Hôm nay,  

Phạm Duy, Người Đi Cùng Mệnh Nước Ngược Xuôi

27/01/202300:00:00(Xem: 6695)

 Pham-Duy

  

LTS: Trải dài suốt mấy thế hệ, từ thời kháng chiến chống Pháp, cuộc chiến hai mươi năm, và rồi tha hương, tên tuổi Phạm Duy luôn luôn gắn bó với tình tự dân tộc, là một huyền thoại trong khu làng âm nhạc, văn nghệ Việt Nam. Hiếm ai trong chúng ta không cảm thấy lòng dạt dào yêu quê Mẹ Việt Nam hơn khi nghe nhạc và ca từ của Ông. Cả một cuộc đời dài sáng tác, Ông đã để lại cho đời sau một gia sản tinh thần khổng lồ với “ngàn lời ca” mà có lẽ trước và sau Ông khó ai bì kịp.

Đúng ngày này 10 năm trước, ngày 27 tháng 1 năm 2013, người nhạc sĩ nổi trôi cùng mệnh nước 93 năm đã kết thúc cuộc hành trình “trên đường về nơi cõi hết”. Nhân ngày giỗ Ông năm thứ 10, Việt Báo hân hạnh đăng tải dưới đây loạt bài của nhà văn Cung Tích Biền. Loạt bài gồm 4 phần, mỗi phần là cái nhìn ở mỗi chặng đường soi giọi bước chân của người nhạc sĩ.

Nhà văn Cung Tích Biền không viết những lời ca ngợi hay chê bai, việc đó đã có không ít người làm rồi, ở đây ông chỉ viết lên những cảm nhận, suy nghĩ, những tâm tình của riêng ông với người nhạc sĩ.
 
Phần I/Chương một
Một cái nhìn chung về Phạm Duy
 
1
 
Nhạc sĩ Phạm Duy, tên khai sinh Phạm Duy Cẩn, chào đời vào năm 1921, tại Phố Hàng CótHà Nội. Bấy giờ Hà Nội thuộc Xứ Bắc Kỳ, một trong năm xứ của Đông Dương thuộc Pháp [Việt, Miên, Lào]. Riêng nước Việt để dễ cai trị, người Pháp chia làm ba  Xứ – Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, mỗi xứ có ranh giới riêng, thể chế cai trị và guồng máy hành chính rất khác biệt nhau.
 
Thời Pháp thuộc, Nước Annam là tên được gọi thay cho Việt Nam. Người Việt Nam thay vì vietnamien, được gọi là annamite. Đây là một từ miệt thị là dân nô lệ, bị trị. Cụm từ “Dân Mít nhược tiểu. Bọn Mít da vàng”, là cụm từ thường dùng. Hà cớ chi An Nam là tên không đáng gọi? Vì An Nam có từ tên An Nam đô hộ phủ, do vua nhà Đường [Trung Quốc] đặt cho nước ta vào thời bị trị Nhà Đường, từ năm 679.
 
Phạm Duy, qua đời năm 2013, tại Sàigòn, vào thời Việt Nam thống nhất cả hai miền Nam-Bắc, nằm hoàn toàn dưới sự toàn trị của Chính quyền miền Bắc, từ tháng Tư 1975. Sự “Hợp một” này có được phải sau hai mươi năm chiến chinh máu lửa, anh em cùng một nhà thanh toán nhau, một bên bị diệt, mới có một bên được thắng.

Phạm Duy được an táng tại gần Sàigòn. Theo chỗ tôi biết, tâm nguyện của ông, “Quê nhà”, nơi chôn nhau cắt rốn, chính là chốn Kinh Bắc, nơi đó ông sẽ trở lại với nghìn thu, chứ không phải nơi Công viên Nghĩa trang Bình Dương. Điều bí ẩn này chờ một ngày giải mã.
 
Dài dòng vậy, để tỏ tường cái tình huống, tình cảnh, buổi sơ nguyên tiếng khóc chào đời, cho tới hơi thở cuối cùng một đời Nhạc sĩ, trong xay xát, giữa nghiền nát, ra đi, trở lại, của tình thế chính trị, tư tưởng, binh lửa, qua bao nhiêu tang thương dâu bể của sử lịch.
 
Phạm Duy là “Một bản tường trình lịch sử” qua âm nhạc. Một điều thấy rõ. Những chương bản nghịch dị trong cuộc đời Phạm Duy là do sự chọn lựa rõ trắng đen chính nơi ông, một người suốt hành trình đời mình, luôn đồng hành với sự sòng phẳng, tự do chính mình. Không giả nhân giả nghĩa. Cũng từ đây, sức sống trong các nhạc phẩm của ông là một khởi phát chân thực từ đáy lòng, qua cái tâm hồn tinh hoa giàu lòng yêu nước yêu người, là một trời nồng nhiệt lôi cuốn người ngưỡng ngoạn luôn theo cùng.
 
*
 
Cuộc đời Phạm Duy là một cuộc trường kỳ dấn mình, tràng giang “dây nhợ”, trải theo một lịch sử khá đặc biệt của nươc nhà. Chinh chiến lâu dài, nhiều đổi thay thể chế chính trị, những xáo trộn xã hội khốc liệt. Ông là một thiên tài âm nhạc. Dấu ấn và tầm ảnh hưởng của ông, đối với quần chúng, xã hội, là rất đặc biệt so với những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, những nghệ sĩ sáng tác khác, cùng thời.
 
Những tài liệu viết về ông rất nhiều. Ca ngợi ông rất nhiều. Có người viết cả một quyển sách nhiều trăm trang, chỉ nói về Phạm Duy. Người với những bài dài dặc như một công cụ chính trị đánh phá Phạm Duy cũng không ít.
 
Ca ngợi, tới tột cùng. Đánh phá, là triệt để.
 
Nhiều người cùng thành phần Quốc gia với ông, phủi trụi, xóa trắng tất cả thành tựu lớn lao của ông, chỉ để trưng ra một câu chửi bới nặng nề. Lại người yêu mến ông, quý trọng tài năng ông, đã bỏ qua, quên hết “những râu ria mép rìa đời thường nơi ông”, để nhất mực, với lòng thanh thản, con tim nồng nàn, tôn vinh ông. Số người này, có hằng triệu.
 
Phạm Duy, người thường trực đứng dưới nắng mưa thời thế. Là, một người trọn một đời, như một kịch bản hấp dẫn, khá nhiều bí ẩn và huyền ảo, những chương hồi này nghịch ngược, phản trái với chương hồi kia, trong chính một kịch bản, Phạm Duy.
 
*
 
Về gia thế, Phạm Duy sinh trưởng trong một gia đình được gọi là một gia tộc lớn. Nơi đó, những tinh hoa cô đọng, bàng bạc tri thức, sự thông thái là suối nguồn, đủ lập dựng một tài năng lớn Phạm Duy về sau.
 
Thân phụ ông là Phạm Duy Tốn [1883-1924] được xem là một nhà văn xã hội tiên phong của nền văn học đầu thế kỷ 20. Văn chương Phạm Duy Tốn được coi là những dấu ấn đầu tiên mang ảnh hưởng Tây phương trong văn học Việt Nam. Phạm Duy Tốn là một trong những người đồng thời với Học giả Trần Trọng Kim, Thủ tướng Chính phủ; các bậc khoa bảng, các quan lại đầu triều, các nhà văn như Ngô Tất Tố, Nguyễn văn Tố, Phạm Quỳnh, Nguyễn văn Vĩnh… Từ năm 1920 đến 1923, Phạm Duy Tốn là nghị viên Viện Dân biểu Bắc Kỳ.
 
Những tác phẩm văn học chính của Phạm Duy Tốn: Bực mình (1914), Sống chết mặc bay (1918), Con người Sở Khanh (1919), Nước đời lắm nỗi (1919). Tiếu lâm quảng ký (3 tập).
 
Người anh cả của Phạm Duy là Phạm Duy Khiêm (1908-1974) là một nhà giáo, nhà văn. Du học Pháp, văn bằng Agrégation de grammaire [Thạc sĩ Ngữ Pháp] năm 1935. 1958 Phạm Duy Khiêm được tặng thưởng Tiến sĩ Danh dự từ Đại học Toulouse, Pháp quốc. 1954 Phạm Duy Khiêm là Bộ trướng Phủ Thủ tướng, Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Pháp [1955-1957] thời Tổng thống Ngô Đình Diệm. Phạm Duy Khiêm nhà văn, viết văn bằng tiếng Pháp. Trong đó có Légendes des terres sereines, Nam et Sylvie, De Hanoi à Lacourtine được một ít giải thưởng văn chương của nước Pháp.
 
Phạm Duy là người con trai út. Ông còn một người anh, em Phạm Duy Khiêm, là Phạm Duy Nhượng. Phạm Duy Nhượng là một nhạc sĩ, tác giả Tà áo Văn Quân. Ông này chết sớm.
 
*
 
Phạm Duy, ông không sống mỗi mình, riêng cho âm nhạc. Ông là một Mối tình chung, chan hòa cùng một Việt Nam chiến chinh, chia cắt, bao trầm luân lên vực xuống đèo của Đổi thay.

Phạm Duy nhạc sĩ, còn là một nhà văn –  chính mình viết Hồi ký nhiều tập, rất có giá trị. Là, một nhà nghiên cứu âm nhạc, qua những bài nghị luận sắc sảo về dân ca, nhạc truyền thống, nhạc tây phương. Là, một thi sĩ hàng đầu với ngôn ngữ thơ trong lời nhạc. Hàng trăm bản nhạc của ông có lời, là mỗi bài thơ. Mà là thơ hay, ngôn ngữ đẹp.
 
Nhà thơ danh tiếng Trần Dạ Từ đã có cái nhìn: “Nhạc sĩ Phạm Duy là một trong những nhà thơ vĩ đại nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam thời hiện đại”.
 
*  
 
Ra đời từ 1921 Phạm Duy không là kẻ “bất phùng thời”. Mà, “gặp thời”. Nhưng “gặp thời” này rơi vào một kẻ khác, không là Phạm Duy, hẳn chúng ta không có hàng nghìn bản nhạc, trong đó hàng trăm là những danh tác. “Gặp thời” này là một quà tặng thời thế dành riêng cho Phạm Duy. Phạm Duy thật lòng, làm quà tặng, tặng lại cho đời.
 
Vì sao gọi là gặp/ phùng thời?
 
Người họ Phạm trưởng thành đúng lúc những chuyển xoay thời thế, những bản lề tác động, mang tầm trọng đại của lịch sử, trên đất Việt.
 
– Năm 1930, khi Nguyễn Thái Học cùng 12 Nghĩa sĩ, Đảng viên Quốc Dân Đảng chống Pháp lên đoạn đầu đài, Phạm Duy đã 10 tuổi, tính theo lịch trăng.
 
– Một cao trào văn học Quốc ngữ đã tới hồi phát triển rực rỡ, nhằm vào tuổi biết suy nghĩ và thụ nhận của Phạm Duy. 1933, khởi phóng Phong trào thơ Mới, với những Nhà thơ cự phách tiên phong, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Chế Lan Viên… chấm dứt hệ Đường thi, thơ bát cú [tám câu năm vần] thông thường dùng chữ Hán, hoặc Nôm.
 
Song hành, 1932, bên đường văn chương, có Tự Lực Văn đoàn, với Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng… Những nhà văn đáng kính này còn là những nhà cách mạng, với những luận đề chính trị xã hội, khởi xướng những chương trình cải cách cho cuộc tiến hóa dân trí dân sinh, mong thoát khỏi tối tăm một thời bị trị.
 
Hương hoa tư tưởng từ Hổ nhớ Rừng [thơ Thế Lữ] đến các tiểu thuyết Đoạn tuyệt [Nhất Linh] Hồn bướm mơ tiên [Khái Hưng], chưa kể hàng loạt những báo chí bừng sáng từ Nam chí Bắc mang tầm cao giá trị. Hẳn, Phạm Duy không thể không chịu tầm ảnh hưởng lớn lao, khi tuổi gần như trưởng thành.
 
– Dù là học dở dang, nhưng Phạm Duy từng bước vào cửa Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương – École Supérieure des Beaux-Arts de l'Indochine. Trường có từ  năm 1925, đã đào tạo những họa sĩ lừng danh, hàng đầu của nền Hội họa nước nhà, như Nguyễn Gia Trí, Tô Ngoc Vân, Mai Trung Thứ, Lê Phổ, Nguyễn Tư Nghiêm… Phạm Duy bỏ học, như Văn Cao, Thế Lữ, Nhất Linh, đã từng.
 
– Tuổi thành niên của Phạm Duy, cũng là thời hai Phong trào vận động Cách mạng không bạo lực vũ trang, hãy còn lưu ảnh hưởng rất sâu đậm trong xã hội bấy giờ. Đó là Phong trào Đông Du do Sào Nam Phan Bội Châu chủ xướng, đưa sinh viên sang nước Nhật du học để mở đường. Phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh, nhiệt liệt hô hào chấn hưng dân trí, dân sinh, dân khí, theo đường Tây hóa. Những phong trào yêu nước, mở nước, mở đường vào với văn minh nhân loại, hãy còn tầm vận động sâu rộng trong quần chúng. Phạm Duy đứng trong gió mùa không thể không từng nghe thấy gió.
 
– Khi Phạm Duy bắt đầu vào đường âm nhạc, nền tân nhạc của nước ta vẫn là “Những ngày đầu, những bước chập chững vào đời”. Non mười năm trước mà thôi, kể từ Phạm Duy sáng tác bản nhạc đầu tiên, 1944, đã có những nhạc sĩ tiên phong mở đường, với Nguyễn văn Tuyên, Văn Chung, Lê Yên, Doãn Mẫn, Lê Thương, Nguyễn văn Thương. Nhiều ca khúc, được xem là những “bản nhạc tây”, đầu tiên của những nhạc sĩ kể trên đã xuất hiện từ những năm 1935, 1936…
 
– Những biến chuyển lịch sử trọng đại trên thế giới có cuộc Đệ nhị Thế chiến. Ở trong nước là – Pháp đi Nhật đến. Cách mạng Mùa Thu 19 tháng Tám, Tuyên ngôn Độc lập, tháng chín. Chính phủ Trần Trọng Kim thân Nhật sụp đổ. Vua thứ 13, nhà Vua cuối cùng của Nhà Nguyễn, Bảo Đại [Vĩnh Thụy] từ triều đình Huế tuyên bố thoái vị, trao ấn tín kiếm báu cho Mặt trận Việt Minh. Lúc này Phạm Duy 24 tuổi. Tuổi của mỗi thanh niên có quyết định hành động, và chịu trách nhiệm cho chính mình.
 
– Tháng 10-1945 Pháp đã quay lại Sàigòn. Tháng 12-1946, quân Pháp đổ bộ lên Hải Phòng, tiến chiếm Hà Nội. Chiến tranh Việt Pháp chính thức mở màn. Ba mươi năm tiếp sau, ngưng chiến, hòa bình chia cắt hai miền, nội chiến Bắc-Nam. Tàn cuộc chơi binh lửa, 1975, Phạm Duy đã là 54 tuổi, tuổi của “tri thiên mệnh”.
 
*
 
Rõ ràng, suốt tuổi trưởng thành của Phạm Duy, lịch sử đã bày biện ra một cuộc thế đầy đủ súng gươm để tranh giành, chém giết nhau, để ai đó nhân thời thế, thừa cơ mà làm anh hùng.

Cũng chính nhân thế ấy, thừa mứa những hỉ nộ ái ố, hân hoan trong mùi vị thương đau, cũng là để ai đó trở thành bậc thiên tài trong các lĩnh vực nghệ thuật, văn chương, thi ca, âm nhạc.

Cuộc thế đã mời gọi. Cửa đời rộng mở. Phạm Duy đã có mặt.

Hiện thực đã hiện thể những tơ mành, tế vi, để quần tụ, vầy ra cuộc/ nguồn đại thể. Vui đến muốn điên, buồn mong được chết. Xã hội, một đài hương. Xã hội con người cũng là một bãi rác thải tanh hôi. Lịch sử, Ta có thể dâng lòng thành, tình yêu, cả máu xương này. Lịch sử là nơi dễ dàng cho những bàn chân bùn lội qua. Những bàn tay máu thao túng. Của Mùi động vật rộng tỏa.
 
Cửa mở rộng lắm. Con đường là thênh thang. Phạm Duy bước vào. Một bước có thể nhảy từ sơ nguyên lộn về ngay Hôm nay.
Phạm Duy là ai? Là cỗ máy chế biến vĩ đại. Phân loại cái bãi đời. Thu gom hương đời. Xay xát, những phế liệu, những rác thải có thể tái chế, hay cần thiết phải hủy đi. Phạm Duy, là công cụ, làm sạch lạch nguồn. Khơi trong dòng chảy. Là lửa đốt chiều hôm. Cụm lá khô, những cành mọn. Là tách móc mép rìa sự việc đến trọng tâm đại thể. Là đoàn tụ sum vầy ánh đèn đêm, đến tâm sự bầy chim xa xứ.
 
Phạm Duy, cỗ máy chọn/ chiết lọc từ cái nhân thế hồ đồ, cái lịch sử trập trùng những buồn vui trắc ẩn, để cho ra lời ca tiếng hát.
 
Lịch sử nước tôi. Phạm Duy, người may mắn, được thần linh ban phúc, được trời đất chiết lọc sự thông thái, tinh hoa từ triệu người, để ban phát cho một riêng Ông.
 
Nghìn thu sương bóng. Vài thế kỷ may có một đôi người.
 
(Còn tiếp)
 
– Cung Tích Biền

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.