Hôm nay,  

Khoa học Mỹ dưới nhiệm kỳ Trump II: cơn “địa chấn” chính sách

26/12/202500:00:00(Xem: 324)
 
 
Hình VB (18)

Peter Thiel, Giám đốc Văn phòng Khoa học và Công nghệ Nhà Trắng, được Trump giao nhiệm vụ cải tổ “mở đường tới những chân trời khoa học mới”, thật ra là thiết lập cơ sở để nhà nước nhúng tay can thiệp sâu hơn vào khối đại học, xã hội gia tăng ngờ vực đối với giới khoa bảng, và tư bản tư nhân nhanh chân chiếm lĩnh địa hạt vốn do cơ quan công chi phối xưa nay.



Ở Hoa Kỳ, khoa học xưa nay hiếm khi giành hàng tít lớn trên báo, cho dù ngân sách nghiên cứu suốt nhiều thập niên vẫn vững vàng qua mọi triều tổng thống như một thứ “quốc ước bất thành văn” về tri thức thuần túy. Năm 2025, khúc quân hành êm ả đó bỗng khựng lại: chính quyền Donald Trump, trở lại Nhà Trắng với nghị trình cải tổ khoa học và kỹ nghệ theo hướng ý thức hệ, đã kéo chính sách khoa học từ trang trong ra thẳng trang nhất.
 
Trong lịch sử Mỹ, nghi kỵ giữa chính giới và đại học không phải điều mới, nhưng nhiệm kỳ Trump II đã đẩy sự bất tín ấy lên một nấc chưa từng ghi nhận: cắt giảm ngân sách quy mô lớn, gom chặt quyền phân bổ tài trợ về trung tâm, và thu hẹp biên độ tự do khảo cứu. Nhà nghiên cứu chính sách Kenneth M. Evans gọi đây là “một tiền lệ mới cho mối quan hệ nứt gãy giữa Nhà Trắng và cộng đồng khoa học.”
 
Từ “Khoa học vàng” đến kế hoạch Genesis
 
Ở trung tâm vòng xoáy ấy là Michael Kratsios, cựu phụ tá thân cận của tỉ phú Peter Thiel, nay giữ ghế Giám đốc Văn phòng Khoa học và Công nghệ Nhà Trắng – vị trí được nâng tầm như chiếc bản lề trong kiến trúc chính sách khoa học mới. Được ông Trump giao nhiệm vụ “mở đường tới những chân trời khoa học mới”, Kratsios nắm trong tay chiếc cần gạt chính yếu của mô hình khoa học Mỹ đương đại.
 
Trong chưa đầy một năm, ông ta đẩy được bốn mũi cải tổ lớn, về sau thường được giới nghiên cứu nhắc tới như “tứ trụ” của khoa học thời Trump II.
 
Sắc lệnh “Gold Standard Science” tuyên bố khôi phục “liêm chính khoa học”, song đồng thời đưa thêm một tầng giám sát chính trị vào hoạt động nội bộ các cơ quan chuyên môn liên bang.
 
Một sắc lệnh khác gom quyền phân bổ ngân sách nghiên cứu liên bang về Nhà Trắng, buộc mọi dự án phải chứng minh “phù hợp ưu tiên tổng thống” trước khi được duyệt giải ngân.
 
“AI Action Plan” mở rộng không gian vận động của khu vực tư trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, dùng nới lỏng quy chế như một thứ chất dầu bôi trơn cho doanh nghiệp công nghệ.
 
Sau cùng, “Project Genesis” – được ví với Dự án Manhattan và chương trình Apollo – huy động kho dữ liệu công và hạ tầng siêu máy tính của hệ thống phòng thí nghiệm quốc gia để đẩy AI vào khoa học cơ bản.
 
Bốn trụ cột ấy phác ra một đường gấp trong “khế ước khoa học” Hoa Kỳ: nhà nước can thiệp sâu hơn, xã hội gia tăng ngờ vực đối với đại học, và tư bản tư nhân nhanh chân chiếm lĩnh địa hạt vốn do cơ quan công chi phối.
 
Một khế ước khoa học rạn nứt
 
Từ sau Thế chiến thứ hai, mô hình khoa học Mỹ dựa trên một thỏa ước ngầm: nhà nước đóng vai “mạnh thường quân vô hình”, còn đại học giữ vị trí trung tâm trong chuỗi sáng tạo và cố vấn. Nay, dưới thời Trump II, mô hình ấy bị thử sức quá mức qua những đòn cắt trợ cấp và tái thiết cơ chế tài trợ mà giới sử học chính sách hẳn sẽ còn nhắc lại như một bước ngoặt.
 
Cuộc đối đầu ngân sách giữa hành pháp và Hạ viện khiến chính phủ phải đóng cửa tới 43 ngày, làm tê liệt quy trình phân bổ kinh phí nghiên cứu, buộc các viện đại học xoay xở bằng các khoản tạm cấp và kiện tụng hành chính để kéo dài hoạt động. Các cơ quan như Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) và Viện Y tế Quốc gia (NIH) chuyển sang một cơ chế chi khác thường: ít hợp đồng nhỏ lẻ hơn, nhưng dồn vốn ứng trước cho các chương trình “trọng điểm chiến lược”, đổi hẳn nhịp điền dã truyền thống của khoa học Mỹ.
 
Giới trẻ trong lằn đạn
 
Lớp chịu đạn đầu tiên không phải các viện sĩ đã có tên tuổi, mà chính là sinh viên cao học và giới nghiên cứu trẻ – những người phụ thuộc nhiều nhất vào trợ cấp công và học bổng di trú. Các suất tiến sĩ bị siết lại, chương trình dành cho sinh viên ngoại quốc co rút, trong khi chính sách di trú và các sắc lệnh nhắm vào chương trình “đa dạng, công bằng và hòa nhập” đặt thêm nhiều lớp rào kỹ thuật lẫn tâm lý.
 
Số sinh viên quốc tế nhập học tại Mỹ mùa thu vừa rồi giảm khoảng 17%, báo hiệu một làn sóng “tái định hướng” điểm đến học thuật mà các đại học Mỹ vốn lâu nay ít phải bận tâm. Không chỉ khối đại học nghiên cứu chịu tác động: hệ thống giáo dục công, từ cao đẳng cộng đồng đến các trường công lập, cũng chứng kiến học bổng teo tóp, dự án đổi mới giảng dạy bị hoãn, khiến tương lai đội ngũ nhân lực tri thức Hoa Kỳ không còn hiển nhiên như trước.
 
Căn bệnh “hiệu quả chính phủ”
 
Trong bức tranh ấy, sự ra đời rồi tan rã chóng vánh của một cơ quan mang tên Department of Government Efficiency (DOGE) như một nét biếm họa chính trị, phản chiếu ám ảnh “hiệu quả” theo nghĩa thuần số học. Theo thiết kế ban đầu, DOGE được lập ra để “chống lãng phí”, nhưng thực tế vận hành bằng cách sàng lọc hồ sơ nghiên cứu qua những bộ từ khóa ý thức hệ, nhắm vào cái bị gán nhãn “khoa học thức tỉnh” trước khi xét đến giá trị học thuật.
 
Dù sớm bị giải thể, di sản của DOGE còn lưu lại trong những đợt tinh giản biên chế và tái cấu trúc nội bộ các cơ quan khoa học liên bang: tính đến cuối năm, trên 200 000 công chức liên bang đã rời bộ máy, riêng NASA mất khoảng 5 000 người, NIH giảm chừng 14 000, để lại những khoảng trống chuyên môn khó lấp trong ngắn hạn. Với nhiều nhà sử học khoa học, đó là một “cú sốc cung tri thức” đúng nghĩa.
 
Khoa học, chính trị và niềm tin
 
Từ bản điều trần lịch sử Science, The Endless Frontier do Vannevar Bush trình lên tổng thống Truman năm 1945, giới khoa học Mỹ hằng mong khoa học được đặt trong vai cố vấn dài hạn, chứ không chỉ là công cụ thời vụ cho chính sách. Tám mươi năm sau, bài toán vẫn không đổi: khoa học chỉ được lắng nghe khi trùng khớp với ưu tiên chính trị, và sẽ bị gạt sang bên khi trở nên bất tiện cho quyền lực đương thời.
 
Theo Kenneth M. Evans, câu hỏi trọng tâm trong ba năm tới không chỉ là ngân khoản liên bang có sống sót ra sao qua các vòng thương lượng ngân sách, mà là liệu đại học Mỹ có đủ sức khôi phục niềm tin của xã hội – đặc biệt là tầng lớp cử tri đã quay lưng với “giới khoa bảng” – và từ đó buộc cả Tòa Bạch Ốc phải điều chỉnh quan hệ với khoa học. Nếu không, “khế ước khoa học” từng nâng Hoa Kỳ thành cường quốc tri thức sau 1945 rất có thể sẽ bước vào một chu kỳ suy trệ mới.
 
Nguyên Hòa biên dịch
Tham khảo: Theo Kenneth M. Evans, Fellow Viện Baker về Chính sách Khoa học và Kỹ nghệ, Đại học Rice, đăng trên The Conversation, ngày 17 tháng 12, 2025.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.
Năm 1979, Steve cho xuất bản Indochina Newsletter là tài liệu liên quan đến các vi phạm nhân quyền tại Việt Nam sau ngày 30/4/1975, sau đổi tên thành Indochina Journal, rồi Vietnam Journal. Tôi và vài người Việt nữa đã cùng làm việc với Steve trong việc phối kiểm tin tức liên quan đến tù nhân lương tâm và dịch nhiều tài liệu của các phong trào đòi tự do dân chủ tại Việt Nam sang tiếng Anh, như Cao trào Nhân bản của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Diễn đàn Tự do của Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, các bài giảng về sám hối vào Mùa chay 1990 của linh mục Chân Tín, cũng như những tuyên cáo về tình trạng thiếu tự do tôn giáo của các Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thượng tọa Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát; của Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền, Linh mục Nguyễn Văn Lý.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.