Hôm nay,  

Người sống với thổ dân giữa rừng núi

02/09/202220:50:00(Xem: 3998)
Tạp ghi

 

20211121_105228.jpg

Linh mục Nguyễn Văn Huấn bên các em thiếu nhi ở Darwin, Úc.

 

 

Người sống với thiên nhiên, với rừng núi bao la bát ngát, với suối reo, với chim hót suốt ngày, cười một mình với nai vàng ngơ ngác, với chim sẻ nhảy nhót trên cành cây thì không bao giờ già.


Một ngày đẹp trời, có một người ở Úc viết cho tôi mấy dòng chữ:


- Bạn nên gặp cha Huấn đến từ Darwin, bây giờ cha đang ở Mỹ, ở tiểu bang nào tôi cũng không biết, nhưng cha sẽ đến California đầu tháng 9/2022, suốt đời cha Huấn sống với thổ dân.


Khi nói đến Darwin là tôi nhớ ngay, vào thập niên 70, từ Canberra nghỉ hè tôi đến Perth thăm anh chị em sinh viên du học ở đó. Sinh viên du học ở Úc thường là được học bổng Columbo, ở Perth sinh viên Việt Nam nhiều hơn ở các thành phố khác trừ New South, Sydney. Lúc đó, ở Darwin chỉ có 2 sinh viên du học, một nữ sinh buồn quá và nhớ người yêu xin về nước, vì ở thành phố buồn hiu hắt, toàn là nông trại trồng mía, và núi rừng bao la bát ngát, còn lại một nữ sinh xin về học đại học Perth. Bỗng dưng người bạn nhắc đến Darwin, tôi biết ngay ở đây buồn lắm, đất rộng mênh mông bằng hai tiểu bang Victoria và New South Wales. Châu Úc là thuộc địa của Anh, không có vua, không có Tổng Thống, chỉ có thủ tướng. Thủ tướng do dân bầu nhưng phải được sự chấp thuận của nữ hoàng Anh. Cây nước lớn nhất giữa hồ nước ở Canberra, Úc do nữ hoàng Anh tặng cho chính phủ Úc và dân Úc.

 

IMG_8308.jpg

Giáo xứ St. Francis Xavier Parish, nơi linh mục
Peter Nguyễn Văn Huấn làm chánh xứ. 

 

IMG_8304.jpg

Giáo dân ở đây có đời sống rất khó khăn.

 

Chúng tôi đến gặp cha Peter Nguyễn Văn Huấn tại nhà của Học và Dung, cháu cha, ở Santa Ana, một ngôi biệt thự nguy nga tráng lệ. Lúc ở Việt Nam, cha đi tu nhưng chưa chịu chức linh mục. Cha đã từng ở tù vì giúp cho giáo dân, họ đạo Tân Phước, Long Hải. Cha nhắc lại sự hãi hùng 3 tháng đầu ở tù dưới chế độ Cộng Sản, 60 người nhốt trong một nhà kho, khủng khiếp lắm.

Định cư ở Úc, cha đi học và chịu chức linh mục. Cha thường về Việt Nam giúp cho các trẻ em mồ côi ở núi rừng cao nguyên trung phần và các tỉnh miền tây. Cha cho chúng tôi xem hình những dì phước người Thượng, các em học sinh miền Thượng. Các em đem củi từ rừng đến thành phố để đổi lấy gạo. Những dì phước ăn mặc bình thường như người dân, cùng với các em mồ côi người Thượng đi tìm lương thực hằng ngày.

IMG_8264.jpg

Linh mục Peter Nguyễn Văn Huấn đang thăm viếng Orange County, California.

 

Học và Dung đãi khách với nhiều món rau, chỉ có một món thịt duy nhất do bằng hữu của Dung đem đến để đãi cha Huấn từ xa tới. Ăn thì ít mà nói thì nhiều, cha ở xa tới, nơi cha ở là rừng núi, cách thành phố 250 cây số, vậy mà cô bạn của tôi Phạm Thanh Tâm cùng 6 bằng hữu đến thăm cha trong rừng và ở lại với rừng núi. Trong 7 người chỉ có 1 nam còn lại 6 nữ. Ngày xưa đi học chúng tôi nghịch lắm, bây giờ gặp lại những người bạn cũ cũng thế, năng động, thích sống ở núi rừng, thích nghe chim hót líu lo trên cành cây, trong rừng rậm.

 

 IMG_8294.jpg

Linh mục Nguyễn Văn Huấn
thăm các em mồ côi ở
Kontum, Việt Nam.

 

Cha Peter Nguyễn Văn Huấn quan tâm đến các em mồ côi nhất là vấn đề thức ăn hàng ngày và vấn đề giáo dục. Quý đồng hương không thể tưởng tượng được đến ngày hôm nay thế kỷ 21 mà vẫn còn những em mù chữ, có những người không đủ thức ăn hàng ngày không?

Cha Huấn gầy và đen, nếu không nhìn thấy cổ áo màu trắng của cha, không ai có thể nghĩ đây là linh mục ở một nước văn minh như Úc Châu. Cha kể cho chúng tôi nghe cha đi xin thực phẩm ở thành phố, có những lò bánh mì biếu không cho cha, cứ 2 tuần một lần cha rời rừng núi đến phố lấy thực phẩm mà người hảo tâm đến tặng cho cha để cha đem về cho người dân bộ lạc, đi và về 500 cây số. Không phải cha chỉ giúp các bộ lạc ở Úc mà còn giúp Việt Nam, cha cho học bổng các em mồ côi ở Việt Nam để các em học ra bác sĩ, dược sĩ, các em sau khi học xong về lại rừng núi giúp cho các em khác.

IMG_8296.jpg

Các em mồ côi ở Kontum, Việt Nam,
được sự chăm sóc của các sơ.

 

Cha cho chúng tôi xem hình ảnh của các em ở miền Thượng, từ năm 1999- 2006, cha thường về Việt Nam gặp các linh mục và các sơ đang giúp đỡ các em mồ côi. Có 6 trung tâm, mỗi trung tâm nuôi khoảng 180 em, có trung tâm ít nhất là 102 em. Các em mồ côi người Thượng ở Việt Nam đã khổ, các em thiểu số ở rừng núi Darwin cũng không hơn gì, bộ lạc cha Huấn đang chăm sóc gồm 1000- 1500 người, toàn là người da đen. Cha cười và nói tiếp:


- Tôi cũng đen, nên nhiều người nghĩ tôi cũng là người trong bộ lạc. 


Ở Darwin nóng lắm, cho nên người nào sống ở Darwin, cũng chịu ảnh hưởng với sức nóng của nơi này.


Cha Peter Nguyễn Văn Huấn năm nay 73 tuổi, suốt đời làm linh mục sống với núi rừng, sống với bộ lạc. Một giáo xứ chỉ có một linh mục, sơn nhà thờ cũng là cha chính xứ, dọn rừng, đi xin bánh mì, xin thuốc cho bộ lạc cũng là cha chính xứ. Thỉnh thoảng có đồng hương đến thăm cha như phái đoàn của cô Phạm Minh Tâm từ Melbourne đến. Minh Tâm hoạt động tích cực trong phong trào Giáo Dân thế giới. Tôi còn nhớ những ngày Tâm sang Hoa Kỳ họp hội với anh em, Tâm viết văn từ nhỏ, lớn lên cũng viết văn và hòa đồng với người nghèo khó. Tâm rất mộ đạo, đi bất cứ nơi nào đến ngày Chúa nhật là đi lễ.


Anh chị em ở Melbourne, Úc Châu rất kính nể cha Peter Nguyễn Văn Huấn vì sự hy sinh cao cả của cha chăm lo và giúp đỡ cho trẻ con mồ côi, cho các bộ lạc ở rừng núi, cho nên khi cha Huấn đến nơi nào thì anh chị em trong nhóm của Tâm gởi email đển bằng hữu ở nơi đó, yêu cầu đến thăm cha, nếu có thể tiếp tay được với cha giúp đỡ trẻ con mồ côi thì tốt quá.


Mơ ước của cha Huấn là trẻ con mồ côi và những bộ lạc ở rừng núi có thực phẩm hàng ngày và những đứa trẻ được học hành như những người ở thành phố.

 

chahuan

                             Linh mục Nguyễn Văn Huấn và các giáo dân ở Darwin, Úc Châu.

 

Phạm Minh Tâm và bằng hữu của cô gửi đến cha $2,000. Cha đang ở Mỹ nhưng cũng lập tức gửi ngay tiền về cho các sơ ở Bạc Liêu để giúp đỡ cho trẻ con mồ côi. Các cháu của cha ở Hoa Kỳ cho $4,000, cha cũng gửi ngay về Việt Nam. Cha không phải là nhà binh nhưng cha làm việc gì cũng nhanh, cha ở Mỹ 4 ngày nhưng làm việc không ngừng nghỉ: dâng thánh lễ cầu nguyện cho dịch cúm đi qua, và gặp gỡ nhiều đồng hương không phân biệt tôn giáo đến thăm viếng cha. 

Cha kể về cô nhi viện nào thì có ngay hình ảnh nơi đó, cha kể đến bộ lạc trong rừng mà cha đang chăm sóc có hình ảnh ngay và hình ảnh các sơ người thiểu số ăn mặc giản dị, mộc mạc hình ảnh rất đơn sơ đang chăm sóc cho trẻ con mồ côi làm cho nhiều người cảm động.

Linh mục Peter Nguyễn Văn Huấn chia sẻ với chúng tôi những kinh nghiệm trong đời sống của 32 năm làm linh mục, thời gian nhiều nhất của cha là ở rừng núi chăm sóc trẻ con mồ côi, những người Thượng, những nơi không có điện nước, hàng ngày không có đủ thực phẩm để ăn, mùa đông không có áo ấm để mặc.

Chúng tôi được biết cha Huấn thường về rừng núi ở Việt Nam, chúng tôi nhắc đến cha Phaolo Nguyễn Văn Đông, giáo phận Kontum. Cha Đông lập nghĩa trang chôn cất và cầu nguyện cho thai nhi bị giết hại một cách thảm khốc. Cha Huấn nói cha biết cha Nguyễn Văn Đông là cha bề trên, cha Huấn rất kính mến cha Đông về những việc làm từ thiện của ngài.

 

Linh mục Peter Nguyễn Văn Huấn yêu thương, chăm sóc và quan tâm đến đời sống của giáo dân. Ngài mong được mọi người đồng cảm và chung tay giúp đỡ trẻ em nghèo. Linh mục Peter Nguyễn Văn Huấn chú trọng vấn đề thực phẩm trước nhất, đến sức khỏe, và đặc biệt chú trọng đến học vấn. Ông bà không học, cha mẹ không học, con cháu không học thì suốt đời vẫn đói, vẫn ở trong rừng. Chúng tôi đã từng vào rừng núi Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột và chúng tôi cũng đã từng đi với phái đoàn từ thiện YMCA đến núi rừng Đà Lạt, Bảo Lộc, Lâm Đồng thăm đồng bào thiểu số nên chúng tôi rất thông cảm với những người không đủ thực phẩm để ăn, không đủ áo ấm để mặc, những đứa trẻ không được đến trường học, cho nên khi nghe cha Huấn kể về những người Thượng, chúng tôi thông cảm ngay.

Xin Thượng Đế ban phúc lành cho những vị lãnh đạo tinh thần có lòng như cha Huấn. Cha thành lập dòng Thừa Sai Thánh Tâm ở Việt Nam, hy vọng đồng hương gặp cha, giúp đỡ cha, giúp đỡ dòng Thừa Sai, để cho những người có lòng có phương tiện giúp người nghèo, giúp những đứa trẻ mồ côi.

 

-- Kiều Mỹ Duyên
(Orange County, 2/9/2022)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hồ Hữu Thủ cùng với Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung của Hội Họa sĩ Trẻ trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn, họ vẫn sung sức lao động nghệ thuật và tranh của họ vẫn thuộc loại đẳng cấp để sưu tập. Họ thuộc về một thế hệ vàng của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bất kể ở Mỹ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Đinh Cường… hay còn lại trong nước, còn sống hay đã chết, tranh của nhóm Hội Họa sĩ Trẻ vẫn có những giá trị mang dấu ấn lịch sử. Cho dù tranh của họ rất ít tính thời sự, nhưng cái đẹp được tìm thấy trong tác phẩm của họ lại rất biểu trưng cho tính thời đại mà họ sống. Đó là cái đẹp phía sau của chết chóc, của chiến tranh. Cái đẹp của hòa bình, của sự chan hòa trong vũ trụ. Cái mà con người ngưỡng vọng như ý nghĩa nhân sinh.
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
Vào ngày 6 tháng 12, 2023, nhà thơ, nhà văn, giáo sư văn học và nhà hoạt động xã hội được yêu mến người Palestine Refaat Alareer đã thiệt mạng trong một cuộc không kích từ Israel cùng với người anh, em gái và bốn đứa con của họ. Trong tuần để tang kể từ đó, những lời tri ân dành cho cuộc đời, sự nghiệp viết lách và các hoạt động nghệ thuật tích cực của Alareer đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới. Nhiều lời tri ân được đăng cùng với bài thơ cuối cùng “Nếu tôi phải chết” được ông đăng trên Twitter của mình vào ngày 1 tháng 11 năm 2023. Cho đến nay, bài thơ chia tay như một điềm báo đau lòng của Alareer hiện đã được dịch sang hơn 40 thứ tiếng; được đọc trên các sân khấu thế giới và được viết trên các bức tường sân ga tàu điện; được in trên các biểu ngữ, bảng hiệu, cờ và diều, được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi ngưng bắn trên khắp thế giới.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.