Hôm nay,  

Cần thiết

13/05/202220:19:00(Xem: 2527)

Truyện ngắn

Love sun

 

Đôi khi tôi cần một người đàn ông

Để sai vặt chuyện trong nhà ngoài phố,

Hay những lúc trời chuyển mùa đổi gió

Tôi có người để tâm sự buồn vui.

 

*

 

Ăn cơm tắm rửa xong, định ngả lưng ra sô–pha coi tivi thì điện thoại rộ lên. Tôi biết ngay là Hoa. Tôi cầm phone nói luôn một lèo:

 

– Chuyện mưa nắng California hôm qua nói rồi, còn chuyện gì nữa đây?

 

Hoa cười rúc rích:

 

– Thì chuyện mưa nắng California, tiếp theo…

 

Thế là thay vì nằm coi tivi, tôi nằm ôm phone mặc tình cho con bạn nói cho sướng miệng. Điều mà tôi gọi là “Chuyện mưa nắng California” là đủ chuyện trời ơi đất hỡi xảy ra ở California. Từ chuyện giá nhà đất, chuyện chợ búa, chuyện các ca sĩ Việt Nam, đến chuyện những cặp vợ chồng bỏ nhau, kiện nhau. Xong màn tạp lục Hoa đi vào chủ đề chính là… tôi:

 

– Còn bồ bao giờ lấy chồng cho tớ được ăn cưới lần nữa? Chuyện anh Thịnh đến đâu rồi?

 

Tôi gắt lên:

 

– Tao đã nói là không bao giờ có hai chuyến xe hoa trong đời tao, biết chưa? Tao không cần đàn ông, anh Thịnh vẫn chỉ là anh Thịnh, là một người bạn tốt của gia đình tao bấy lâu.

 

Hoa không buông tha:

 

– Nếu bồ cảm thấy không thích anh Thịnh thì để tớ kiếm cho một người lý tưởng đúng như mơ ước.

 

– Ở đâu mà có sẵn vậy? – Tôi hỏi giọng châm chọc.

 

– Ờ… thì tớ sẽ tìm bạn bốn phương. Nghe nè: Thiếu phụ 45, mộng mơ...

 

– Thôi dẹp đi, có người lý tưởng bằng xương bằng thịt ngay bây giờ tao cũng không thèm đâu, tìm chi cho mất công.

 

Hoa vẫn còn tiếc rẻ:

 

– Bồ còn tuổi xuân phơi phới mà gàn bướng quá, chỉ vì giận một người đàn ông mà thù ghét tất cả đàn ông. Rồi xem được bao lâu!

 

Hoa cúp phone rồi, tôi cũng không thảnh thơi coi tivi được nữa, đôi lúc những lời khuyên của Hoa cũng làm lung lay bức tường thành do tôi dựng lên đã 3 năm nay kể từ khi vợ chồng tôi ly dị.

 

Cung là tình yêu đầu của tôi, chúng tôi đã có một mái gia đình hạnh phúc suốt mười mấy năm trời. Vậy mà anh đã có tình yêu khác cũng thiết tha, cũng mãnh liệt như anh từng yêu tôi. Anh đã ly dị tôi. Đó là một biến cố kinh khủng nhất trong đời tôi, đến bây giờ nghĩ đến tôi còn đau đớn bàng hoàng. Một tình yêu như thế, một tình nghĩa vợ chồng như thế, mà bỗng chốc đã vỡ tan không thể hàn gắn được.

 

Tôi thù ghét Cung, ghét cả lũ… đàn ông và bướng bỉnh tự hứa không bao giờ yêu ai, kết hôn với ai nữa. Đứa con trai duy nhất của tôi và Cung đã 18 tuổi, ba năm qua hai mẹ con sống với nhau dù chênh vênh, dù sứt mẻ vì thiếu vắng một người chồng, một người cha, nhưng cũng quen dần.

 

Năm nay Tú vào đại học ở Austin, tôi muốn con học ở ngay thành phố này nhưng Tú không thích, chả lẽ tôi bắt con phải chiều theo ý mình thì ích kỷ qúa. Hai mẹ con bàn nhau Tú cứ đến Austin học trước, tôi từ từ thu xếp công việc và bán nhà lên sau. Bao nhiêu kỳ vọng và tình thương tôi đều dành cho Tú, nhất quyết chẳng bao giờ hai mẹ con rời nhau, rồi Tú sẽ tốt nghiệp đại học, sẽ có việc làm, sẽ lấy vợ, có con. Tôi sẽ ra tay chăm sóc nhà cửa con cái cho nó, sẽ đỡ đần vun đắp hạnh phúc cho vợ chồng nó. Đời tôi hạnh phúc chẳng ra gì, đời con tôi phải tốt đẹp hơn.

 

Tôi vẽ vời và mong ước thế, không biết đường đời có thẳng tắp cho tôi đi không? Hôm tiễn con đi Austin tôi buồn héo người, trở về căn nhà vắng chỉ mình tôi, tôi đã khóc quá chừng. Đến Austin Tú gọi phone cho tôi, tôi lại khóc làm cho Tú cũng khóc theo. Mấy tháng nay tôi sống với niềm tin là từ giờ đến cuối năm hai mẹ con sẽ đoàn tụ như cũ.

 

*

 

Chiều nay đi làm về tôi ăn cơm sớm để còn làm vài công việc. Cái cánh cửa trong phòng ngủ bị bung tấm ván ép mỏng nên cửa xệ xuống, khó mở ra đóng vào, cần phải đóng lại mấy hàng đinh nhỏ. Rồi một cái bếp bị hư, bóng đèn bị cháy... Trời ơi, sao bao nhiêu thứ không bình thường đến cùng một lúc như thế này?

 

Suốt ba năm qua dù tôi đã khẳng định mình có thể sống suốt đời không cần một tên đàn ông nào bên cạnh, nhưng tôi vẫn ngầm hiểu rằng… có còn hơn không! Biết bao chuyện lặt vặt tôi đã phải đụng tay tới, lòng can đảm của tôi cũng mỏi mòn theo năm tháng. Tôi chẳng vui vẻ gì khi đẩy cái máy cắt cỏ ì ạch mấy tiếng đồng hồ mới xong mảnh sân nhỏ sau nhà. Vừa cắt cỏ tôi vừa khấn vái thầm: “Cỏ ơi, có thương tôi thì đừng mọc nhanh nhé!” Cái xe của tôi cũng kiếm chuyện, một hôm bị chết máy dọc đường tôi phải đứng ở highway nắng gió hai tiếng đồng hồ mới có người quen đến chở về nhà và nghỉ một buổi làm.

 

Ôi, bao nhiêu thứ vặt vãnh của cuộc sống đang về hùa nhau làm khổ thân tôi. Những ngày hạnh phúc xưa tôi nào biết cuộc đời có nhiều cái khổ như thế. Tôi có thú đi chơi xuyên bang, mỗi năm vào mùa Thu, hai vợ chồng và con lên xe đi về những tiểu bang xa để ngắm những cánh rừng lá vàng lá đỏ, để ngắm cả đất trời đang chuyển sắc Thu. Hay đi thăm những danh lam thắng cảnh và hưởng những hương vị ngon lạ của từng nhà hàng, từng địa phương. Cung lái xe, tôi ngồi bên cạnh nhìn ngắm cảnh bên đường, còn thằng Tú có khi đang ngủ trong xe. Có lần vào ban đêm, xe chạy trên highway vắng, hai bên là cánh rừng đen kịt hoang vu. Biết tôi nhát gan Cung đã hỏi đùa tôi:

 

– Nếu bây giờ xe hư giữa đường em có sợ không?

 

Tôi đã trả lời đầy ắp tin yêu:

 

– Không hề sợ, có anh bên cạnh là em được che chở rồi.

 

Bây giờ đôi lúc nhớ con tôi muốn lái xe xuống Austin nhưng tôi ngại đường xa lỡ xe cộ hư lấy ai mà che chở?

 

Chưa kịp ra tay làm việc gì thì điện thoại reo, tưởng là Hoa, tôi cầm phone lên định “van xin” nó tha cho tôi hôm nay không tán dóc sự đời được vì bận rộn lắm. Nhưng lại là phone của Tú, tôi mừng vui dù mới hôm qua hai mẹ con cũng đã nói chuyện với nhau rồi. Lần này Tú nói:

 

–  Mẹ ơi, con muốn nói với mẹ một chuyện quan trọng. Mẹ nghe nhé?

 

–  Con đừng có nói mẹ tìm hiểu bác Thịnh nghe, mẹ vẫn coi bác ấy là bạn của gia đình mà thôi.

 

–  Chính con đang muốn nói điều ấy vì con suy nghĩ hoài và chợt khám phá ra tại sao mẹ không sống cho đời mẹ mà cứ sống vui buồn theo con làm gì? Mẹ đừng hy sinh vô lý quãng đời còn lại của mẹ cho con. Bây giờ con học ở Austin, mẹ bán nhà theo con, rồi mai này ra trường con có job ở tiểu bang khác, mẹ lại bán nhà theo con nữa sao? Con sẽ có đời sống riêng của con. Mẹ con mình sẽ không bao giờ mất nhau đâu.

 

Tôi cảm thấy hụt hẫng và bâng khuâng vì cú phone của Tú, nó có lý, tôi không thể bám theo con như cái đuôi làm gánh nặng vô hình  cho nó. Tôi nhủ tôi phải can đảm lên, từ cuộc sống ba người, còn hai người. Nay đường dài chỉ còn lại mình tôi.

 

Tôi hăng hái ra vườn sau, vào nhà kho tìm đinh búa để sửa cánh cửa trước kẻo mỗi lần đóng mở nó nặng nề và kêu cót két, nghe rùng rợn, làm cho tôi… sợ ma. Tôi bới chỗ nọ, tìm chỗ kia, mãi mới thấy hộp đinh mang vào nhà. Chỗ cánh cửa hư mãi trên cao, tôi phải mang ghế ra để đứng lên, tôi biết mình phải cẩn thận kẻo có trượt chân ngã xuống bất tỉnh cũng chẳng ai hay. Tôi tự coi mình… như một thằng đàn ông, hùng dũng đứng lên ghế vững vàng rồi cầm búa, cầm đinh. Thế mà ngay phút giây này tôi chợt chạnh lòng nhớ những công việc như thế này Cung chỉ làm một chút, còn tôi thì cứ loay hoay mãi vẫn chưa xong.

 

Ôi, ước gì bây giờ có một người đàn ông bên cạnh, anh ta sẽ đứng trên ghế chứ không phải tôi, còn tôi sẽ đứng trên thảm, tha hồ mà chỉ huy mà phê bình.

 

Thôi, đừng có mơ hão huyền, nhất định đời mình không cần đàn ông. Tôi tự nhủ và hiên ngang giơ búa lên. Phập! một cái đau chết điếng, tôi hét lên, búa rơi, đinh rơi và tôi nhảy khỏi ghế, ngồi xuống đất ôm lấy ngón tay đang chảy máu ròng ròng. Vừa đau vừa tủi thân và hận đời khiến tôi khóc nức nở như đứa trẻ bị lạc mẹ.

 

Đang lúc máu đổ lệ rơi thì chuông cửa reo. Ai đến giờ này nhỉ? Tôi không muốn đáp lại nhưng tiếng chuông cửa vẫn tiếp tục không tha. Tôi cố lết ra mở cửa và thấy Thịnh, tay xách túi đồ chắc mới đi chợ mua về. Anh chào tôi bằng nụ cười, nhưng tắt ngay khi nhìn thấy ngón tay tôi đang chảy máu. Anh quẳng túi đồ lên bàn hấp tấp và lo âu hỏi:

 

– Em sao thế?

 

Dù đang đau tôi cũng nhận ra Thịnh đã thay đổi cách xưng hô, không gọi tôi là “chị” như lâu nay anh vẫn gọi tôi. Còn tôi vẫn lịch sự như cũ, mặt vẫn lạnh tanh như cũ:

 

– Thưa anh, tại cái búa…

 

– Búa rơi vào tay em hả?

 

– Thưa anh không. Tôi đóng đinh mà đóng vào tay mình.

 

Thịnh ra lệnh y như mình là chủ nhà:

 

– Ngồi xuống đây để anh băng vết đau cho. Nhưng mà sao em cứ thưa gởi với anh mãi thế?

 

Tôi ấp úng:

 

– Thưa anh… tại… bởi… là vì…

 

Không cần nghe tôi trả lời hết câu anh đi vội vào phòng tắm để lấy bông băng, bao lâu nay là bạn thân của Cung, của gia đình tôi, anh đã quá quen thuộc mọi thứ trong nhà này rồi. Tôi ngoan ngoãn ngồi yên trên ghế để cho anh băng bó ngón tay, anh ngồi dưới chân tôi, đã lâu rồi mới có bàn tay đàn ông chạm vào tay tôi gần gũi và thân mật như thế này, một cảm giác lạ lùng chạy khắp người tôi. Hình như những ngón tay tôi nóng bừng trong bàn tay anh.

 

Tôi cảm động len lén nhìn anh, nét mặt và cử chỉ của anh là bao nhiêu ân cần âu yếm.Tôi ngại ngùng định rút tay về, nhưng Thịnh đã giữ chặt lại, anh ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt tôi:

 

– Đừng em, nghe anh nói…

 

Tôi vờ lạc hướng ngây thơ:

 

– Anh muốn dặn dò tôi cẩn thận với đinh búa chứ gì. Cám ơn anh hôm nay tôi đã… rút kinh nghiệm rồi.

 

– Tại sao em lại chạy trốn chính mình như thế? Anh muốn nói yêu em mà.

 

– Thưa anh… thưa anh…

 

Tôi lí nhí không nói nên lời, cố gắng chống đỡ nhưng bức tường thành trong tôi đã rung rinh càng thêm rung rinh trước ánh mắt thiết tha và lời nói chân tình của anh. Anh nói đúng, tôi không thể chạy trốn tôi mãi được. Dường như ông trời đã sắp đặt sẵn, nói như thuyết nhà Phật có duyên thì đến với nhau, không duyên thì sẽ lìa nhau như tôi và Cung. Vợ Thịnh qua đời vì một căn bệnh cùng thời gian gia đình tôi đổ vỡ nên tôi và Thịnh bỗng trở thành hai kẻ cô đơn, anh thường xuyên đến thăm tôi, tình cảm anh dành cho tôi ngày càng có nghĩa tình yêu hơn là tình bạn. Có thêm một người, thêm một tiếng nói, căn nhà không còn trống vắng nữa, tôi cảm thấy ấm lòng.

 

Nhìn túi đồ trên bàn tôi hỏi Thịnh để che giấu bớt ngượng ngùng:

 

– Anh mua gì thế?

 

– Anh mới mua hộp trà ngon, anh không biết cách pha trà nên mang đến nhờ em pha hộ.

 

– Pha trà thông thường đâu có gì khó, mà nếu anh cầu kỳ, tôi có tay nghề như mấy người Nhật chuyên môn uống “trà đạo” đâu mà anh đến nhờ tôi?

 

Pha trà và uống trà kiểu nào cũng mất cả tiếng đồng hồ. Tôi thừa biết anh chỉ kiếm cớ đến gặp tôi thôi.

 

Thịnh chợt hỏi:

 

– À, em đang sửa cái gì vậy, để anh làm cho.

 

Tôi hớn hở kể luôn một mạch, cứ làm như tôi vừa thuê được anh thợ về sửa chữa tất cả những thứ hư hỏng trong ngôi nhà này:

 

–  Cánh cửa phòng ngủ nó bung ra, anh đóng lại giùm. Với lại một cái bếp bị hư, cái bóng đèn không cháy. Còn nữa, cái chốt cửa bị lỏng, cái vòi nước trong phòng tắm bị nhỏ giọt bấy lâu nay. Còn thêm nữa cái… cái...

 

– Thôi, thôi! Em kể nhiều thế anh làm sao hết trong buổi chiều nay, để anh sẽ làm dần.

 

Ngay trong lúc này tôi thấy Thịnh cần thiết cho tôi, tôi cần được yêu thương, cần được chăm sóc và căn nhà tôi cũng cần được chăm sóc.

 

Trong khi Thịnh ra sửa chữa cánh cửa thì tôi chuẩn bị nấu nước pha trà. Tiếng búa đóng lên nghe rộn rã, hình bóng người đàn ông trong nhà sao mà ấm cúng chở che đến thế, giá ngay lúc này ngoài trời bỗng ầm ầm nổi cơn giông bão cấp bao nhiêu đi nữa tôi cũng cảm thấy bình yên chẳng lo sợ gì.

 

Tôi để ấm nước lên bếp, dù chẳng thích uống trà chút nào, nhưng chốc nữa đây tôi sẽ vì anh uống trà, tôi sẽ “trà đàm” với anh và nghe anh nói chuyện.

 

Và biết đâu có một tình yêu sẽ bắt đầu.

 

Nguyễn Thị Thanh Dương

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Anh Cao Huy Thuần vừa qua đời lúc 23giờ 26 ngày 7-7-1924 tại Paris. Được tin anh qua đời tôi không khỏi ngậm ngùi, nhớ lại những kỷ niệm cùng anh suốt gần 60 năm, từ Việt Nam đến Paris. Anh sinh tại Huế, học Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (1955-1960) và dạy đại học Huế (1962-1964). Năm 1964 anh sang Pháp du học. Năm 1969 anh bảo vệ Luận án Tiến sĩ Quốc Gia tại Đại Học Paris, và giảng dạy tại Viện Đại Học Picardie cho đến khi về hưu.
Khi lần đầu tiên gặp một họa sĩ, tôi thường có khuynh hướng tìm vài nét tương đồng để liên tưởng đến một họa sĩ nổi tiếng nào đó thuộc những thế hệ trước. Với Nguyễn Trọng Khôi, tôi cũng làm như vậy nhưng trừ vài nét chung chung như được đào tạo ở trường ốc hay năng khiếu, tôi không tìm được gì đậc biệt. Nguyễn Trọng Khôi (NTK) không giống một họa sĩ nào khác.
Hồ Hữu Thủ cùng với Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung của Hội Họa sĩ Trẻ trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn, họ vẫn sung sức lao động nghệ thuật và tranh của họ vẫn thuộc loại đẳng cấp để sưu tập. Họ thuộc về một thế hệ vàng của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bất kể ở Mỹ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Đinh Cường… hay còn lại trong nước, còn sống hay đã chết, tranh của nhóm Hội Họa sĩ Trẻ vẫn có những giá trị mang dấu ấn lịch sử. Cho dù tranh của họ rất ít tính thời sự, nhưng cái đẹp được tìm thấy trong tác phẩm của họ lại rất biểu trưng cho tính thời đại mà họ sống. Đó là cái đẹp phía sau của chết chóc, của chiến tranh. Cái đẹp của hòa bình, của sự chan hòa trong vũ trụ. Cái mà con người ngưỡng vọng như ý nghĩa nhân sinh.
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.