Hôm nay,  

Người sống với thổ dân giữa rừng núi

9/2/202220:50:00(View: 3996)
Tạp ghi

 

20211121_105228.jpg

Linh mục Nguyễn Văn Huấn bên các em thiếu nhi ở Darwin, Úc.

 

 

Người sống với thiên nhiên, với rừng núi bao la bát ngát, với suối reo, với chim hót suốt ngày, cười một mình với nai vàng ngơ ngác, với chim sẻ nhảy nhót trên cành cây thì không bao giờ già.


Một ngày đẹp trời, có một người ở Úc viết cho tôi mấy dòng chữ:


- Bạn nên gặp cha Huấn đến từ Darwin, bây giờ cha đang ở Mỹ, ở tiểu bang nào tôi cũng không biết, nhưng cha sẽ đến California đầu tháng 9/2022, suốt đời cha Huấn sống với thổ dân.


Khi nói đến Darwin là tôi nhớ ngay, vào thập niên 70, từ Canberra nghỉ hè tôi đến Perth thăm anh chị em sinh viên du học ở đó. Sinh viên du học ở Úc thường là được học bổng Columbo, ở Perth sinh viên Việt Nam nhiều hơn ở các thành phố khác trừ New South, Sydney. Lúc đó, ở Darwin chỉ có 2 sinh viên du học, một nữ sinh buồn quá và nhớ người yêu xin về nước, vì ở thành phố buồn hiu hắt, toàn là nông trại trồng mía, và núi rừng bao la bát ngát, còn lại một nữ sinh xin về học đại học Perth. Bỗng dưng người bạn nhắc đến Darwin, tôi biết ngay ở đây buồn lắm, đất rộng mênh mông bằng hai tiểu bang Victoria và New South Wales. Châu Úc là thuộc địa của Anh, không có vua, không có Tổng Thống, chỉ có thủ tướng. Thủ tướng do dân bầu nhưng phải được sự chấp thuận của nữ hoàng Anh. Cây nước lớn nhất giữa hồ nước ở Canberra, Úc do nữ hoàng Anh tặng cho chính phủ Úc và dân Úc.

 

IMG_8308.jpg

Giáo xứ St. Francis Xavier Parish, nơi linh mục
Peter Nguyễn Văn Huấn làm chánh xứ. 

 

IMG_8304.jpg

Giáo dân ở đây có đời sống rất khó khăn.

 

Chúng tôi đến gặp cha Peter Nguyễn Văn Huấn tại nhà của Học và Dung, cháu cha, ở Santa Ana, một ngôi biệt thự nguy nga tráng lệ. Lúc ở Việt Nam, cha đi tu nhưng chưa chịu chức linh mục. Cha đã từng ở tù vì giúp cho giáo dân, họ đạo Tân Phước, Long Hải. Cha nhắc lại sự hãi hùng 3 tháng đầu ở tù dưới chế độ Cộng Sản, 60 người nhốt trong một nhà kho, khủng khiếp lắm.

Định cư ở Úc, cha đi học và chịu chức linh mục. Cha thường về Việt Nam giúp cho các trẻ em mồ côi ở núi rừng cao nguyên trung phần và các tỉnh miền tây. Cha cho chúng tôi xem hình những dì phước người Thượng, các em học sinh miền Thượng. Các em đem củi từ rừng đến thành phố để đổi lấy gạo. Những dì phước ăn mặc bình thường như người dân, cùng với các em mồ côi người Thượng đi tìm lương thực hằng ngày.

IMG_8264.jpg

Linh mục Peter Nguyễn Văn Huấn đang thăm viếng Orange County, California.

 

Học và Dung đãi khách với nhiều món rau, chỉ có một món thịt duy nhất do bằng hữu của Dung đem đến để đãi cha Huấn từ xa tới. Ăn thì ít mà nói thì nhiều, cha ở xa tới, nơi cha ở là rừng núi, cách thành phố 250 cây số, vậy mà cô bạn của tôi Phạm Thanh Tâm cùng 6 bằng hữu đến thăm cha trong rừng và ở lại với rừng núi. Trong 7 người chỉ có 1 nam còn lại 6 nữ. Ngày xưa đi học chúng tôi nghịch lắm, bây giờ gặp lại những người bạn cũ cũng thế, năng động, thích sống ở núi rừng, thích nghe chim hót líu lo trên cành cây, trong rừng rậm.

 

 IMG_8294.jpg

Linh mục Nguyễn Văn Huấn
thăm các em mồ côi ở
Kontum, Việt Nam.

 

Cha Peter Nguyễn Văn Huấn quan tâm đến các em mồ côi nhất là vấn đề thức ăn hàng ngày và vấn đề giáo dục. Quý đồng hương không thể tưởng tượng được đến ngày hôm nay thế kỷ 21 mà vẫn còn những em mù chữ, có những người không đủ thức ăn hàng ngày không?

Cha Huấn gầy và đen, nếu không nhìn thấy cổ áo màu trắng của cha, không ai có thể nghĩ đây là linh mục ở một nước văn minh như Úc Châu. Cha kể cho chúng tôi nghe cha đi xin thực phẩm ở thành phố, có những lò bánh mì biếu không cho cha, cứ 2 tuần một lần cha rời rừng núi đến phố lấy thực phẩm mà người hảo tâm đến tặng cho cha để cha đem về cho người dân bộ lạc, đi và về 500 cây số. Không phải cha chỉ giúp các bộ lạc ở Úc mà còn giúp Việt Nam, cha cho học bổng các em mồ côi ở Việt Nam để các em học ra bác sĩ, dược sĩ, các em sau khi học xong về lại rừng núi giúp cho các em khác.

IMG_8296.jpg

Các em mồ côi ở Kontum, Việt Nam,
được sự chăm sóc của các sơ.

 

Cha cho chúng tôi xem hình ảnh của các em ở miền Thượng, từ năm 1999- 2006, cha thường về Việt Nam gặp các linh mục và các sơ đang giúp đỡ các em mồ côi. Có 6 trung tâm, mỗi trung tâm nuôi khoảng 180 em, có trung tâm ít nhất là 102 em. Các em mồ côi người Thượng ở Việt Nam đã khổ, các em thiểu số ở rừng núi Darwin cũng không hơn gì, bộ lạc cha Huấn đang chăm sóc gồm 1000- 1500 người, toàn là người da đen. Cha cười và nói tiếp:


- Tôi cũng đen, nên nhiều người nghĩ tôi cũng là người trong bộ lạc. 


Ở Darwin nóng lắm, cho nên người nào sống ở Darwin, cũng chịu ảnh hưởng với sức nóng của nơi này.


Cha Peter Nguyễn Văn Huấn năm nay 73 tuổi, suốt đời làm linh mục sống với núi rừng, sống với bộ lạc. Một giáo xứ chỉ có một linh mục, sơn nhà thờ cũng là cha chính xứ, dọn rừng, đi xin bánh mì, xin thuốc cho bộ lạc cũng là cha chính xứ. Thỉnh thoảng có đồng hương đến thăm cha như phái đoàn của cô Phạm Minh Tâm từ Melbourne đến. Minh Tâm hoạt động tích cực trong phong trào Giáo Dân thế giới. Tôi còn nhớ những ngày Tâm sang Hoa Kỳ họp hội với anh em, Tâm viết văn từ nhỏ, lớn lên cũng viết văn và hòa đồng với người nghèo khó. Tâm rất mộ đạo, đi bất cứ nơi nào đến ngày Chúa nhật là đi lễ.


Anh chị em ở Melbourne, Úc Châu rất kính nể cha Peter Nguyễn Văn Huấn vì sự hy sinh cao cả của cha chăm lo và giúp đỡ cho trẻ con mồ côi, cho các bộ lạc ở rừng núi, cho nên khi cha Huấn đến nơi nào thì anh chị em trong nhóm của Tâm gởi email đển bằng hữu ở nơi đó, yêu cầu đến thăm cha, nếu có thể tiếp tay được với cha giúp đỡ trẻ con mồ côi thì tốt quá.


Mơ ước của cha Huấn là trẻ con mồ côi và những bộ lạc ở rừng núi có thực phẩm hàng ngày và những đứa trẻ được học hành như những người ở thành phố.

 

chahuan

                             Linh mục Nguyễn Văn Huấn và các giáo dân ở Darwin, Úc Châu.

 

Phạm Minh Tâm và bằng hữu của cô gửi đến cha $2,000. Cha đang ở Mỹ nhưng cũng lập tức gửi ngay tiền về cho các sơ ở Bạc Liêu để giúp đỡ cho trẻ con mồ côi. Các cháu của cha ở Hoa Kỳ cho $4,000, cha cũng gửi ngay về Việt Nam. Cha không phải là nhà binh nhưng cha làm việc gì cũng nhanh, cha ở Mỹ 4 ngày nhưng làm việc không ngừng nghỉ: dâng thánh lễ cầu nguyện cho dịch cúm đi qua, và gặp gỡ nhiều đồng hương không phân biệt tôn giáo đến thăm viếng cha. 

Cha kể về cô nhi viện nào thì có ngay hình ảnh nơi đó, cha kể đến bộ lạc trong rừng mà cha đang chăm sóc có hình ảnh ngay và hình ảnh các sơ người thiểu số ăn mặc giản dị, mộc mạc hình ảnh rất đơn sơ đang chăm sóc cho trẻ con mồ côi làm cho nhiều người cảm động.

Linh mục Peter Nguyễn Văn Huấn chia sẻ với chúng tôi những kinh nghiệm trong đời sống của 32 năm làm linh mục, thời gian nhiều nhất của cha là ở rừng núi chăm sóc trẻ con mồ côi, những người Thượng, những nơi không có điện nước, hàng ngày không có đủ thực phẩm để ăn, mùa đông không có áo ấm để mặc.

Chúng tôi được biết cha Huấn thường về rừng núi ở Việt Nam, chúng tôi nhắc đến cha Phaolo Nguyễn Văn Đông, giáo phận Kontum. Cha Đông lập nghĩa trang chôn cất và cầu nguyện cho thai nhi bị giết hại một cách thảm khốc. Cha Huấn nói cha biết cha Nguyễn Văn Đông là cha bề trên, cha Huấn rất kính mến cha Đông về những việc làm từ thiện của ngài.

 

Linh mục Peter Nguyễn Văn Huấn yêu thương, chăm sóc và quan tâm đến đời sống của giáo dân. Ngài mong được mọi người đồng cảm và chung tay giúp đỡ trẻ em nghèo. Linh mục Peter Nguyễn Văn Huấn chú trọng vấn đề thực phẩm trước nhất, đến sức khỏe, và đặc biệt chú trọng đến học vấn. Ông bà không học, cha mẹ không học, con cháu không học thì suốt đời vẫn đói, vẫn ở trong rừng. Chúng tôi đã từng vào rừng núi Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột và chúng tôi cũng đã từng đi với phái đoàn từ thiện YMCA đến núi rừng Đà Lạt, Bảo Lộc, Lâm Đồng thăm đồng bào thiểu số nên chúng tôi rất thông cảm với những người không đủ thực phẩm để ăn, không đủ áo ấm để mặc, những đứa trẻ không được đến trường học, cho nên khi nghe cha Huấn kể về những người Thượng, chúng tôi thông cảm ngay.

Xin Thượng Đế ban phúc lành cho những vị lãnh đạo tinh thần có lòng như cha Huấn. Cha thành lập dòng Thừa Sai Thánh Tâm ở Việt Nam, hy vọng đồng hương gặp cha, giúp đỡ cha, giúp đỡ dòng Thừa Sai, để cho những người có lòng có phương tiện giúp người nghèo, giúp những đứa trẻ mồ côi.

 

-- Kiều Mỹ Duyên
(Orange County, 2/9/2022)

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.