Hôm nay,  

Sông Nước Mùa Hè

05/08/202200:00:00(Xem: 2832)
chim coc khoi canh

Chim cốc phơi cánh. (Ảnh của NTHH)

 
Nếu bạn ở một nơi có mùa đông dài 5 tháng, và nhiệt độ ban ngày thấp hơn độ đóng băng của nước, bạn sẽ thích mùa hè. Nhưng dù bạn có thích mùa hè đến mấy thì cũng có những ngày nóng ngộp thở. Bạn làm gì để giải nhiệt? Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng đã mời gọi: “Mùa hè năm nay anh sẽ đưa em rời phố chợ đôi ngày.”  Thật là chí lý. Mùa hè ở trong thành phố rất nóng. Cái nóng hắt từ mặt đường tráng nhựa và từ xe cộ thải ra rất khó chịu. Một trong những cách giải nhiệt giản dị nhất là xa rời phố thị, đi về quê. Còn gì sung sướng hơn “Chín mươi ngày nhảy nhót ở đồng quê. Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ.”(1)  Người xưa từng nói về cái khoái lạc của mùa hè là tắm ao sen, hạ thưởng lục hà trì. Chúng ta có thể thay thế ao sen bằng hồ, sông, hay biển. Không cần ngụp lặn nếu bạn sợ dính bùn, hay nước mặn gắt, chỉ cần bạn đi dọc theo bờ sông, bờ hồ, hưởng làn gió từ mặt nước thổi lên là thấy người khoan khoái hẳn lên.
 
Trên đường trail Delaware and Raritan không có hoa sen nhưng hoa súng rất nhiều. Không phải loại hoa súng water lily của Việt Nam. Đây là loại hoa nhỏ như một quả banh golf màu vàng, gọi là pond-lily hay cow-lily. Loại hoa súng này tôi đã gặp trong một bức tranh của Hokusai. Có nghĩa là bên Nhật cũng có hoa này. Ở đây, mùa nào có hoa nấy. Đầu tháng Sáu hoa hồng dại và honeysuckles nở trắng hai bên đường. Hương hoa ngan ngát quyện vào mỗi bước chân. Tháng Bảy và tháng Tám, hoa mallow, một loại hoa dâm bụt nở màu hồng thắm mỗi hoa to như cái đĩa bàn. Hoa có mùi thơm nhẹ, nhụy có mật ngọt nên thường quyến rũ kiến và ong. Hoa thistle, còn gọi là hoa kế, vừa có nhan sắc lại vừa có hương thơm nhưng hiểm hóc đầy gai nhọn. Loại hoa hoang dại này lại được chọn tô điểm cho quốc huy của Tô Cách Lan. Hoa dại, hình như, ít khi màu đỏ. Chỉ thỉnh thoảng tôi mới gặp sát mé nước một loại hoa, cánh hoa nhỏ hơn hoa huệ (loại huệ trắng tuberose bên mình hay chưng trên bàn thờ chứ không phải loại hoa loa kèn lily), giống như hình con hạc màu đỏ thắm gọi là hoa cardinal có nghĩa là hoa hồng y. Cùng màu đỏ tươi thắm có trái dâu tây strawberry và trái redberry. Chừng ấy màu đỏ đủ gợi nhớ câu thơ nổi tiếng trong bài Tình Sầu của Huyền Kiêu, “Hạ đỏ vẫn chàng đến hỏi. Em thơ, chị đẹp em đâu.” Dọc dòng sông Millstone có rất nhiều ngỗng Canada và chim nước. Chim nước hay water-fowl, water-bird là loại nửa chim nửa vịt, có thể bay và đồng thời có thể bơi. Ở đây tôi thấy có merganser, Mallard duck, wood duck, và bufferhead. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy nó, con chim màu chocolate, nó đứng trên một tảng đá giữa khúc sông cạn, dang rộng đôi cánh như chờ gió lên cho đầy cánh để bay. Mãi về sau tôi mới biết tên chim là cormorant. Người Việt gọi là chim cốc. Rồi đột ngột nó cất cánh nhưng không bay cao, đuôi sà xuống chạm vào mặt nước, lệt phệt vài lần như thể bay không nổi để lại trên mặt sông mấy chỗ lõm gợn sóng. Về sau, tôi mới “ngộ” ra là nó đang rình để bắt cá chứ không phải tập bay.
 
Chim cốc không đẹp nếu dựa trên màu sắc. Những con chim được khen là đẹp đều có màu rực rỡ. Chim hồng y (cardinal) có màu đỏ tươi; bluejay màu xanh với nhiều sắc đậm nhạt có điểm trắng; hoàng yến, hoàng oanh (gold finch và oriole) có màu vàng tươi; két có đủ màu xanh đỏ; hoặc nếu không màu thì phải hoàn toàn trắng, trắng tươi, trắng xóa, như thiên nga. Chim cốc có nhiều loại, đốm vàng ở cổ, hay đốm trắng ở ngực, tuy vậy đa số đều có bộ lông màu nâu sậm. Thiếu ánh sáng trông nó đen thui. Mỏ nó dài, nhọn, và khoằm. Đôi mắt xanh đục, và đằng sau gáy có chùm lông dựng đứng. Người ta nói mình chỉ nhìn thấy cái mình biết. Khi chưa biết nó là ai, tôi không hề có cái khái niệm gì về con chim cốc. Nhưng khi biết có con chim cốc trên cuộc đời này thì tôi gặp nó ở nhiều nơi. Đặc biệt, nó xuất hiện rất nhiều trong văn chương của châu Âu.
 
Thi sĩ John Milton đã so sánh chim cốc với quỷ Satan. Trong bộ trường thi Paradise Lost (Thiên Đường Đã Mất) quyển số 4, Milton kể hai mạch truyện. Một mạch truyện nói về Adam và Eve. Mạch truyện còn lại nói về Satan (còn gọi là Lucifer). Satan vốn là thiên thần, sau khi quyết định nổi loạn chống lại Chúa, đã bay đến Eden (vườn địa đàng). Gã quỷ sứ đã đáp xuống cái cây to và cao nhất ở giữa vườn địa đàng. Đó là Cây Cuộc Đời  (Tree of Life). Hắn ngồi trên cây giống như một con chim cốc, suy nghĩ tìm cách mang cái chết đến cho loài người.(2)
 
Cốc nhỏ hơn hạc xám (great blue heron), thiên nga, hoặc ngỗng Canada, nhưng to hơn vịt Mallard đầu xanh. Lớp lông bên ngoài không thấm nước, nhưng lớp lông mềm bên trong có khi ngấm nước nên chim cốc thường dang cánh để hóng gió cho khô. Có lần nhìn hai con chim cốc há mỏ ra đối đáp với nhau, tôi thấy chúng trông có vẻ như đang cãi vã rất dữ dằn, nhưng biết đâu chừng đó là cái cách chúng nói những lời yêu thương với nhau.
 
Cốc lặn rất sâu và rất xa. Đứng rình chụp ảnh, tôi thấy nhiều lần chim cốc lặn rồi biến mất luôn. Có thể nó xuôi dòng đi rất xa và khi trồi lên lẩn vào gốc cây và rễ cây ở phía bên kia bờ sông tôi không tìm được. Chim cốc là loài chim săn cá thượng hạng. Cốc có thể nuốt con cá to gấp mấy lần vòng cổ của nó và có thể ăn cả chục con cá to trong chớp mắt. Chính vì khả năng này mà chim cốc bị Geoffrey Chaucer, thi sĩ nổi tiếng vào thế kỷ 14 với tác phẩm The Canterburry Tales, gán cho tật xấu là tham ăn. Năm trăm năm sau Bram Stoker, trong tác phẩm Dracula đã cho nhân vật của ông tự nhận là “ta có khả năng ăn nhiều như loài chim cốc.”
 
Từ biểu tượng của sự tham ăn, chim cốc dần dần biến thành biểu tượng của gian thương dùng mánh khóe của con buôn để bóc lột người mua, những người cho vay ăn lời cắt cổ, thậm chí là biểu tượng của những nhà sư hổ mang gian hùng và tham lam.
 
Cốc là loại chim mùa đông thiên di. Ở New Jersey khi trời trở lạnh là chúng biến mất. Vào tháng Năm trời ấm lại thấy vài con lác đác bơi trên sông. Chừng tháng Bảy tháng Tám chúng đậu đầy ở những cái đập trên sông để bắt cá. Chim cốc có mặt trên nước Mỹ, Anh, Tô Cách Lan và ở châu Á như Trung quốc và Nhật Bản. Tôi đã nhìn thấy cốc bay thành đàn ở những cái cầu tàu chung quanh Fisherman Wharf, San Francisco. Mấy chục con bay hàng dọc, là là sát mặt nước, bay một đỗi thật xa, theo hướng gió đánh vòng tròn quay trở lại, như là một đoàn quân diễn hành cho du khách thưởng lãm, trông rất ngoạn mục. Tôi cũng gặp chim cốc ở Uji, ngoại thành của Kyoto, một trong 13 nơi của Nhật dùng chim cốc để săn bắt cá. Ở gần chân cầu Kisen bắc ngang con kênh dẫn nước từ sông Uji, có trại nuôi chim cốc để đi săn.
 
Năm 1900 ở Flannan Isles, một quần đảo Tô Cách Lan, đã xảy ra một vụ mất tích thật kỳ bí mà người ta không tìm ra nguyên nhân, cũng không thể giải thích được. Trên đảo Eilean Mòr (đảo chính của Flannan Isles) có một ngọn hải đăng và một ngôi nhà nguyện đã bị hư nát. Có ba nhân viên chăm sóc ngọn hải đăng này, James Ducat, Thomas Marshall, và Donald McArthur. Họ được tuyển chọn, đào tạo, rất thiện nghệ và hoàn toàn được tin cậy. Ngày 15 tháng 12 năm 1900, chiếc tàu Archtor từ Philadelphia đến Leith (Tô Cách Lan) thấy hải đăng không hoạt động, có lẽ vì thời tiết quá xấu. Ngày 18 tháng 12 tin hải đăng không hoạt động được báo cáo với Northen Lighthouse Board. Ngày 26 tháng 12, bão dịu xuống, mới có người đến được ngọn hải đăng và khám phá ra cả ba nhân viên chăm sóc ngọn hải đăng đều mất tích như tan biến vào thinh không. Tất cả đồ dùng trên đảo và đồ dùng của ba người đều còn nguyên vẹn, ngoại trừ bãi cập bến ở bờ Tây bị hư hại nặng vì cơn bão. Người ta đưa ra nhiều giả thuyết, những giả thuyết này được viết thành tiểu thuyết, làm thành phim. Một trong những giả thuyết này là ba nhân viên trông coi ngọn hải đăng đã biến thành ba con chim cốc bay ra khỏi đảo theo sự tưởng tượng của Wilfrid Wilson Gibson trong bài thơ Flannan Isles.
 
Gần đây nhất, cuốn phim Vanishing (Biến Mất) phát hành năm 2018 với Gerad Butler là diễn viên chính, đạo diễn Kristoffer Nyholm đã đưa ra một giả thuyết để giải thích vì sao ba nhân viên hải đăng đồng loạt biến mất.
 
Chim cốc xuất hiện trong văn học như một biểu tượng của ý nghĩ đen tối hay hành động xấu xa. Ngay cả Shakespeare cũng chê chim cốc không tiếc lời. Trong Richard II, act 2, scene 1, đại thi hào đã miêu tả chim cốc như sau:
 
Kiêu hãnh, chim cốc không bao giờ thỏa mãn
Phương tiện để tiêu thụ, sớm muộn gì cũng trở thành miếng mồi của chính nó.
 
Người Trung Hoa và Nhật Bản đều dùng chim cốc để săn bắt cá. Người Nhật Bản không nghĩ xấu về chim cốc. Họ nuôi và huấn luyện chim cốc để phục vụ loài người. Lợi dụng tài săn cá cũng như tật ăn tham của chim cốc, họ cột ngang cổ cốc một cái vòng, cột dây vào chân và thả cốc xuống nước đi săn. Sau đó họ nặn cổ chim cốc bắt nhả ra những con cá đã săn được. Chim cốc nhiều lần làm “người mẫu” cho nhà danh họa Hokusai. Trên mạng thấy lưu truyền một bức tranh chim cốc của Hokusai khá to và dữ dằn. Còn một bức khác tôi gặp trong quyển Hokusai Beyond the Great Views do Timothy Clark biên soạn. Bức tranh vẽ chim cốc đậu trên một cột gỗ dưới chân cột là hoa pond-lily màu vàng.
 
Các nhà thơ Nhật nổi tiếng như Issa, Onitsura, và Basho cũng viết rất nhiều bài haiku về chim cốc.
 
Thật thú vị làm sao,
chiếc thuyền săn chim cốc!
Nhưng chỉ một lúc sau
Tôi cảm thấy nỗi sầu.
 
 
Thú thật, những lời chê bai của các nhà văn châu Âu về chim cốc không thể bôi xóa được hình ảnh đẹp mà chim cốc đã mang đến cho tôi. Tôi xem một vài cuốn phim người ta dùng chim cốc đi săn trong đêm. Ông câu chèo phía sau, chim cốc ngồi trên thuyền như một người bạn đồng hành, bên cạnh là thùng lửa đốt để soi sáng. Hình ảnh lửa thuyền chài trên sông đã khiến tôi nhớ đến một câu trong bài thơ cổ.”Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.”  Thi sĩ Tản Đà đã dịch nguyên bài như sau:
 
Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
.(3)
 
Bài thơ có thể tả cảnh mùa hè, ban ngày trời nóng nhưng đêm có sương. Trước kia đọc bài thơ tôi không thể tưởng tượng được hình ảnh giang phong ngư hỏa như thế nào. Một ngày cuối hè đứng ở bến sông Uji, bên chân cầu Kisen, nhìn những con chim cốc được nuôi trong lồng, và lửa thuyền chài trên một tấm áp phích, tôi dường như nghe được tiếng chuông chùa, không phải của Hàn San Tự mà của Byodo-in cách đó chừng vài trăm mét. Bài thơ cổ trở nên lộng lẫy hơn nhờ hình ảnh thuyền chài đi săn cá bằng con chim cốc.
 
Nguyễn Thị Hải Hà
 
Chú thích:
 
(1)    Xuân Tâm, Nghỉ Hè.
(2)    Thence up he flew, and on the tree of life,
The middle tree and highest there that grew,
Sat like a cormorant; yet not true life
Thereby regained, but sat devising death.
John Milton, Paradise Lost (Kindle Locations 951-952).
(3)    Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô tô thành ngoại hàn san tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
.
Trương Kế, Phong Kiều Dạ Bạc.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.