mình có cơ hội như ông Khánh bởi, để lấy được người con gái mình yêu, ông không hề… lao động một mình mà có sự đồng hành của hầu như cả hệ thống chính trị, đủ cả ban ngành quân dân cán chính.
Trong khi các tín ngưỡng về nghiệp và tái sinh là phổ biến vào thời của Đức Phật, nó cũng là một phần của Bà la môn giáo và Kỳ na giáo, nhưng không phổ quát: Triết lý Thiên định (Ājīvikas) tin là tái sinh được thúc đẩy bởi một động lực của định mệnh phi cá nhân, và đúng hơn là thuộc về nghiệp cá nhân...
Đất nước là nhu cầu sống thực của con người. Đất dụng canh, nước sinh cư tạo lương thực nuôi con người trong hệ hoàn vũ. Theo công kỹ nghệ gia tổng kết thì ngành nông nghiệp trên thế giới ngày nay đang tiêu thụ với tỷ lệ 65% số lượng nước, công nghiệp chi dụng 25%, và gia cư hao tốn 10%, cùng với số lượng nước hao cạn hàng giờ trong mỗi ngày trên toàn cầu, khi nhiệt độ và thời tiết tăng trưởng...
Theo thói quen đa số người Việt gốc miền Nam Việt Nam đều chỉ trích Hoa Kỳ, đặc biệt là Đảng Dân Chủ, đã bỏ rơi VNCH. Tin tưởng này được tăng cường bởi những lập luận thiếu căn bản dựa trên những tài liệu thiếu cập nhật của những cố vấn cũ của ông Nguyễn Văn Thiệu. Ít người có can đảm và tính chất vô tư để nhìn vào sự thật...
“Trung Cộng muốn đưa quân tràn qua biên giới Việt Nam để đánh lạc hướng và cầm chân quân đội Bắc Việt, ngăn chận cuộc tổng tấn công Miền Nam đang tiến hành,” Phụ Tá Tổng Trưởng Quốc Phòng VNCH, ông Bửu Viên nói với chúng tôi ngay sau cuộc rút quân khỏi Pleiku (15/2/1975). Ít lâu sau, lại được nghe Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc cho biết sau một cuộc Họp Nội Các, rằng: “TC có liên lạc và đề nghị một kế hoạch để tiếp cứu VNCH, nhưng TT Thiệu đã từ chối.” Vào thời điểm ấy thì chúng tôi cho rằng câu chuyện TC muốn can thiệp để ngăn chận cuộc tấn công của BV là hoang tưởng, viển vông nên không để ý, và sau này cũng quên không hỏi thẳng TT Thiệu.
Vào thế kỷ 18, Đảng Dân Chủ Cộng Hòa (Democratic Republican Party) được gọi tắt là Cộng Hòa (Republican) hoạt động ở Hoa Kỳ do Thomas Jefferson và James Madison thành lập, nhằm chống lại chủ trương và chính sách của Đảng Liên Bang (Federalist Party) lãnh đạo bởi Luật Sư Alexander Hamilton hoạt động mạnh về kinh tế, xã hội, ngoại giao...
Các di tích bằng đá gọi là megalith rải rác khắp nơi trên thế giới, tiếng Việt gọi là “cự thạch” (“cự” có nghĩa là lớn như trong cự phách, cự đại, cự phú, dịch prefix mega; thạch là đá)...
LTS. Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, nguyên Tổng Trưởng Kế Hoạch VNCH, là người được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ủy thác nhiều công việc trong những ngày tháng cuối, trước khi Sàigòn sụp đổ . Tại Hoa Kỳ, sau 1975, ông là tác giả nhiều cuốn sách được phổ biến rộng rãi như "Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập", "Khi Đồng Minh Tháo Chạy", "Khi Đồng Minh Nhảy Vào", và sắp xuất bản cuốn BỨC TỬ VNCH - KISSINGER VÀ 8 THỦ ĐOẠN NHAM HIỂM. Bước vào tháng Tư, mời đọc bài bài viết đã đăng trên báo xuân Việt Báo Ất Dậu (2005), vừa được tác giả gửi lại bản có hiệu đính.
Mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ riêng và chưa có bảng thống kê về ngôn ngữ, kể từ khi có mặt loài người sống trên hành tinh trái đất này. Có hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn ngôn ngữ khác biệt nhau, và chưa có ai qủa quyết con số chính xác về ngôn ngữ từng được sử dụng trong lịch sử phát triển của xã hội con người...
Cho dù Hoa Kỳ trong thế yếu không còn thúc đẩy Trung Quốc dân chủ hóa nhưng bù lại cả hai chính quyền Bush (con) và Obama đều bang giao với Trung Quốc như một đối tác trách nhiệm (responsible party). Thực tế trái ngược vì tham vọng địa chính trị của Bắc Kinh tăng theo đà phát triển kinh tế nên Trung Quốc không còn muốn nép mình trong trật tự thế giới tự do (liberal world order) do Mỹ lãnh đạo...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.