Hôm nay,  

Khoa học Mỹ dưới nhiệm kỳ Trump II: cơn “địa chấn” chính sách

12/26/202500:00:00(View: 323)
 
 
Hình VB (18)

Peter Thiel, Giám đốc Văn phòng Khoa học và Công nghệ Nhà Trắng, được Trump giao nhiệm vụ cải tổ “mở đường tới những chân trời khoa học mới”, thật ra là thiết lập cơ sở để nhà nước nhúng tay can thiệp sâu hơn vào khối đại học, xã hội gia tăng ngờ vực đối với giới khoa bảng, và tư bản tư nhân nhanh chân chiếm lĩnh địa hạt vốn do cơ quan công chi phối xưa nay.



Ở Hoa Kỳ, khoa học xưa nay hiếm khi giành hàng tít lớn trên báo, cho dù ngân sách nghiên cứu suốt nhiều thập niên vẫn vững vàng qua mọi triều tổng thống như một thứ “quốc ước bất thành văn” về tri thức thuần túy. Năm 2025, khúc quân hành êm ả đó bỗng khựng lại: chính quyền Donald Trump, trở lại Nhà Trắng với nghị trình cải tổ khoa học và kỹ nghệ theo hướng ý thức hệ, đã kéo chính sách khoa học từ trang trong ra thẳng trang nhất.
 
Trong lịch sử Mỹ, nghi kỵ giữa chính giới và đại học không phải điều mới, nhưng nhiệm kỳ Trump II đã đẩy sự bất tín ấy lên một nấc chưa từng ghi nhận: cắt giảm ngân sách quy mô lớn, gom chặt quyền phân bổ tài trợ về trung tâm, và thu hẹp biên độ tự do khảo cứu. Nhà nghiên cứu chính sách Kenneth M. Evans gọi đây là “một tiền lệ mới cho mối quan hệ nứt gãy giữa Nhà Trắng và cộng đồng khoa học.”
 
Từ “Khoa học vàng” đến kế hoạch Genesis
 
Ở trung tâm vòng xoáy ấy là Michael Kratsios, cựu phụ tá thân cận của tỉ phú Peter Thiel, nay giữ ghế Giám đốc Văn phòng Khoa học và Công nghệ Nhà Trắng – vị trí được nâng tầm như chiếc bản lề trong kiến trúc chính sách khoa học mới. Được ông Trump giao nhiệm vụ “mở đường tới những chân trời khoa học mới”, Kratsios nắm trong tay chiếc cần gạt chính yếu của mô hình khoa học Mỹ đương đại.
 
Trong chưa đầy một năm, ông ta đẩy được bốn mũi cải tổ lớn, về sau thường được giới nghiên cứu nhắc tới như “tứ trụ” của khoa học thời Trump II.
 
Sắc lệnh “Gold Standard Science” tuyên bố khôi phục “liêm chính khoa học”, song đồng thời đưa thêm một tầng giám sát chính trị vào hoạt động nội bộ các cơ quan chuyên môn liên bang.
 
Một sắc lệnh khác gom quyền phân bổ ngân sách nghiên cứu liên bang về Nhà Trắng, buộc mọi dự án phải chứng minh “phù hợp ưu tiên tổng thống” trước khi được duyệt giải ngân.
 
“AI Action Plan” mở rộng không gian vận động của khu vực tư trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, dùng nới lỏng quy chế như một thứ chất dầu bôi trơn cho doanh nghiệp công nghệ.
 
Sau cùng, “Project Genesis” – được ví với Dự án Manhattan và chương trình Apollo – huy động kho dữ liệu công và hạ tầng siêu máy tính của hệ thống phòng thí nghiệm quốc gia để đẩy AI vào khoa học cơ bản.
 
Bốn trụ cột ấy phác ra một đường gấp trong “khế ước khoa học” Hoa Kỳ: nhà nước can thiệp sâu hơn, xã hội gia tăng ngờ vực đối với đại học, và tư bản tư nhân nhanh chân chiếm lĩnh địa hạt vốn do cơ quan công chi phối.
 
Một khế ước khoa học rạn nứt
 
Từ sau Thế chiến thứ hai, mô hình khoa học Mỹ dựa trên một thỏa ước ngầm: nhà nước đóng vai “mạnh thường quân vô hình”, còn đại học giữ vị trí trung tâm trong chuỗi sáng tạo và cố vấn. Nay, dưới thời Trump II, mô hình ấy bị thử sức quá mức qua những đòn cắt trợ cấp và tái thiết cơ chế tài trợ mà giới sử học chính sách hẳn sẽ còn nhắc lại như một bước ngoặt.
 
Cuộc đối đầu ngân sách giữa hành pháp và Hạ viện khiến chính phủ phải đóng cửa tới 43 ngày, làm tê liệt quy trình phân bổ kinh phí nghiên cứu, buộc các viện đại học xoay xở bằng các khoản tạm cấp và kiện tụng hành chính để kéo dài hoạt động. Các cơ quan như Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) và Viện Y tế Quốc gia (NIH) chuyển sang một cơ chế chi khác thường: ít hợp đồng nhỏ lẻ hơn, nhưng dồn vốn ứng trước cho các chương trình “trọng điểm chiến lược”, đổi hẳn nhịp điền dã truyền thống của khoa học Mỹ.
 
Giới trẻ trong lằn đạn
 
Lớp chịu đạn đầu tiên không phải các viện sĩ đã có tên tuổi, mà chính là sinh viên cao học và giới nghiên cứu trẻ – những người phụ thuộc nhiều nhất vào trợ cấp công và học bổng di trú. Các suất tiến sĩ bị siết lại, chương trình dành cho sinh viên ngoại quốc co rút, trong khi chính sách di trú và các sắc lệnh nhắm vào chương trình “đa dạng, công bằng và hòa nhập” đặt thêm nhiều lớp rào kỹ thuật lẫn tâm lý.
 
Số sinh viên quốc tế nhập học tại Mỹ mùa thu vừa rồi giảm khoảng 17%, báo hiệu một làn sóng “tái định hướng” điểm đến học thuật mà các đại học Mỹ vốn lâu nay ít phải bận tâm. Không chỉ khối đại học nghiên cứu chịu tác động: hệ thống giáo dục công, từ cao đẳng cộng đồng đến các trường công lập, cũng chứng kiến học bổng teo tóp, dự án đổi mới giảng dạy bị hoãn, khiến tương lai đội ngũ nhân lực tri thức Hoa Kỳ không còn hiển nhiên như trước.
 
Căn bệnh “hiệu quả chính phủ”
 
Trong bức tranh ấy, sự ra đời rồi tan rã chóng vánh của một cơ quan mang tên Department of Government Efficiency (DOGE) như một nét biếm họa chính trị, phản chiếu ám ảnh “hiệu quả” theo nghĩa thuần số học. Theo thiết kế ban đầu, DOGE được lập ra để “chống lãng phí”, nhưng thực tế vận hành bằng cách sàng lọc hồ sơ nghiên cứu qua những bộ từ khóa ý thức hệ, nhắm vào cái bị gán nhãn “khoa học thức tỉnh” trước khi xét đến giá trị học thuật.
 
Dù sớm bị giải thể, di sản của DOGE còn lưu lại trong những đợt tinh giản biên chế và tái cấu trúc nội bộ các cơ quan khoa học liên bang: tính đến cuối năm, trên 200 000 công chức liên bang đã rời bộ máy, riêng NASA mất khoảng 5 000 người, NIH giảm chừng 14 000, để lại những khoảng trống chuyên môn khó lấp trong ngắn hạn. Với nhiều nhà sử học khoa học, đó là một “cú sốc cung tri thức” đúng nghĩa.
 
Khoa học, chính trị và niềm tin
 
Từ bản điều trần lịch sử Science, The Endless Frontier do Vannevar Bush trình lên tổng thống Truman năm 1945, giới khoa học Mỹ hằng mong khoa học được đặt trong vai cố vấn dài hạn, chứ không chỉ là công cụ thời vụ cho chính sách. Tám mươi năm sau, bài toán vẫn không đổi: khoa học chỉ được lắng nghe khi trùng khớp với ưu tiên chính trị, và sẽ bị gạt sang bên khi trở nên bất tiện cho quyền lực đương thời.
 
Theo Kenneth M. Evans, câu hỏi trọng tâm trong ba năm tới không chỉ là ngân khoản liên bang có sống sót ra sao qua các vòng thương lượng ngân sách, mà là liệu đại học Mỹ có đủ sức khôi phục niềm tin của xã hội – đặc biệt là tầng lớp cử tri đã quay lưng với “giới khoa bảng” – và từ đó buộc cả Tòa Bạch Ốc phải điều chỉnh quan hệ với khoa học. Nếu không, “khế ước khoa học” từng nâng Hoa Kỳ thành cường quốc tri thức sau 1945 rất có thể sẽ bước vào một chu kỳ suy trệ mới.
 
Nguyên Hòa biên dịch
Tham khảo: Theo Kenneth M. Evans, Fellow Viện Baker về Chính sách Khoa học và Kỹ nghệ, Đại học Rice, đăng trên The Conversation, ngày 17 tháng 12, 2025.
 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, Donald Trump đã khiến nhiều người sửng sốt vì tốc độ thay đổi chóng mặt trong hàng ngũ các viên chức nội các và cố vấn thân cận. Nhưng khi bước vào nhiệm kỳ hai, hiện tượng ấy gần như biến mất; chỉ còn một vài người rút lui. Nhưng theo các chuyên gia, điều đó không đồng nghĩa với sự hòa hợp. Thay vào đó, sự “ổn định” ấy đến từ việc Trump chỉ chọn những người không dám làm trái ý mình. Những người sẵn sàng nghe và vâng lời ông, bất kể đúng sai.
Ở Hoa Kỳ, khi nghe đến cụm từ “giáo dục tổng quát,” người ta thường hình dung về những khóa học nhập môn trong các lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và toán học. Tùy vào mỗi trường, chương trình này có thể mang những cái tên khác nhau như “chương trình căn bản” (core curriculum) hay “các môn học bắt buộc” (distribution requirements). Ngoài ra, chương trình này đôi khi còn có một tên gọi khác là “giáo dục khai phóng” (liberal education). Hội các trường Cao đẳng và Đại học Hoa Kỳ (American Association of Colleges and Universities, AACU) mô tả đây là chương trình giúp bồi dưỡng “tinh thần trách nhiệm xã hội, cùng với các kỹ năng trí tuệ và thực tiễn vững vàng có thể vận dụng linh hoạt.”
Trong nhiều năm kể từ khi Jeffrey Epstein được phát hiện chết trong phòng giam tại Metropolitan Correctional Center (MCC), New York, giới chức liên bang luôn khẳng định rằng cái chết này là một vụ tự sát. Tuy nhiên, một cuộc điều tra độc lập do CBS News thực hiện đã phơi bày hàng loạt mâu thuẫn giữa các tuyên bố của chính phủ và những gì thực sự hiện ra trong đoạn phim giám sát vừa được công bố.
Cuối mùa Hè năm 1955, Till-Mobley tiễn con trai của bà, Emmett Till 14 tuổi lên một chuyến tàu từ Chicago đến thăm chú và các anh em họ của Emmett ở quê hương Mississippi của bà. Giống như những phụ nữ và đàn ông da đen nói với con cái họ về việc chú ý các điểm dừng giao thông và các cuộc chạm trán khác với cảnh sát, Till-Mobley đã căn dặn Emmett rất kỹ. Bà cho cậu biết cậu đang đi đến một nơi mà an toàn phụ thuộc vào khả năng kiềm chế sự bốc đồng, tính cách không khuất phục của cậu với người da trắng. Linh cảm của người mẹ mang đến trong lòng bà nỗi bất an không giải thích được. Bà đưa cho Emmett chiếc nhẫn bạc của ông Louis Till, cha của cậu. Chiếc nhẫn khắc chữ L.T.
“Đi về Miền Nam, miền hương thơm bông lúa tràn ngập đầy đồng; Đi về Miền Nam, miền xinh tươi đất rộng cùng chung nguồn sống” Và cứ như thế, với tiếng hát trong tâm tưởng, từng đoàn người gồng gánh ra đi. Họ đi về hướng Nam giống như cha ông của mình từ bao nhiêu thế kỷ trước. Bây giờ lại còn một động lực mới và mãnh liệt khác, đó là đi tìm tự do: ‘chúng tôi muốn sống!’, như tên gọi một cuốn phim nổi tiếng của đồng bào di cư sau này. Cuối tháng 6, dù hiệp định đình chiến chưa ký kết nhưng quân đội Pháp và Quốc gia đã rút lui khỏi nhiều địa điểm ở đồng bằng Bắc Việt nên nhiều người bắt đầu di tản về các đô thị, đặc biệt là Hải phòng.
Cõi này ngày càng bất an! Tình trạng hâm nóng toàn cầu đã dẫn tới nhiều thảm họa như bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng cao, dịch bệnh, mất mùa, đói khát lầm than. Chiến tranh thù hận ngày càng hung bạo đã làm cho hàng triệu người thương vong, nhà cửa ruộng vườn bị phá hoại. Các chế độ độc tài, quân phiệt, và nạn kỳ thị sắc tộc đã thẳng tay đàn áp dân lành. Tất cả những điều trên đã dẫn đến thảm trạng bỏ nước đi của hàng triệu người trên thế giới! Theo Population Division of the United Nations Department of Economic and Social Affairs (UNDESA), năm 2024 có tới 304 triệu di dân trên toàn cầu, là một con số tăng gần gấp đôi kể từ năm 1990, khi lúc đó có 154 triệu di dân trên thế giới. Đó là 3.7% tổng dân số địa cầu. Theo Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tính tới cuối năm 2024, có 43.7 triệu người tị nạn, gồm 6 triệu người tị nạn từ Palestine và 8 triệu người xin được nhận vào quy chế tị nạn trên toàn cầu.
Trong số người Việt, thế hệ thứ nhất có 29% học xong cử nhân hay cao hơn. Thế hệ sinh ra lớn lên tại Hoa Kỳ con số này là 59%. Như thế có thể lý giải là phụ huynh không có cơ hội học cao nhưng khuyến khích con theo đuổi đường học vấn cho tương lai.
Khi các chuyên gia quan ngại về mối quan hệ của giới trẻ với thông tin trực tuyến, họ thường cho rằng giới trẻ tuổi không hiểu biết về phương tiện truyền thông như những người lớn tuổi hơn. Nhưng công trình nghiên cứu dân tộc học do Jigsaw – cơ sở công nghệ của Google - thực hiện lại tiết lộ một thực tế phức tạp và tinh tế hơn: Thế hệ Z, thường được hiểu là những người sinh sau năm 1997 và trước năm 2012, đã phát triển các chiến lược khác biệt rõ rệt để đánh giá thông tin trực tuyến, những chiến lược sẽ khiến bất kỳ ai trên 30 tuổi trở nên bối rối. Họ không tiếp thu thông tin như những người lớn tuổi hơn bằng cách đầu tiên đọc tiêu đề và sau đó là nội dung.
Người Việt Nam không ai xa lạ với từ ‘Gulag’ - trại tù lao động khổ sai khét tiếng của Liên Bang Xô Viết. Ước tính trong khoảng hai thập niên từ 1930-1953, nơi đây giam giữ khoảng 4 triệu tù nhân; 1.5 triệu đã chết trong tù hay sau khi được thả một thời gian ngắn. Gulag từng được xem là địa ngục trần gian, là biểu tượng cho sự tàn bạo của nhà tù cộng sản. Trong những ngày cuối tháng 6, khi mà người dân Mỹ chuẩn bị pháo hoa đón mừng Lễ Độc Lập, cái tên Gulag được sử dụng khi nói đến một nhà tù mới được hình thành ở Florida. Nhà tù này có tên gọi là Alligator Alcatraz. Trong một bài viết được đăng trên trang mạng Amrican Community Media ngày 30/06/2025, nhà báo Laszlo Bartus đã cảnh báo rằng nó sẽ là nhà tù vô nhân đạo nhất thế giới.
Trong hơn bảy mươi năm qua, quan hệ giữa Hoa Kỳ và Iran đã trải qua nhiều bước ngoặt – từ một liên minh chiến lược thời Chiến tranh Lạnh, đến một trong những nước đối đầu gay gắt và kéo dài nhất của thời đại hậu thuộc địa. Bản tóm lược dưới đây ghi lại những cột mốc chính từ năm 1953 đến 2025, nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện về diễn biến phức tạp của quan hệ Hoa Kỳ–Iran trong bối cảnh biến động địa chính trị toàn cầu.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.