Peter Thiel, Giám đốc Văn phòng Khoa học và Công nghệ Nhà Trắng, được Trump giao nhiệm vụ cải tổ “mở đường tới những chân trời khoa học mới”, thật ra là thiết lập cơ sở để nhà nước nhúng tay can thiệp sâu hơn vào khối đại học, xã hội gia tăng ngờ vực đối với giới khoa bảng, và tư bản tư nhân nhanh chân chiếm lĩnh địa hạt vốn do cơ quan công chi phối xưa nay.
Ở Hoa Kỳ, khoa học xưa nay hiếm khi giành hàng tít lớn trên báo, cho dù ngân sách nghiên cứu suốt nhiều thập niên vẫn vững vàng qua mọi triều tổng thống như một thứ “quốc ước bất thành văn” về tri thức thuần túy. Năm 2025, khúc quân hành êm ả đó bỗng khựng lại: chính quyền Donald Trump, trở lại Nhà Trắng với nghị trình cải tổ khoa học và kỹ nghệ theo hướng ý thức hệ, đã kéo chính sách khoa học từ trang trong ra thẳng trang nhất.
Trong lịch sử Mỹ, nghi kỵ giữa chính giới và đại học không phải điều mới, nhưng nhiệm kỳ Trump II đã đẩy sự bất tín ấy lên một nấc chưa từng ghi nhận: cắt giảm ngân sách quy mô lớn, gom chặt quyền phân bổ tài trợ về trung tâm, và thu hẹp biên độ tự do khảo cứu. Nhà nghiên cứu chính sách Kenneth M. Evans gọi đây là “một tiền lệ mới cho mối quan hệ nứt gãy giữa Nhà Trắng và cộng đồng khoa học.”
Từ “Khoa học vàng” đến kế hoạch Genesis
Ở trung tâm vòng xoáy ấy là Michael Kratsios, cựu phụ tá thân cận của tỉ phú Peter Thiel, nay giữ ghế Giám đốc Văn phòng Khoa học và Công nghệ Nhà Trắng – vị trí được nâng tầm như chiếc bản lề trong kiến trúc chính sách khoa học mới. Được ông Trump giao nhiệm vụ “mở đường tới những chân trời khoa học mới”, Kratsios nắm trong tay chiếc cần gạt chính yếu của mô hình khoa học Mỹ đương đại.
Trong chưa đầy một năm, ông ta đẩy được bốn mũi cải tổ lớn, về sau thường được giới nghiên cứu nhắc tới như “tứ trụ” của khoa học thời Trump II.
Sắc lệnh “Gold Standard Science” tuyên bố khôi phục “liêm chính khoa học”, song đồng thời đưa thêm một tầng giám sát chính trị vào hoạt động nội bộ các cơ quan chuyên môn liên bang.
Một sắc lệnh khác gom quyền phân bổ ngân sách nghiên cứu liên bang về Nhà Trắng, buộc mọi dự án phải chứng minh “phù hợp ưu tiên tổng thống” trước khi được duyệt giải ngân.
“AI Action Plan” mở rộng không gian vận động của khu vực tư trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, dùng nới lỏng quy chế như một thứ chất dầu bôi trơn cho doanh nghiệp công nghệ.
Sau cùng, “Project Genesis” – được ví với Dự án Manhattan và chương trình Apollo – huy động kho dữ liệu công và hạ tầng siêu máy tính của hệ thống phòng thí nghiệm quốc gia để đẩy AI vào khoa học cơ bản.
Bốn trụ cột ấy phác ra một đường gấp trong “khế ước khoa học” Hoa Kỳ: nhà nước can thiệp sâu hơn, xã hội gia tăng ngờ vực đối với đại học, và tư bản tư nhân nhanh chân chiếm lĩnh địa hạt vốn do cơ quan công chi phối.
Một khế ước khoa học rạn nứt
Từ sau Thế chiến thứ hai, mô hình khoa học Mỹ dựa trên một thỏa ước ngầm: nhà nước đóng vai “mạnh thường quân vô hình”, còn đại học giữ vị trí trung tâm trong chuỗi sáng tạo và cố vấn. Nay, dưới thời Trump II, mô hình ấy bị thử sức quá mức qua những đòn cắt trợ cấp và tái thiết cơ chế tài trợ mà giới sử học chính sách hẳn sẽ còn nhắc lại như một bước ngoặt.
Cuộc đối đầu ngân sách giữa hành pháp và Hạ viện khiến chính phủ phải đóng cửa tới 43 ngày, làm tê liệt quy trình phân bổ kinh phí nghiên cứu, buộc các viện đại học xoay xở bằng các khoản tạm cấp và kiện tụng hành chính để kéo dài hoạt động. Các cơ quan như Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) và Viện Y tế Quốc gia (NIH) chuyển sang một cơ chế chi khác thường: ít hợp đồng nhỏ lẻ hơn, nhưng dồn vốn ứng trước cho các chương trình “trọng điểm chiến lược”, đổi hẳn nhịp điền dã truyền thống của khoa học Mỹ.
Giới trẻ trong lằn đạn
Lớp chịu đạn đầu tiên không phải các viện sĩ đã có tên tuổi, mà chính là sinh viên cao học và giới nghiên cứu trẻ – những người phụ thuộc nhiều nhất vào trợ cấp công và học bổng di trú. Các suất tiến sĩ bị siết lại, chương trình dành cho sinh viên ngoại quốc co rút, trong khi chính sách di trú và các sắc lệnh nhắm vào chương trình “đa dạng, công bằng và hòa nhập” đặt thêm nhiều lớp rào kỹ thuật lẫn tâm lý.
Số sinh viên quốc tế nhập học tại Mỹ mùa thu vừa rồi giảm khoảng 17%, báo hiệu một làn sóng “tái định hướng” điểm đến học thuật mà các đại học Mỹ vốn lâu nay ít phải bận tâm. Không chỉ khối đại học nghiên cứu chịu tác động: hệ thống giáo dục công, từ cao đẳng cộng đồng đến các trường công lập, cũng chứng kiến học bổng teo tóp, dự án đổi mới giảng dạy bị hoãn, khiến tương lai đội ngũ nhân lực tri thức Hoa Kỳ không còn hiển nhiên như trước.
Căn bệnh “hiệu quả chính phủ”
Trong bức tranh ấy, sự ra đời rồi tan rã chóng vánh của một cơ quan mang tên Department of Government Efficiency (DOGE) như một nét biếm họa chính trị, phản chiếu ám ảnh “hiệu quả” theo nghĩa thuần số học. Theo thiết kế ban đầu, DOGE được lập ra để “chống lãng phí”, nhưng thực tế vận hành bằng cách sàng lọc hồ sơ nghiên cứu qua những bộ từ khóa ý thức hệ, nhắm vào cái bị gán nhãn “khoa học thức tỉnh” trước khi xét đến giá trị học thuật.
Dù sớm bị giải thể, di sản của DOGE còn lưu lại trong những đợt tinh giản biên chế và tái cấu trúc nội bộ các cơ quan khoa học liên bang: tính đến cuối năm, trên 200 000 công chức liên bang đã rời bộ máy, riêng NASA mất khoảng 5 000 người, NIH giảm chừng 14 000, để lại những khoảng trống chuyên môn khó lấp trong ngắn hạn. Với nhiều nhà sử học khoa học, đó là một “cú sốc cung tri thức” đúng nghĩa.
Khoa học, chính trị và niềm tin
Từ bản điều trần lịch sử Science, The Endless Frontier do Vannevar Bush trình lên tổng thống Truman năm 1945, giới khoa học Mỹ hằng mong khoa học được đặt trong vai cố vấn dài hạn, chứ không chỉ là công cụ thời vụ cho chính sách. Tám mươi năm sau, bài toán vẫn không đổi: khoa học chỉ được lắng nghe khi trùng khớp với ưu tiên chính trị, và sẽ bị gạt sang bên khi trở nên bất tiện cho quyền lực đương thời.
Theo Kenneth M. Evans, câu hỏi trọng tâm trong ba năm tới không chỉ là ngân khoản liên bang có sống sót ra sao qua các vòng thương lượng ngân sách, mà là liệu đại học Mỹ có đủ sức khôi phục niềm tin của xã hội – đặc biệt là tầng lớp cử tri đã quay lưng với “giới khoa bảng” – và từ đó buộc cả Tòa Bạch Ốc phải điều chỉnh quan hệ với khoa học. Nếu không, “khế ước khoa học” từng nâng Hoa Kỳ thành cường quốc tri thức sau 1945 rất có thể sẽ bước vào một chu kỳ suy trệ mới.
Nguyên Hòa biên dịch
Tham khảo: Theo Kenneth M. Evans, Fellow Viện Baker về Chính sách Khoa học và Kỹ nghệ, Đại học Rice, đăng trên The Conversation, ngày 17 tháng 12, 2025.
Gửi ý kiến của bạn


