Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Mảng tác phẩm Công Giáo của văn chương Nam Kỳ đầu thế kỷ 20

06/08/202116:36:00(Xem: 753)

Mảng tác phẩm Công Giáo của văn chương Nam Kỳ đầu thế kỷ 20
  

Nguyễn Văn Sâm
sưu tập, hiệu đính


blankblankblankblank

    

Văn học Công Giáo là những tác phẩm nói những chuyện liên quan đến đời sống Công Giáo như đạo nạn, các thánh tông đồ, những suy nghĩ của người đương sống đạo, hoặc là những sinh hoạt mà nhân vật là những người tuẫn đạo, thuần đạo… –Tác giả không nhứt thiết là người đạo, nhưng thường 100% là ở trong trường hợp nầy – trong tác phẩm của họ tính chất văn học hiện diện đã đành nhưng tính chất tôn giáo cũng đồng thời có mặt…

Trong văn học Việt Nam, những tác giả Công Giáo như những ông Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Nguyễn Trọng Quản, Hàn Mạc Tử… không thuộc nhóm nầy vì tác phẩm của họ nói về chuyện chung của người Việt Nam và tính chất tôn giáo rất ít không có hay là khó thấy. Do đó người viết văn học sử đã xếp những vị nầy vô nhóm những nhà văn Việt Nam nói chung.

Trái lại tác giả Hồ Ngọc Cẩn, tác giả tuồng Sébastien, tác giả Jacques Lê Văn Đức, tác giả Trịnh Khánh Minh, tác giả Trịnh Khánh Tân, tác giả Nguyễn Quang Minh… là những người thuộc nhóm tạo thành văn học Công Giáo Việt Nam. Nhóm nầy hầu hết xuất hiện ở Miền Nam thời đầu thế kỷ 20 nên chúng tôi gọi họ là những nhà văn Công Giáo Miền Nam giai đoạn 1860-1930.

Tác phẩm của họ nói về chuyện đạo nhưng được viết ra với nhiều tính cách văn chương. Thường là bằng thơ lục bát hoặc tuồng, văn xuôi là số ít, nội dung nhắm tới việc đưa ra những sự kiện về bắt đạo, tử đạo hoặc dạy cho người đọc sống phù hợp với lẽ đạo nói riêng và con người thuần lương nói chung. Có thể là khi sáng tác, những vị nầy chủ yếu nhắm mục tiêu viết cho đồng đạo nhiều hơn cho độc giả bình thường nhưng chắc chắn rằng ai đã đọc thì thế nào cũng học được điều gì đó tốt lành.

Người góp phần vào văn học Công Giáo của Nam Kỳ Lục Tỉnh thời đầu thế kỷ 20 có nhiều, một số lớn không đề tên. Bước đầu chúng tôi tùy cơ duyên, kiếm được tác phẩm nào nhiều tính chất văn học và lịch sử thì sẽ giới thiệu. Nguồn tác phẩm loại nầy là từ tuần báo Nam Kỳ Địa Phận và từ nhà in Tân Định, nhà in Qui Nhơn[1].

  1. Trịnh Khánh Minh, Á Thánh Gẫm Tử Đạo Vãn, SG, 1909 (đã giới thiệu). Biện Phượng và Biện Du Vãn, SG, 1914 (giới thiệu August, 2021).
  2. Trịnh Khánh Tấn, Cang Thường Lược Luận, SG, 1914 (đã giới thiệu)   
  3. Jacques Lê Văn Đức[2],

a. Loại sáng tác: Loại nầy nhiều tính văn chương.
 Tìm của Báu, Qui Nhơn, 1930, Á Thánh Janne d’Arc tuồng, Qui Nhơn 1924, Tình thâm Nghĩa Trọng, Qui Nhơn ( ), Trước Cửa Thiên Đàng, Qui Nhơn, ( )

b. Các tuồng Giễu: Loại nầy được tác giả viết để phục vụ trình diễn giúp vui  trong các họ đạo.

Công tử bột đi cưới vợ, Đi bắt ăn cướp, Điền lính, Hiền Tạ, Ngai Vàng.

4. Paul Nguyễn Quang Minh, Phong Hóa Tân Biên và Huấn Nữ Ca, Sàigòn, 1931
5. Vô Danh, Chánh tà vãn, Sg, 1934
6. Vô Danh, Dị Đoan Ca - Cúng Quải Ca, SG, 1901

 

 

Giới thiệu cuốn Biện Phượng và Biện Du:

 

BIỆN PHƯỢNG VÀ BIỆN DU (HAI ANH EM TỬ VÌ ĐẠO)

 

Câu chuyện xảy ra ở Huyện Bình Dương, làng Nhơn Giang, tỉnh Gia Định khoảng nửa sau thế kỷ 19.  Lúc nầy chuyện bắt đạo đương mạnh trong toàn quốc, Cha đạo và tín đồ chịu nhiều hoạn nạn.

 

Nhằm cơn bắt đạo hầm hầm[3],

Cha thầy khi ấy, đứng nằm không yên.

          Lánh thân ẩn dật liền liền,

Cũng như muông sói, tìm chiên bắt rày.                  80

          Biết bao nhiêu chuyện đắng cay,

Đường đi nước bước, thiệt gay quá chừng.

Đêm ngày tìm kiếm chẳng đừng,

Các nơi đồn thủ[4], nghiêm tuần xét tra.

 

Có hai bổn đạo công giáo họ Trịnh là Khánh Phượng và Khánh Du, làm chức biện trạm ở Cần Giờ. Biện trạm là một chức vụ nhỏ, giữ việc giấy tờ cho trạm xét người hay ghe tàu đi ngang qua trạm xét do chánh quyền sở tại đặt ra làm chốt ngăn để tìm những gian lậu hay kẻ ‘tả đạo’. Chức nầy không lớn nhưng có thể nhờ đó cấp giấy – gọi là phái đi đường.  Họ đã cấp phái cho ghe của Lái Gẩm trên đó có chứa nhiều đồ của nhà Chúa và Cha đạo người ngoại quốc. Việc ẩn lậu do cấp phái bị phát giác do một sự tình cờ  

          ….. Chở chuyên đồ lễ vật dùng,                     95

Rủi thời lại gặp ghe tuần thảm thay.

          Qua ghe chưa rõ gian ngay,

Nào hay xét đặng quả rày vật tang.

          Hỏi tra tờ, phái, rộn ràng,

Trong ghe khi ấy vội vàng trình ra.                        100

          Lính tuần vội vã xem qua,

Coi đi, coi lại tưởng là giấy gian.

          Thiệt là không phải phái làng,

Ai ngờ coi lại, rõ ràng trạm cho.

          Quân tuần chưa rõ căn do,                             105

Nghĩ rằng không lẽ, trạm cho như vầy.

          Bắt đem trở lại trạm nầy,

Đặng cho đội trạm hỏi rày cho minh.

 

Hai người biện trạm sợ rằng trong tương lai sẽ xảy ra những nguy hiểm lớn hơn nên đã từ chức về nhà sống đời dân dã chăm lo việc đạo ở vùng Chợ Quán. Người anh dạy học, người em làm thầy thuốc để sống.

Cuộc sống tưởng bình yên nhưng thiệt ra đương bị bão ngầm, họ bị một gia đình láng giềng người lương – lúc đó kêu là người nội – xấu tánh lấn chiếm đất đai, hai bên do đó xích mích nhưng không bùng nổ.

Năm Kỷ Mùi 1858, khi người Pháp tiến đánh Cần Giờ, đồn thủ của triều đình Việt Nam tan tát, họ tiến tới vùng Tam kỳ – đồ chừng là vùng Tham Lương bây giờ – tới vùng ở của hai người nầy, hai người nầy cũng như bao nhiêu dân lành khác bỏ nhà cửa chạy trốn, nhưng khi người Pháp rút đi về đóng đồn ở vùng mới chiếm được và đã cảm thấy an toàn thì quan quân Việt trở lại vùng bỏ ngỏ đó.

Sau chiến tranh con người lâm vào tình trạng khốn khó do nhà cửa bị hư hại gia đình tan nát, kẻ mất người còn nên oán hận vu vơ. Kẻ xích mích kia tố cáo với chánh quyền sở tại mới tái lập rằng hai bổn đạo Biện Phương và Biện Du đầu Tây và có dẫn Tây tấn công đồn Việt.

 

Biện Du, Biện Phượng rõ ràng đầu Tây.

          Bội quân phản quấc như vầy,

Chúng tôi cáo bạch, ra đây tỏ tường.

          Hai người, hai ngựa dẫn đường,

Mai Sơn đồn ấy, Tây dương phá rày[5].                        

  
Cả hai bị bắt.

Sao bao tháng bị giam cầm tra tấn họ được tuyên bố trắng tội do giới chức làng xã ở đó chứng nhận rằng họ không có tội đầu Tây dẫn giặc. Tuy nhiên chánh quyền chuyển từ tội danh nầy sang tội danh khác nặng nề cũng không kém là tội theo tả đạo lúc đó đương là chánh sách quan trọng của triều đình.

Hai người Biện Phương và Biện Du được dụ khuyên bỏ đạo, bước qua thánh giá thì sẽ được thả ra nhưng hai người do có niềm tin lớn lao về tôn giáo của mình đã từ chối. Tội đầu Tây đã bị giam cầm tra khảo nhiều, nay bị chuyển qua tội tả đạo thì càng bị tra khảo nhiều hơn. Sau vài tháng thì địa phương chuyển sớ về triều đình tâu trình việc nầy.

 

Tỏ bày trong án như vầy,

Đầu Tây hướng đạo đủ đầy vấn minh.

          Cũng đà lũ thứ gia hình[6],

Ghe phen tấn khảo, hết tình xét tra.

          Khẩu chiêu, chứng cứ khai ra,                       415

Biện Du Biện Phượng thiệt là người ngay.

          Mắc chưng tả đạo tội rày,

Bất tuân xuất giáo, tấu rày thánh minh.

 

Thời chiến tranh, người theo đạo Da Tô không được cái nhìn thiện cảm từ triều đình vì các cha đạo thường liên lạc với Tây để nói chuyện xin khi hai bên đánh nhau, chừa ra ít gây tổn thương đối với bổn đạo, cho nên triều đình ra lịnh xử tử hai tội nhơn nói trên mà không cần cứu xét cẩn thận.

Cuối cùng thì vì Tây đánh vào vùng đó nên chánh quyền sở tại phải lùa những tội nhơn theo và để dễ dàng cho việc bôn tẩu, họ đã cho hành quyết nhiều người, trong đó có Biện Phượng và Biện Du.

Một người lính cựu đã tìm đến báo tin gia đình hai người nầy hay. Bà vợ của Biện Phương mời cha đạo đi với mình tới Ổ-Gà là nơi cuộc hành quyết được thực hiện và đã vùi dập thi thể tội nhân ở đây. Họ tổ chức lấy thây và dùng xe trâu đưa Sàigòn, vùng nhà thờ Chợ Quán lúc nầy thuộc chánh quyền mới mà gia đình của hai người nầy trú ngụ.

Một người con của Biện Phượng là Trịnh Khánh Minh về sau đã viết lại toàn bộ sự kiện chết chóc của của Biện Phương và Biện Du cũng như những gì mà Tòa Thánh đã tiến hành sau đó về sự kiện nầy trong quyển thơ của mình:  Biện Phượng và Biện Du là hai anh em tử vì đạo vãn, nhà in Tân Định xuất bản, Sàigòn, 1914. Tác phẩm gồm 725 câu lục bát.

Đây là một tác phẩm Công Giáo đáng được đem vào sách văn học Việt Nam vì ngoài tánh chất văn chương còn cung cấp được nhiều điều như sinh hoạt của người Công giáo, đạo sử, sử Việt giai đoạn đầu tiên lúc người Pháp tiến đánh Cần Giờ và con đường tiến quân của họ vô Sàigòn.

Bài học đưa ra là thời nào cũng có kẻ xấu, tố cáo bậy do lòng ghen ghét. Và thời nào cũng có tham quan bất tài, đánh giặc thì dở, cai trị thì không biết đầu đâu đuôi đâu của một vụ án mà hành dân thì ‘chuyên sâu’.

Xin giới thiệu toàn bản văn đã được đánh máy lại, dò cẩn thận và những chú giải cần thiết cho người đọc ngày nay.

Bài viết hôm nay chỉ có mục đích giới thiệu một tác phẩm Công Giáo, phần biên khảo về sử liệu, đạo sử… xin nhường cho những người khác.

  

NVS Victorville, CA, May-August 2021

 

VÃN                         

 

 

Thừa nhàn nhằm tiết thu thiên,

Trăng thanh gió mát, dựa hiên thơ phòng.

          Sẵn sàng nghiên bút, đèn chong,

Đêm thanh vắng vẻ, nên lòng không an.

          Nghiêng mình giấc điệp mơ màng,               5

Canh tàn thao thức bàng hoàng xót xa.

          Vội vàng ẩn bóng đèn hoa,

Xuống tay cất bút, diễn ca ít lời.

          Tử sanh hữu mạng lẽ đời,

Bâng khuâng nhớ tới, dạ thời xốn xang.             10     
Ngùi ngùi lụy ứa hai hàng,

Tích xưa nhớ lại, rõ ràng chép biên.

          Vắn dài đặt để ít thiên,

Nghĩ câu họa phước, lòng phiền thảm thương.

          Suy đi xét lại đoạn trường,                             15

Thỉ chung sự tích tỏ tường chép ra.

          Tiếng thường, quốc ngữ nôm na,

Lời quê ý cạn, góp mà thành chương[7].

          Có người ở huyện Bình Dương[8],

Trịnh ông mỹ hiệu[9], nghiệp thường nhu gia[10]         20

          Quê hương gốc tích đất nhà,

Tại nơi Chợ Quán, làng là Nhơn Giang.

          Kết cùng Huỳnh thị bạn vàng,

Tu nhơn tích đức, ơn ban phước nhà.

          Ông bà đạo đức hiền hòa,                              25

Trổ sanh vốn đặng vậy mà bảy con[11]

          Hai trai, năm gái vuông tròn,

Tử tôn miêu duệ[12], nay còn dấu noi.

          Kính tin đạo Chúa hẳn hòi,

Ơn trên Chúa cả sáng soi phù trì.                             30

          Kể đây hai đứng nam nhi,

Anh tên Khánh Phượng, em thì Khánh Du.

          Mẹ cha cũng lắm công phu,

Tập tành đạo đức văn Nhu[13] liền liền.

          Song thân thiệt đáng nhơn hiền,                    35

Chính dòng đạo cũ duy truyền hậu lai[14].

          Nền nhơn, cội đức, dồi mài,

Điều răn luật Chúa, hôm mai cần quyền[15],

          Lấy câu giáo huấn vi tiên[16],                          40

Hằng lo tập luyện giảng khuyên thường thường.

          Anh em vưng giữ[17] mọi đường,

Học hành lẽ đạo, lo lường cần chuyên[18].

          Vưng lời cha mẹ dạy khuyên,

Bé thơ tính nết, nhơn hiền thảo ngay.

          Khiêm nhường thuận thảo ai tày.                   45

Trên thì thờ Chúa, dưới rày thảo thân.

          Đêm ngày phụng dưỡng ân cần,

Tuổi khi khôn lớn, trăm phần lo toan.

          Vưng lời chịu lụy mọi đàng,

Chị em hòa nhã thuận thoàn yêu thương[19].           50

          Khiêm cung tính nết hiền lương,

Kính trên thuận dưới thường thường liệu toan.

          Hai người tướng mạo đoan trang,

Học hành thông thái, khôn ngoan nên người.

          Anh khi tuổi đã hai mươi[20],                           55

Nghi gia, nghi thất, an nơi cửa nhà.

          Tuổi em khôn lớn vửa qua,

Cũng là nghi thất, nghi gia an thành.

          Không hề chác lợi mua danh[21],

Ân cần kinh sử, đua tranh dồi mài.                          60

          Sách đèn, khuya sớm hôm mai,

Noi theo nghiệp phụ, không nài tân toan[22].

          Tửu, tài, khí, sắc, chẳng màng[23],

Ngũ quan nhiệm nhặt[24] sửa sang cửa nhà[25].

          Anh em tâm chất hiền hòa,                            65

Thi ân bố đức, cũng đà ghe phen.

          Ở ăn, bé kính, lớn khen,

Của nhà phú túc, sang hèn yêu đương.

          Xóm làng ai nấy đều thương,

An thường thủ phận, khiêm nhường dưới trên.   70

          Cậy trông ơn Chúa vững bền,

Cho nên Chúa cả, khiến nên phước lành.

          Bởi chưng quyết chí tâm thành,

Ngày sau Chúa thưởng thơm danh để đời.

          Đoạn nầy kể chuyện hai người[26],                   75

Ra làm việc trạm, đâu thời ít năm.

          Nhằm cơn bắt đạo hầm hầm[27],

Cha thầy khi ấy, đứng nằm không yên.

          Lánh thân ẩn dật liền liền,

Cũng như muông sói, tìm chiên bắt rày.                  80

          Biết bao nhiêu chuyện đắng cay,

Đường đi nước bước, thiệt gay quá chừng.

Đêm ngày tìm kiếm chẳng đừng,

Các nơi đồn thủ[28], nghiêm tuần xét tra.

          Anh em tánh trí thiệt thà,                               85

Chuyên lo việc trạm, quan mà yêu thương.

          Hết lòng cần mẫn khôn đương[29],

Giao cho ấn tích, lo lường phát phân.

          Thông hành cấp phái xa gần,

Cha thầy khi ấy đặng phần thảnh thơi[30].                    90

          Tới lui đồn thủ, các nơi,

Trình ra giấy trạm, khỏi thời xét tra.

          Lần kia việc rủi xảy ra,

Khi ông thánh Gẫm[31], giúp mà Nhà chung.

          Chở chuyên đồ lễ vật dùng,                           95

Rủi thời lại gặp ghe tuần thảm thay.

          Qua ghe chưa rõ gian ngay,

Nào hay xét đặng quả rày vật tang.

          Hỏi tra tờ, phái, rộn ràng,

Trong ghe khi ấy vội vàng trình ra.                        100

          Lính tuần vội vã xem qua,

Coi đi, coi lại tưởng là giấy gian.

          Thiệt là không phải phái làng,

Ai ngờ coi lại, rõ ràng trạm cho.

          Quân tuần chưa rõ căn do,                             105

Nghĩ rằng không lẽ, trạm cho như vầy.

          Bắt đem trở lại trạm nầy,

Đặng cho đội trạm hỏi rày cho minh.

          Anh em khi ấy thất kinh,

Lén vào thú tôi, sự tình chịu ngay.                           110

          Đội rằng: Việc thiệt cũng gay,

Bởi mình tin quá nên nay khó lòng.

          Tính bề lo dập mới xong,

Bằng không chẳng khỏi, mắc vòng liên can.

          Dỗ dành quân lính mưu toan,                         115

Nhét cho tiền bạc mới an việc nầy.

          Ngày qua tháng lại, năm chầy,

Anh em mới tính thôi rày cho yên.

          Làm đơn từ chức gởi liền,

Quan cho hồi tị[32] cửa quyền rảnh rang.                    120

          Giúp làm biện trạm mấy năm,

Bởi mình có đạo khó thăng chức quyền[33]. (1)

          Đương hồi cấm đạo chưa yên,

Về làm biện họ nhọc phiền giúp lo.

          Thiệt là nhiều nỗi cay co[34]                             125

Cha thầy giảng dạy gay go khôn cùng.

          Hương thôn ngoại đạo tứ tung,

Kiếm tìm moi móc, lạ lùng xiết bao.

          Cha thầy lui tới nhà nào,

Nghe tin đòi đến ào ào hỏi tra.                                 130

          Bạc tiền đúc nhét lòi ra,

Bằng không bắt buộc, ắt là lụy thân.

          Cha thầy cực khổ trăm phần,

Lòng thương giáo hữu, không cần tân toan[35].

          Ở đâu cũng chẳng đặng an,                            135

Ban ngày trốn lánh ẩn tàng luôn luôn.

          Uống ăn cũng ở trong buồng,

Bởi chưng làng tổng, rảo ruông[36] tối ngày.

          Thiệt bề giảng dạy khó thay,

Thường khi tế lễ thiệt rày đêm khuya.                           140

              Nay nhà nọ, mai nhà kia,

Bổn đạo lo lắng, phân chia giữ gìn.

          Nhứt là xem lễ đọc kinh,

Đêm khuya núp lén như hình kẻ gian.

          Rủi thì mắc phải tai nàn,                                 145                         

Liều mình chịu chết gian nan chẳng màng.

          Anh em hết dạ lo toan,

Việc đời, việc đạo nhiều đàng quanh co.

          Anh thì chuyên dạy học trò,

Em nghề làm thuốc ấm no thủ thường.                     150

          Dõi theo nghiệp phụ an khương,

Tránh vòng danh lợi, náu nương theo đời.

          Nào hay số mạng đổi dời,

Tang thương[37] thế cuộc, nghĩ thời xót xa.

          Anh em chuyện tích kể qua,                             155

Chịu tử vì đạo thiệt là thảm thương.

          Tử kì hữu định khôn lường,

Khi năm Mậu Ngũ, (1858) như thường bằng an.

Kỉ Vì (1859) năm ấy vừa sang,

Tháng giêng mùng tám rộn ràng binh nhung.          160

          Tư bề súng nổ đùng đùng,

Ai ai nghe cũng hãi hùng tâm kinh.

          Sau nghe mới rõ sự tình,

Lang sa Đại quấc, cử binh qua rày.

          Tàu đồng vào cửa nhắm ngay,                          165

Ầm ầm máy chạy khói bay tối trời.

          Cần Giờ đồn trại các nơi,

Bắn cho một hiệp tả tơi còn gì.

          Sẵn dèo[38] chạy thẳng Tam kỳ,

Hai bên giao khẩu đồn thì bắn tan[39].                         170

          Chạy sao không kể ngược ngang,

Xăm xăm lướt dặm chạy sang Sài gòn.

          Hai bên đồn lũy chẳng còn,

Quan quân tàn bại thon von[40] thảm sầu.

          Binh cơ chuyện ấy còn lâu,                                 175

Anh em bị nạn, bắt đầu kể qua.

          Có tên chức gián[41] kia là,

Vốn người ngoại đạo đất nhà giáp ranh.

          Lòng tham độc ác gian manh,

Đào mương lấn đất, hoành hành dọc ngang.           180

          Hiếp người[42] có đạo mọi đàng,

Bởi chưng than trách, nên mang oán thù.

          Xúi con hai đứa ác phu,

Tên Triều, tên Hiệu[43] phao vu bạo tàn.

          Làm đơn lên tỉnh cáo gian,                            185

Biện Du, Biện Phượng rõ ràng đầu Tây.

          Bội quân phản quấc như vầy,

Chúng tôi cáo bạch, ra đây tỏ tường.

          Hai người, hai ngựa dẫn đường,

Mai Sơn đồn ấy, Tây dương phá rày[44].                         190               

Điều trần các lẽ khai ngay,

Bẩm quan chước, lượng tỏ bày vấn minh,

          Quan nghe nào rõ chơn tình,

Án quan phát nộ, lôi đình ra oai.

          Tống tờ lập tức quan sai,                              195

Dạy chưng làng tổng bắt hai tên nầy.

          Mau mau đem nạp chớ chầy,

Nếu mà chậm trễ tội lây tổng làng.

          Tổng làng vưng thửa lịnh quan,

Bắt đem hai gã; vội vàng nạp ngay.                     200

          Thảm thương trời rộng đất dày,

Oan nầy ai biết ai hay cho tường.

          Bèn đem nạp tại tỉnh đường,

Án quan vội vã lo lường vấn tra.

          Án quan cứ trạng hỏi qua,                          205                     

Đầu Tây hướng đạo[45], khai ra cho tường.

          Việc nầy là việc quấc vương,

Nếu mà gian dối ắt vương khảo hình.

          Cả lòng[46] mãi quấc, cầu vinh,

Hai người mi khá tỏ tình khai ngay.                         210

          Anh em lời mới trình bày,

Bẩm quan thẩm xét phận này dân ngu.

          Chuyện nầy quả thật phao vu,

Quan trên rộng lượng phước dư nhờ rày.

          Lang sa khi đến nhẫn nay,                              215

Anh em tôi thật hằng ngày ẩn thân.

          Xin đòi hương chức thôn lân,

Đặng quan cực vấn, khỏi phần ức oan.

          Kêu xin chẳng kể, chẳng màng,

Án quan cứ việc vội vàng khảo tra.                          220

          Truyền quân mới dẫn đem ra,

Dây, nài, roi, nọc thấy mà gớm ghê.

          Căng ra hai gã giao kề,

Tấn qua một hiệp[47] không hề đoái thương.

          Đánh sao dường thể khai mương,                225

Thịt văng, máu chảy giống dường bằm nem[48].

          Mỗi người mấy chục đã thèm,

Đóng gông thiết diệp[49] dẫn đem ngục hình.

          Khổ hình độc dữ nên kinh,

Cổ mang gông lớn, xót tình thảm thay.                   230

          Chơn thì trăng vấn tối ngày,

Gian nan cực khổ đắng cay trăm đàng.

          Anh em thầm thĩ[50] kêu van,

Nguyện xin cùng Chúa vững vàng cậy trông.

          Khác nào trong chốn gai chông,                     235

Xin ơn Chúa giúp lập công tội mình.

          Ăn năn khóc lóc hết tình,

Phú trong tay Chúa, giữ gìn định phân.

          Cúi xin Đức Mẹ khoan nhơn,

Hộ phù thêm sức trong cơn nạn nầy.                 240

          Mẹ hằng ơn thánh dẫy đầy,

Chữa bàu hồn xác chịu rày bằng an.

          Sợ vì yếu đuối non gan,

Cậy trông Mẹ giúp ơn ban vững vàng.

          Bao nhiều hình khổ gian nan,                  245

Nếu không ơn Chúa, khôn đang[51] chịu rày.

          Cậy vì danh Chúa đêm ngày,

Rát rao đau đớn, đắng cay trăm phần[52].

Ít ngày đem tấn một lần,

Máu rơi thịt nát, châu thân rã rời.                  250

          Thịt da ai cũng là người,

Nghĩ lòng độc ác thiệt thời nên kinh.

          Án quan độc dữ thiệt tình,

Lần nầy tra khảo khổ hình thiết tha.

          Áp vào nài nọc căng ra,                          255

Giao kèo[53] cứ đánh thịt da còn gì.

          Biểu rằng: “Mau khá khai đi,

Đầu Tây sự tích sao mi chối hoài.”

          Anh em cũng cứ kêu nài,

Xin đòi lớn nhỏ lấy khai mới tường.                260

          Vốn không quen thuộc Tây dương,

Chúng tôi chưa thấy chán chường mặt Tây[54].

          Sự oan, sự ức như vầy,

Điều trần xin kể lẽ nầy thẩm minh.

          Dầu lòng mãi quấc cầu vinh,                  265

Theo Tây tùng sự nạn hình khỏi mang[55].

          Ngay gian xin hỏi tổng làng,

Đặng quan thẩm xét kẻo oan dân tình.

          Bé thơ thường đọc sử kinh,

Giữ câu trung nghĩa đinh ninh tỏ tường.          270

          Nghĩ câu thủy thổ quấc vương,

Trung quân ái quấc, mắc đường nạn tai.

          Án quan cứ việc ép hoài,

Khảo cho ra án[56] không nài nhọc công.

          Kêu nài oan ức như không,                    275

Tấn đi tấn lại chập chồng gớm ghê.

          Đánh rồi nhổ nọc tê mê[57],

Dạy khiêng vào ngục chẳng hề chút thương.

          Vợ con[58] châu lụy đoạn trường,

Thường đem cơm nước, lo lường thuốc thang     280

          Đau lòng xương nát, thịt tan,

Cang thường đòi đoạn, lụy thường chứa chan.

          Vì ai nên chịu ức oan,

Nghĩ bao nhiêu lại, xốn xang tức mình.

          Trách lòng quan chẳng xét minh,                285

Nghe chi đứa nịnh, vị tình đứa gian.

          Đương cơn binh cách rộn ràng,

Lạ sao chẳng chút lo toan chống kình.

           Quên câu thành bại, trọng khinh,

Sá chi tiểu sự, lấy tình ra oai.                                   290

          Thành trì tan nát xạc xài[59],

Đánh Tây thì dở, có tài đánh dân[60].

          Khảo tra chẳng biết mấy lần,

Ngày qua tháng lại không cần nhọc công.

          Lần nầy Án, Bố hiệp đồng[61],                      295

Quan quân rần rộ, não nồng xót xa[62].

Truyền quân thôi mới dẫn ra,

Biểu đem căng nọc[63], khảo tra dữ dằn.

Bố quan[64] lời mới nói rằng:

“Hai mi có đạo, chi bằng khai ngay.                           300

Đạo thường thông thuộc với Tây,

Nếu mà không chịu, thân bây còn gì.”

Anh em bẩm lại một khi,

Xin quan rộng lượng xét suy mấy lời.

Chúng tôi giữ đạo Chúa Trời,                        305

Không hề quen thuộc, vậy thời với Tây[65].

Bố quan lại nói lời nầy,

Hễ người có đạo ai rày cũng nghi.

          Làng mi người nội[66] thiếu gì,

Người ta không cáo, cáo thì hai bây[67].                       310

          Anh em bẩm thiệt khai ngay,

Xin quan đại độ, ví tày thân sanh.

          Danh Triều, danh Hiệu chẳng lành[68],

Đất nhà vốn ở giáp ranh kế vườn.

          Rào ngang lấy đất đào mương,                      315

Chúng tôi có đạo, không phương chống kình.

          Ỷ thân cậy thế hiếp tình,

Chúng tôi than trách, mới sanh chuyện này.

          Thừa cơn quấc loạn như vầy,    

Đầu đơn gian cáo, quan rày ắt tin.                           320

          Ghe phen cũng đã nài xin,

Cho đòi hương hương chức, vấn minh rõ ràng.

          Đầu Tây, hướng đạo cầu sang,

Nếu ai ngó thấy, cam đoan tử hình.

          Bố quan nghe nói tình hình,                           325

Dạy đòi làng tổng vấn minh cho tường.

          Đòi người trưởng thượng thôn hương,

Kịp kì tựu tới lo lường xét tra.

          Bố quan lời mới hỏi qua,

Chúng bây có thấy khai mà cho ngay.                     330

          Biện Du, Biện Phượng đầu Tây,

Đem binh hướng đạo khai đây tỏ tường,

          Hai người hai ngựa dẫn đường,

Đồn kia, đồn nọ Tây dương phá rày.

          Tổng làng hương chức trình bày,                   335

Chúng tôi không thấy khai ngay rõ ràng.

          Thuở nay ở tại trong làng,

Thiệt người lương thiện, không màng lợi danh.

          Anh em vốn thiệt người lành,

Chắc rằng: Không lẽ sự sanh bao giờ.                      340

          Quan nghe không lẽ làm ngơ,

Bắt qua việc đạo, bắt quờ thảm thay[69].

          Chứng rằng: Mi thiệt người ngay,

Chúng bay lại mắc phạm nay luật hình[70].

          Luật điều quấc cấm nghiêm minh,                 345

Da tô tả đạo, cố tình chấp nê.

          Thôi thì xuất giáo một bề,

Trọn câu trung nghĩa, tha về an thân.

          Anh em khi ấy bẩm trần[71],

Xin quan thẩm xét, thi ân phước rày.                       350

          Chúng tôi giữ đạo thuở nay,

Bây giờ không lẽ đổi thay sao đành.

          Đạo dạy, lánh dữ làm lành,

Chúng tôi thờ kính lòng thành chẳng sai.

          Quan rằng: “Đừng nói dông dài,                    355

Gia hình coi thử, nói hoài mất công.

          Hỏi rằng: “Mi bỏ đạo không?

Nếu mà nê cố[72], khó trông mạng toàn.

          Bẩm rằng: “Nhờ lượng nhà quan,

Giết tha hai lẽ, không đang bỏ rày[73].                     360

          Biểu đam thánh giá đặt bày,

Dạy quân nhổ nọc[74] hối rày bước qua.

          Anh em thôi mới dang ra,

Truyền quân áp đánh, ép mà bước đi.

          Hai người cứ việc đứng trì[75],                        365

Chết thì cam chịu, mặc thì lượng quan[76].

          Trong lòng thầm thĩ[77] thở than,

Nguyện xin cùng Chúa ơn ban phước lành.

          Các quan ép uổng chẳng thành,

Dạy đem về ngục, chưa thanh việc gì[78].                 370

          Anh em lòng những sầu bi,

Cầu xin cùng Chúa giúp thì cho qua.

          Khỏi vòng lưới quỉ tà ma,

Cam lòng chịu chết đặng mà lập công.

          Các quan thôi mới hiệp đồng,                        375

Tổng đốc, Bố, Án[79], ba ông hội tề.

          Lọng tàn quân lính bộn bề,

Gươm trần, giáo đổng[80] hầu kề oai nghi.

          Truyền đem hai gã kịp thì,

Biện Du, Biện Phượng đặng thì khảo tra.                380

          Thượng quan lời mới nói ra,

Thôi bây xuất giáo, ta tha cho về.

          Giữ theo Phật đạo trọn bề,

Thì bây khỏi tội chấp nê làm gì.

          Hai người bẩm lại tức thì,                              385

Xin quan độ lượng xét suy thửa tình[81]?

          Chúng tôi thờ Chúa chí linh,

Lẽ nào lại bỏ, cao minh nhờ cùng.

          Quan rằng: “Bây chẳng thuận tùng,

Nhà ta không lẽ thứ dung gia hình.                          390

          Có quan Ty án thương tình,

Từ hàn là chức, thiệt tên Nguyễn Tường[82]?

          Có lòng lân mẫn[83] lo lường,

Kiếm lời can gián, tìm phương tỏ bày.

          Khảo hình ép uổng xưa rày,                 395

Luống công[84] vô ích, hắn nay quyết lòng.

          Lo bề kết án cho xong,

Tra đi hỏi lại lòng vòng mất công.

          Đầu Tây hướng đạo dầu không,

Tội không xuất giáo[85], khó trông khỏi rày.            400

          Trọng khinh chẳng khỏi lưu đày,

Lẽ không án tử, mặc tày thượng quan.

Mấy lời phân giải rõ ràng,

Các quan nghĩ lại thiệt càng lạ thay.

Da tô tả đạo thuở nay                                     405

Thuốc chi hắn uống mê say dị kỳ.

Uống rồi nó bắt ngu si,

Trọng là phụ mẫu thê nhi chẳng màng.

          Các quan hiệp ý luận bàn,

Lo bề kết án cho an việc nầy.                                  410

Tỏ bày trong án như vầy,

Đầu Tây hướng đạo đủ đầy vấn minh.

          Cũng đà lũ thứ gia hình[86],

Ghe phen tấn khảo, hết tình xét tra.

          Khẩu chiêu, chứng cứ khai ra,                       415

Biện Du Biện Phượng thiệt là người ngay.

          Mắc chưng tả đạo tội rày,

Bất tuân xuất giáo, tấu rày thánh minh.

          Án rồi chạy sớ[87] về kinh,

Trông ơn chước lượng, trọng khinh chưa tường.          420

          Có nhiều quan khác lòng thương,

Thường vào tại chỗ khám đường thăm chơi.

          Biết chưng lẽ đạo ít hơi,

Cho nên chuyện vãn, lấy lời ủi an.

Anh em sao chẳng tính toan,                          425

Để chi mà chịu gian nan quá chừng.

          Luật điều, có tội thì xưng,

Nói qua một tiếng, khỏi chưng tội rày.

          Hai người vốn thiệt tôi ngay,

Chúng ta thương mới vẽ bày liệu toan.                    430

         Bẩm rằng: Cám ngãi nhà quan

Anh em tôi quyết, cho an lòng thành.

          Thế thường úy tử tham sanh,

Chết vì đạo Chúa, thơm danh đời đời.

Các quan nghe bấy nhiêu lời,                       435                   

Khen người có đạo dạ thời chánh trung.

Ơn riêng Chúa xuống lạ lùng,

Đức tin mạnh mẽ không cùng thảm thương.

          Quyết lòng dứt bỏ cang thường,

Vợ con thơ ấu trăm đường đắng cay.                     440
Nguyện cầu cùng Chúa đêm ngày,

Giúp cho bền vững, sợ rày non gan[88].

          Biết bao nhiêu chuyện gian nan,

Đã hơn bảy tháng chưa an việc gì[89].

          Vua quan lòng những hồ nghi,                  445

Con nhà có đạo thông thì với Tây.

          Lớp thì chém, lớp thì đày,

Khắp trong Lục tỉnh chịu rày xót xa[90].

          Thảm thương tại tỉnh Biên Hòa[91],

Bắt người có đạo biết là bao nhiêu.                     450

          Lập ra khám ngục đã nhiều,

Xung quanh chất bổi đốt thiêu cháy tàn.        .

          Xác phàm đều đã tiêu tan,

Linh hồn về chốn thiên đàng hiển vinh.

          Quên câu thiện ác bất minh,                    455

Trăm ngàn có đạo thiệt tình thác oan.

          Bởi lòng độc dữ các quan,

Khiến cho nên nỗi bại tàn quấc gia[92].

          Đoạn nầy chuyện án kể qua,

Đâu chừng một tháng Sớ mà gởi vô[93].             460

          Phàm như tả đạo Da tô,

Bất khẳng xuất giáo[94], quả đồ bội quân.

          Luật hình cứ phép nghiêm trừng,

Nghi hành trảm quyết, khá tuân thi hành.

          Châu phê thánh chỉ đành rành,             465

Đương hồi binh cách tương tranh rộn ràng.

Các đồn Tân Thứ tan hoang[95],

Quan quân khí giái, dời sang Thuận Kiều[96].

Tội nhơn có đạo bao nhiêu,

Đem cầm tại đó, ngõ điều binh thơ.                  470

Thạnh suy tại bởi thiên cơ,

Nghĩ rằng: Châu chấu bao giờ chống xe.

Mảng lo võng lọng tàn che,

Tiểu thương, hỏa hổ, giáo tre làm gì.[97]

Anh em lòng những sầu bi,                     475

Đem cầm tại đó xiết chi buồn rầu.

Vợ con châu lụy thảm sầu,

Thường lên thăm viếng lo âu nỗi chồng.

Sợ khi binh tới giao công,                        

Lấy đồn bắn phá, ắt chồng thác oan                  480.

          Đến cùng cha sở[98] thở than,

Xin cha định liệu cứu an thân chồng.

          Cha rằng: Thiệt vậy chẳng không,

Việc nầy ta phải hiệp đồng Đức Cha[99]

          Tâm tình mọi nỗi thưa qua,                    485

Đức Cha nghe vậy thiệt mà thảm thương.

          Người bèn định kế lo phương,

Dặn dò cha sở tỏ tường đinh ninh.

          Đức Cha dặn bảo quan binh,

Khi nào kéo tới, thân chinh đồn nầy[100].                 490

          Cứu người có đạo cầm đây[101],

Dấu riêng dặn trước cho hay kẻo lầm.

          Sợ cơn hỗn độn bắn nhằm,

Hễ người có đạo tay cầm khăn vuông.

          Giơ lên làm dấu ra tuồng[102],                 495

Gặp đâu cứu đó khỏi đường thác oan.

          Dặn dò các việc đã an,

Quan binh sắp đặt sửa sang kịp kỳ.

          Bày hàng đội ngũ kéo đi,

Thuận Kiều đồn ấy quyết thì lấy luôn.               500

          Binh nhung lẫm liệt oai phuông,

Ngàn binh trăm tướng, tráng cường qua mâu,

          Đạo binh mã kị đi đầu,

Bộ binh vừa tới tại cầu Tham Lương,

          Cầu đà triệt phá ngăn đường,                  505

Trời thì gần tối không phương qua rày.

          Lui binh trở lại thảm thay,

Nghĩ câu số mạng, đổi rày đặng đâu[103].

          Thiệt là vô sở đảo cầu,

Bởi chưng Chúa định, đáo đầu chẳng sai,            510

Anh em thở vắn than dài,

Phải chi binh tới, nạn tai khỏi rồi.

          Ăn năn khóc lóc bồi hồi,

Mạng chung chẳng khỏi ôi thôi! Còn gì.

          Quan quân[104] sắm sửa kịp thì,                         515

Nội đêm rút hết bỏ thì đồn không.

          Đường trường dặm cũ thẳng xông,

Bôn ba đào tị[105] gai chông kể gì.

          Không lo lửa cháy thiêu mi,

Mấy người có đạo cũng thì dắt theo.                      520

          Đương cơn gấp rút ngặt nghèo,

Giữ người có đạo như keo không rời.

          Tới đồn Tây Thới nghỉ ngơi,

Các quan định tính dạy lời truyền ra.

          Mấy người có đạo dẫn qua,                         525

Ổ-Gà truông[106] ấy chém mà cho mau.

          Lạ sao chẳng chút lòng đau,

Chém rồi quân lính đam nhau chạy liền.

          Cám thương hai đấng nhơn hiền,

Biện Du, Biện Phượng hồn thiên cõi trời[107].               530

          Chực hầu Chúa cả ba ngôi,

Hưởng đầy phước lộc đời đời hỉ hoan.

          Thảm thương thân xác chẳng an,

Chém rồi moi lỗ lấp ngang sơ sài.

          Bửng tưng[108] vừa rạng ngày mai,             535

Có tên lính cựu[109] không nài nhọc công.

          Chạy về Chợ Quán tin thông,

Khi bà Biện Phượng hay chồng sự duyên.

    Khóc than khôn xiết nỗi phiền,

Hai hàng châu lụy như nghiêng nước bình[110].    540

          Đau lòng li biệt bức tình,

Đoạn trường, trường đoạn vật mình ngửa nghiêng.

          Xác chồng về đặng mới yên,

Riêng than thầm tính xót phiền xót xa.

          Đến cùng cha sở thưa qua,                         545

Sự chồng mọi nỗi xin cha tính giùm.

          Khóc than không xiết, không cùng,

Đem về cho đặng xác chồng mới an.

          Ròng ròng nước mắt hai hàng,

Lạy cha xin giúp lo toan cách gì.                            550

          Cha nghe lòng cũng sầu bi,

Để cha định liệu con thì chớ lo.

          Song cha biết việc cam go,

Cầu xin cùng Chúa giúp cho an thành.                   555

          Sợ còn quan cựu vây quanh,

Phú trong tay Chúa tử sanh kể gì.

          Cha bèn sắm sửa kịp kỳ,

Tùy tùng nan thát[111] tức thì trẩy sang.

          Có tên lính cựu đem đàng[112],                      560

Xế chiều vừa tới nơi làng Hốc Môn.

          Bèn vào Tây Thới tại đồn,

Cho đòi chức việc Hương thôn Thới Nhì[113].

          Xã hương tựu tới tức thì,

Tưởng là quân cựu người đi việc gì.                       565

          Cha truyền chức việc một khi,

Mua hòm hai cái tức thì chớ lâu.

          Cấp đem hai cỗ xe trâu,

Nội giờ cho có ta hầu liệu toan.

Hòm xe làng cấp đã an,                                570

Cha bèn dìu dắt trẩy sang Ổ-Gà[114].

          Cách đồn Tây Thới chẳng xa,

Lính kia bèn chỉ chỗ mà chém đây.

          Xúm nhau đào quyết huyệt nầy[115],

Cha nhìn quả thiệt chắc rày chẳng sai.                   575

          Mặt nhìn, hình dạng cả hai,

Bèn lo sắp đặt an bài cho yên.

          Sửa sang quần áo liệm liền,

Vầy đoàn lập tức lên yên trở về.

          Tùng nhơn[116] nối gót kịp kề,                      580

Theo hai xe xác không nề nhọc thân.

          Một đoàn xe ngựa hầu gần,

Tới nơi Chợ Quán mảng phần canh ba[117].

          Bèn đem hai xác vào nhà,

Vợ con thảm thiết chan hòa châu rơi.                     585

          Ruột tầm từ đoạn rã rời,

Vì ai nên nỗi đất trời rẽ phân.

           Công cha cực khổ trăm phần,

Cúi đầu lạy tạ lụy dầm nhỏ sa.

          Đau lòng chí thiết, chí tha[118],                     590

Hết lòng cám đội ơn cha quá chừng.

          Kêu vang than khóc chẳng đừng,

Thở than, than thở không cùng xót xa.

          Ròng ròng châu lụy nhỏ sa,

Xốn xang bức tức[119] xót xa khôn lường.               595

            Bà con, cô bác thảm thương,

Vây quanh than khóc đoạn trường lụy rơi.

            Đương hồi chưa đặng thảnh thơi[120],

Ngày sau hai xác đem nơi thánh đàng.

            Lễ mồ lễ hát[121] nhặt khoan,                       600

Việc xong lễ nhạc rỡ ràng oai nghi.

            Họ hàng quới chức đồng nhi,

Đều cầm đèn sáp đưa thì cũng đông.

            Dọn hai bộ rạp âm công,

Khiêng đi một lượt đèn bông chật đàng.                605

            Bạch cờ, trướng vãn hai hàng,

Bàn đưa mấy cái nghiêm trang chỉnh tề.

            Cha thầy giáo hữu hầu kề,

Đưa xác tử đạo trọn bề lễ nghi.

            Tống chung đưa đón kịp kỳ,                       610

Tại nền thờ cũ[122] chôn thì an nơi.

            Vợ con châu lụy tuôn rơi,

Than van kêu khóc rã rời phế can.

            Vì ai phân cách hai đàng,

Tưởng bao nhiêu lại dạ càng thêm đau.                  615

            Đêm ngày vắng trước quạnh sau,

  Vợ con chiu chít bỏ nhau sao đành.

            Lời nguyền đồng tử, đồng sanh,

Riêng than một tấm lòng thành mới ưng.

            Quyết lòng tùng nhứt nhi chung[123],         620

Giữ câu trọn đạo tam tùng khăng khăng.

            Cửa nhà nhện đóng tứ giăng,

Vò vò[124] xây tổ lăng xăng tứ bề.

Mấy vuông vườn đất giao kề,

Cây sầu dã dượi ủ ê dàu dàu.                                 625

            Nghĩ thôi ruột lại thêm đau,

Phòng loan vắng vẻ biết bao nhiêu phiền.

            Hết lòng ra sức khẩn nguyền,

Thỉ chung như nhứt mới yên lòng thành.

            Cám ơn Chúa cả lòng lành,                        630

Hộ phù giúp sức việc thanh xác hồn.

            Thanh sơn thủy lục thường tồn,

Hết lòng cám đội công ơn cha rày.

            Nguyện xin Chúa cả cao dày,

Xuống ơn phù hộ hằng ngày bình an.                     635

            Đêm ngày lòng những thở than,

Tưởng thôi nghĩ lại ruột gan rã rời.

            Đến năm ngàn tám bảy mươi, (1870)

Giáo hoàng đương trị tại thời Rô Ma[125].

            Lập ra một hội thanh tra,                            640

Công đồng hiệp nghị gởi qua Nam Kỳ[126].

            Xét tra tử đạo các vì,

Khắp trong Lục tỉnh hỏi thì cho minh[127].

            Xét tra sự tích tử hình,

Biện Du, Biện Phượng đinh ninh tỏ tường.            645

            Có cha bổn sở lo lường,

Lấy khai chứng cớ mọi đường chẳng sai.

            Hỏi rồi các việc an bài,

Ký biên phiến tấu đệ lai thánh hoàng[128].

            Giáo hoàng xem xét rõ ràng,                      650

Châu phê hạ chỉ gởi sang tức thì.

            Bề trên địa phận Nam Kỳ,

Phải lo lấy cốt giữ thì kỹ cang.

            Các hàng tử đạo thác oan,

Liều mình vì Chúa vẹn toàn tôi ngay.                    655

            Lấy rồi biên ký sắp bày,

Châu thân hài cốt giữ rày kỹ cang.

            Đức cha vưng thửa lịnh troàn[129],

Dạy cha bổn sở lo an mọi bề.

            Đào lên hai xác khiêng về,                         660

Nhà thờ Chợ Quán đề huề giở ra.

            Có quan thầy thuốc Lang sa,

Hiệp đồng khán nghiệm[130] thật là kỹ cang.

            Vợ con châu lụy chứa chan,

Chín chìu ruột thắt bàng hoàng[131] xót xa.             665

            Đức Cha truyền dạy các cha,

Lượm xương cẩn thận rửa mà sạch tinh[132].

            Các cha vưng thửa hết tình,

Lượm ra kỹ lưỡng giữ gìn lo toan.

            Gói ra từ gói kỹ cang,                                 670

Châu thân hài cốt sửa sang rõ ràng.

            Để vào trắp nhỏ[133] đã an,

Niêm phong ấn tích nghiêm trang quá chừng.

            Xong rồi lễ tạ hát mừng,

Rập ràng ca xướng lẫy lừng oai nghi.                    675

            Họ hàng mừng rỡ xiết chi,

Vợ con khi ấy dạ thì bâng khuâng.

            Đau lòng thảm thiết chẳng đừng,

Ngùi ngùi tưởng lại, nửa mừng nửa thương.

            Đức Cha lui gót bổn đường,                       680

Dạy đem hai xác tại trường La tinh.

            Giude nhà thánh hậu dinh,

Trí yên tại đó giữ gìn an nơi.

            Công cao đức trọng hai người,

Liều mình đổ máu thiệt thời tôi ngay.                    685

            Đẹp lòng Chúa cả vậy thay,

Thánh tòa nghĩ nghị chờ ngày tặng phong.

            Xưng ra đạo Chúa hết lòng,

Lập công một thuở thoát vòng trần gian.

            Hai người rày đã khởi hoàn[134],                  690

Toàn công thắng trận danh vang cõi trời.

            Sáng danh Chúa cả trọng đời,

Muôn vàn thần thánh đều thời hỉ hoan.

            Linh hồn về chốn thiên đàng,

Hằng ngày chầu Chúa hiển vang đời đời.               695

            Xác phàm rày đã an nơi,

Hết lòng cám tạ Chúa trời ba ngôi.

            Vậy nay giáo hữu chúng tôi.

Hết lòng tin kính tỏ lời nguyện xin.

            Cầu cùng hai đứng hết tình,                        700

Nguyện cầu bàu chữa giữ gìn chúng ta.

            Trước chưng Chúa cả thiên tòa,

Ban ơn phò hộ thói tà lánh xa.

            Tránh vòng thế tục thù ba[135],

Thêm lòng sốt sắng giữ mà đạo nên.                      705

            Cậy tin mến Chúa vững bền,

Noi gương đứng ấy[136] ngỏ đền tội khiên.

            Khổ hình vì Chúa chớ phiền,

Lập công đền tội cần chuyên hãm mình.

            Nguyện cầu Đức Mẹ hết tình,                     710

Bền lòng sốt sắng kính tin vững vàng.

            Thế gian nhiều nỗi gian nan,

Xin ơn Mẹ giúp ủi an phù trì[137].

            Có câu sanh ký tử quy,

Đêm ngày ma quỉ nó thì vây quanh.                      715

            Rình mò ra sức dỗ dành[138],

Cậy trông ơn Chúa lòng thành đừng sai.

            Cúi xin Đức Mẹ cầu thay,

Biết đàng lánh tội hôm mai giữ gìn.

            Hầu sau lên chốn thiên đình,                      720

Ấy là quê thật trường sinh đời đời[139].

            Kính tôn Chúa cả ba ngôi,

Hiệp vầy hai đứng tại nơi thiên đàng[140].

            Linh hồn rày đã hiển vang,

Hằng ngày vui vẻ hỉ hoan chẳng cùng.                  725

 

HẾT

             



[1] Những tác phẩm nhằm nói về lý thuyết đạo dạy cho bổn đạo chúng tôi không nhắc tới vì ngoài phạm vi văn học như:

  • Thánh giáo Yếu lý Tam Giải của Phao lồ Qui, SG, Tân Định 1939
  • Đạo Kirixito của Jacques Lê Văn Đức, Qui Nhơn 1931

[2] Ông Lê Văn Đức nầy là học trò của ông Trương Vĩnh Ký, năm 1930, khi lễ khánh thành bức tượng của Trương Vĩnh Ký ở Sàigòn ông có viết bài trên báo lúc đó kể hành trạng của thầy mình. Xem Nguyễn Văn Sâm, Trương Vĩnh Ký, Người Yêu Nước. Ngôi biệt thự tư gia của ông ở Mỹ Tho trên đường Charles Thomson (Trương Vĩnh Ký) sau hai ba đời thừa kế, đến 1/5/1975 trở thành nhà Bảo tàng tỉnh nay còn nguyên vẹn.

[3] Cả câu: Đương lúc bắt đạo thái quá. Hầm hầm: Nóng quá, biểu lộ sự giận dữ nhiều. Mặt giận hầm hầm.

[4] Đồn: Trạm canh phòng, tra xét trên đường bộ. Thủ: Trạm tra xét dưới sông. Nay còn nghe tên: Thủ Thiêm, Thủ Đức, Thủ Dầu Một, Thủ Ngữ, Thủ Huồng.

[5] Đầu Tây hướng đạo: Dẫn đường cho quân Pháp.

[5] Cả lòng: Lớn gan, lớn mật.

[6] Lũ thứ gia hình: Tra khảo nhiều lần. Lũ thứ như chữ ghe thứ, ghe phen. HTC, Lũ thứ: Nhiều lần, nhiều phen.

[7] Tác giả nói lời khiêm nhường như bao nhiêu tác giả khác nhưng ở đây xác định rõ ràng hơn: dùng tiếng thường cho dễ hiểu, viết bằng chữ Quốc ngữ tuy rằng lúc đó chữ Nôm vẫn còn thạnh hành. Dầu sao trong đạo, chữ QN cũng thông dụng hơn và có truyền thống sử dụng từ thời của Philiphê Bỉnh trước đó mấy thế kỷ.

[8] Nguyên chú: Khi cựu trào thì Nam Kỳ lục tỉnh huyện Bình Dương nầy thuộc về tỉnh Gia Định, phủ Tân Bình, tổng Dương Hòa Trung.

[9] Mỹ hiệu là cách nói tôn trọng cho chữ hiệu là, tên là, nguyên văn viết Mỹ hiệu, chúng tôi sửa lại là mỹ hiệu, không viết hoa.

[10] Nguyên chú: Ông Trịnh Khánh Vân nầy vốn là người hiền đức lắm, về chữ Nho thì thông thái cho nên chuyên một nghề dạy học trò, bởi nhờ đức người, có nhiều kẻ đậu bực Cử Nhơn, Tú Tài.

[11] Nguyên chú: Con đầu lòng (thứ hai) Trịnh Thị Huệ, (thứ ba) Trịnh Thị Lang, (thứ tư) Trịnh Khánh Phượng (Vinhsenté), (thứ năm) Trịnh Thị Thị, (thứ sáu)  Trịnh Khánh Du (Dominico) (thứ bảy ) Trịnh Thị Hiệp, (thứ tám ) Trịnh Thị Lý.

[12] Miêu duệ  苗裔: Con cháu, dòng họ. Bản Quốc Ngữ (QN) miêu dệ, cách nói của người Nam

[13] Văn Nhu: Văn chương, chữ nghĩa. Chữ Nho.

[14] Nhà họ Trịnh là đạo gốc lâu đời.

[15] Cần quyền: Chu đáo, chân thành. Nguyên câu: Luôn luôn tuân thủ theo lời răn dạy của luật Chúa.

[16] Giáo huấn vi tiên: Dạy dỗ là điều đầu tiên.

[17] Vưng giữ: Vâng giữ, tuân theo, giữ gìn điều phải.

[18] Lo lường cần chuyên: Luôn luôn chuyên cần. Lo lường tức lo lượng, định liệu.

[19] Thuận thoàn yêu thương: Thuận thuần yêu thương, thương yêu thuận thảo, thuần hậu.

[20] Nguyên chú: Anh tên là Vinsentê Trịnh Khánh Phượng, phối hiệp cùng bà Nguyễn Thị Tình ở tại Thủ Dầu Một, có sanh ra đặng bốn trai một gái, con đầu lòng là thứ hai Trịnh Khánh Biểu qua đời thuở niên ấu. Con thứ ba Trịnh Khánh Xiêm có làm biện họ cho tới chức ông Trùm. Con thứ tư Trịnh Thị Mon chết hồi còn nhỏ. Con thứ năm Trịnh Khánh Minh có làm việc nhà nước tới chức thông phán, bị đau con mắt hưu trí, nhà nước có thưởng chức Tri phủ (honoraire). Con thứ sáu Trịnh Khánh Tần, có làm việc nhà nước, ít năm sau về làm việc họ tới chức ông Trùm, nhà nước có cho chức Tri huyện honoraire. Ông Trịnh Khánh Phượng khi chịu tử vì đạo 41 tuổi. Em là Giude Trịnh Khánh Du kết bạn cùng bà Trần Thị Tú ở tại họ Tân Triều sanh ra đặng một trai hai gái, người con đầu lòng là thứ hai tên là Trịnh Khánh Trung có làm việc nhà nước. Con thứ ba là Trịnh Thị Cẩm. Con thứ tư là Trịnh Thị Đường. Ông Trịnh Khánh Du khi chịu tử vì đạo 37 tuổi.

(NVS, Vậy ông Trịnh Khánh Minh, tác giả cuốn sách nầy, là con của Trịnh Khánh Phượng. Khi cha ông bị nạn năm 41t, chắc ông đã thành nhân nên những chi tiết đưa ra có thể tin tưởng được). 

[21] Chác lợi mua danh: Tìm kiếm danh lợi. HTC, Chác lợi: Đua chen làm cho sanh lợi. Chác: từ xưa có nghĩa là tìm tòi, đa mang.

[22] Tân toan: Sự khổ cực cay đắng.

[23] Cả câu: Không ham những điều làm cho mình hư đốn như rượu chè, cờ bạc, á phiện, trăng hoa.

[24] Ngũ quan nhiệm nhặt: Giữ gìn ngũ quan để không sa đà vô những ham mê tầm thường. Ngũ quan lo lường để tránh là 1. mắt không thích nhìn cái đẹp, cái sắc, 2. tai không nghe tiếng xấu, tiếng chửi, 3. mũi không thích hưởng mùi thơm, 4. miệng không thích món ngon vật lạ, 5. da thịt không ham những rờ mớ mơn trớn dịu dàng, cảm quan của xác thịt… Tất những thứ do ngũ quan cho được mà khiến ta ham mê đều dẫn đến những sa đọa tội lỗi.

[25] Sửa sang cửa nhà: Có thể hiểu thân thể con người như cái căn nhà của người đó, giữ gìn, sửa sang để khỏi hư hại do những thói xấu đem tới.

[26] Nguyên chú: Hai anh em có ý ra làm việc trạm cho đặng giúp nhà chung cha thầy đi đâu có giấy trạm, thì đồn thủ, không tra xét, trạm nghĩa là lo việc thơ tín cho quan mà thôi.

[27] Cả câu: Đương lúc bắt đạo thái quá. Hầm hầm: Nóng quá, biểu lộ sự giận dữ nhiều. Mặt giận hầm hầm.

[28] Đồn: Trạm canh phòng, tra xét trên đường bộ. Thủ: Trạm tra xét dưới sông. Nay còn nghe tên: Thủ Thiêm, Thủ Đức, Thủ Dầu Một, Thủ Ngữ, Thủ Huồng.

[29] Cần mẫn không đương: Chăm chỉ nhiều, không ai bằng.

[30] Cha thầy đi qua hai ông không xét hỏi cặn kẻ mà còn cấp giấy để đi những trạm khác được thông qua..

[31] Thánh Gẫm: Người tử đạo trước hai ông nầy, hiện Sàigòn còn có đền thờ ở đầu đường Võ Tánh gần Ngã Sáu Sàigòn. Trong khuôn viên nhà thờ Huyện Sĩ còn có di tượng của ông nầy. Sách đạo đã lưu hành cuốn Truyện Á Thánh Gẫm (Xem trong Namkyluctinh.org). Con cháu Á Thánh Gẫm cũng thuộc hàng rân rác ở Sàigòn trước 1975, có người làm Luật sư Đại Sứ có người làm Thứ Trưởng…

[32] Hồi tị: Từ chức vì xung đột quyền lợi và chức vụ. Đây có nghĩa là từ chức.

[33] Nguyên chú: Khi ấy người có đạo không làm chức lớn đặng, nếu làm chức lớn thì phải quì thần bái xã (làm cùng cấp) trước khi thôi thì hai anh em lấy con dấu trạm đóng vô giấy trắng, để giúp cho cha thầy đi thông hành. (NVS, Biện trạm: Như chức thơ ký coi giấy tờ trong trạm canh).

[34] Cay co: Nguyên nghĩa là cay nồng, nghĩa rộng là khó khăn phải vượt qua. Như nghĩa gay go ngày nay.

[35] Không cần tân toan: Không để ý đến sự khó khăn cực khổ.

[36] Rảo ruông: HTC, Ruông (n.): Ruồng vào, thâu qua, luồng vào. Rảo ruồng theo cách nói ngày nay.

[37] Nguyên chú: Tang điền, thương hải, ruộng dâu hóa ra biển, biển hóa ra ruộng dâu, nghĩa là  (cuộc đời đổi dời).

 

[38] Sẵn dèo: Luôn dịp, sẵn dịp.

[39] Bắn tan tành mấy đồn trấn hai bên cửa khẩu của Tam Kỳ.

[40] Thon von: HTC, cheo leo, nguy hiểm, gian nan.

[41] Nguyên chú: Cha con tên nầy thiệt rất độc ác cho nên cả lòng vu cáo hai ông nầy, bởi vậy khi thấy thành đồn tan nát, quan cựu rút đi hết thì cha con, chồng vợ bỏ nhà đất trốn đi mất, biệt tông tích cho đến bây giờ. (năm tác giả viết chuyện nầy, NVS) (Không hiểu còn sống chết và trôi nổi xứ nào? NVS, Chức gián, không hiểu là chức gì?)

[42] Hiếp: Ức hiếp.

[43] Nguyên chú: Tên Hiệu, hoặc kêu tên Năng

[44] Vu cáo rằng hai người Biện Phượng và Biện Du dẫn đường cho người Pháp lấy đồn Mai Sơn.

[45] Đầu Tây hướng đạo: Dẫn đường cho quân Pháp.

[46] Cả lòng: Lớn gan, lớn mật.

 

 

[47] Tấn qua một hiệp: Đánh một hồi. Tấn trong nghĩa tra tấn. Gần đây nói tiếng lóng là tẩn. Đem nó về tẩn cho một hồi là khai hết!

[48] So sánh quá hay, đánh như bằm thịt làm nem.

[49] Nguyên chú: Sắt lá, hễ khi nào tội gì nặng thì gông lớn và có kèm sắt lá theo mấy thanh gông (nên gọi là gông thiết diệp).

[50] Thầm thĩ: HTC, Nói lầm thầm, nói trong miệng.

[51] Khôn đang: Khôn đương, đây có nghĩa là không thể chịu đựng được.

[52] Hai câu: Trong khi đau đớn do nhục hình, hai người vẫn niệm danh Chúa.

[53] Giao kèo: (?)

[54] Chưa thấy chán chường mặt Tây: Chưa thấy rõ mặt người Pháp nào, nghĩa là không có đầu Pháp, dẫn giặc như bị tố cáo.

[55] Hai câu: Nếu tôi bán nước theo giặc Pháp thì đã theo họ làm việc đâu có bị nhục hình như thế nầy.

[56] Khảo cho ra án: Không có đánh cho có. Giống như thời nay!

[57] Nguyên chú: Khi hai anh em bị tấn khảo nhiều lần thì vợ con đem tiền bạc lo cùng các quan cho ra ngoài đặng uống thuốc vì trong lúc ấy đau nặng, thì quan cho đem ra ngoài quán dưỡng bịnh, rước thầy điều trị, đâu chừng một tháng mới khá, khi ở ngoài quán thì việc canh giữ không nhặt nhiệm, cho nên người em là Biện Du than thở cùng anh biểu thì trốn đi, song le người anh là Biện Phượng an ủi mà rằng: “Việc Chúa đã định phải sao chịu vậy, phú dưng trong tay Chúa, lại cũng có nhiều lẽ khác không lẽ trốn đặng, vì anh em nghĩ rằng: “Sự giặc nầy hai anh em không chắc, vì năm trước khi Lang sa lấy Sơn Chà, Cửa Hàn, bắn phá tang hoang, một ít lâu rồi bỏ đi nếu như vậy sau vua quan tra xét thì ắt là phải bị tru di tam tộc. Phải mà biết chắc nhà nước Lang sa quyết lấy cai trị vững bền, thì có lẽ hai anh em cũng phải trốn, lại khi hai anh em chưa bị bắt thì nhà nước Lang sa có cho tam bản vô tại trong họ mà rước người có đạo thì trong họ nầy đi theo gần hết hai phần, bởi các lẽ ấy cho nên hai anh em không chịu trốn.”

[58] Nguyên chú: Có một mình bà Biện Phượng thật là người khôn ngoan bề thế giàu có xuất tiền bạc ra mà lo cho khỏi sự quan ép bỏ đạo, thảm thay tiền mất tật còn, lại bà này mỗi ngày đem cơm nước, khi hai ông nầy bị tấn khảo thì mang bịnh, thì cũng lo thuốc thang nuôi dưỡng gian nan quá chừng.

[59] Xạc xài hay xài xạc: Tang hoang hư hỏng. Còn nói lài xài lạc xạc, cùng nghĩa, ăn mặc xài xạc là ăn mặc bê bối, cẩu thả, theo Génibrel.

[60] Hai câu nầy nghe nhức nhối nhưng hình như thời nào cũng có ở nước ta. Nhớ lại thời 1945, 45, bao nhiêu cái chết oan ức xảy ra vì bị nghi ngờ liên lạc với Tây. Nói tiếng Tây giúp cho dân làng khỏi bị băt nhung sau đó chính mình bị cơ quan bắt…

[61] Án Bố hiệp đồng: Có cả hai quan Án sát và Bố chánh củng tra xét. Bản QN hai chữ Án, Bố không viết hoa chắc có lý do nào đó nhưng làm cho bản văn tối nghĩa.

[62] Não nồng: Não nùng, buồn thảm. Thơ Vương Tường: Một vẽ càng thêm một não nùng. HTC, Não nùng: Buồn giận, thảm sầu.

[63] Căng nọc: Trong khi tội nhân bị trói người ta đóng một hai cây cọc xuống đất gài cây nọc sao cho tội nhân không vẫy vùng được, để hành hình, để phơi nắng…

[64] Bố quan, Quan Bố Chánh.

[65] Hai câu nầy thiệt quan trọng: Có đạo nhưng không phải là theo Tây. Người đời không chịu suy nghĩ theo cách đó khiến cho có chuyện cấm đạo, giết đạo khiến cho có sự phân hóa giữa  người Đạo và người Lương,

[66] Người nội: Người không theo đạo Thiên Chúa. Tiếng người nội người ngoại thiệt là tiếng phân biệt chia rẻ mà người có đạo thời đó phải gánh chịu.

[67] Lý luận theo miệng lưỡi của kẻ cầm quyền.

[68] Nhắc tới tên những người cáo gian.

[69] Bắt quờ thảm thay: Quan không bắt được tội đầu Tây, dẫn Tây thì bắt qua tội khác, tội có đạo, dân khổ không kêu than vào đâu được. HTC, Bắt quờ: Bắt quơ, bắt đỡ, hoặc bắt chuyện khác mà thế.

[70] Hai câu: Họ chứng cho bây ngay trong việc theo Tây nhưng bây có tội là tả đạo.

[71] Bẩm trần: Thưa lên để giải thích. Như bẩm thưa.

[72] Nê cố: Quyết lòng giữ vững, cố tình chấp nê. Không thay đổi, trong trường hợp hiện tại là cứng đầu cứng cổ, ương ngạnh.

[73] Không đang bỏ rày: Không đành lòng bỏ, không thể bỏ.

[74] Dạy quân nhổ nọc: Lâu nay bị căng vào một cây nọc, đóng xuống đất.          

[75] Đứng trì: Bị kéo nhưng trì lại, cưỡng lại không cho kéo đi.

[76] Cả câu: Tùy theo lượng cả của quan xử chết chúng tôi cũng cam chịu.

[77] Thầm thĩ: HTC, Nói lầm thầm, nói trong miệng.

[78] Chưa thanh việc gì: Chưa có việc gì rõ ràng (để tha).

[79] Tồng Đốc, Bố (Chánh), Án (Sát). Ba người cần đầu của tỉnh. Cũng như ở trên, hai chữ Bố, Án không in hoa.

[80] Giáo đổng:

[81] Xét suy thửa tình: Xin suy xét cho tình cảnh của chúng tôi.

[82] Nguyên chú: Vốn ông nầy làm chức Từ hàn về án ty, thương hai anh em lắm, khi ấy bà Biện Phượng cũng có đem bạc tiền xin ông nầy lo giùm nói với quan, song tiền mất tật còn, sau thành đồn thất hết ông nầy ra đầu thú, quan tân trào cho làm việc tới chức Đốc Phủ Sứ cách ít năm mới qua đời.

[83] Lân mẫn: Thương tình, thương hại.

[84] Luống công: Uổng công, tốn công mà không kết quả.

[85] Tội không xuất giáo: Tội không bỏ đạo. Thời gian cấm đạo ở VN, ai mà bỏ dạo thì khỏi bị tội.

[86] Lũ thứ gia hình: Tra khảo nhiều lần. Lũ thứ như chữ ghe thứ, ghe phen. HTC, Lũ thứ: Nhiều lần, nhiều phen.

[87] Nguyên chú: Tiếng sớ nghĩa là những giấy tờ gì gởi cho vua thì cũng dùng chữ sớ.

[88] Sợ rày non gan: Sợ rằng mình không chịu nổi những nhục hình mà chịu bỏ đạo để khỏi đau đớn xác thịt hay chết chóc.

[89] Thời gian giam cầm, điều tra cũng khá lâu.

[90] Lúc đó ở Lục tỉnh chuyện những người có đạo liên lạc (thông) với Pháp bị chém, bị đày rất nhiều. Cũng nên nói là sự liên lạc để tìm nơi nương tựa vì những áp bức mà họ đương gánh chịu.

[91] Nguyên chú: Tỉnh nầy các quan độc ác quá chừng, nhứt là tại Bà Rịa lập nhiều ngục, mỗi ngục có ba bốn trăm người có đạo bị đốt tại đất thánh họ Dinh, nơi Xóm Cát có cất một cái nhà thờ nhỏ có đắp một cái mô 300 xác bị thiêu đốt tại chỗ ấy, Thủ Dầu Một cũng bị thiêu đốt như vậy.

[92] Đoạn quan trọng nói về việc giết đạo thời Tây tới nước ta do nhà Nguyễn thực hiện.

[93] Nguyên chú: Khi ấy bà Biện Phượng có mướn sao cái Sớ tưởng khi các cha thanh tra hỏi thì đã nạp cho cha rồi.

[94] Bất khẳng xuất giáo: Không chịu xác nhận là chịu bỏ đạo. Nguyên văn chữ khẳn viết theo giọng Nam khẳn nên rất khó hiểu, thường bị coi như in lầm của chữ khẩn.

[95] Nguyên chú: Đồn Tân Thứ là tại chỗ Chí Hòa bây giờ.

[96] Miệt Chợ Lớn, vùng từ nhà thương Chợ Rầy tới Chợ Lớn mới ngày nay.

[97] Khí giới nước nhà lúc đó thiệt là non trẻ, như đồ chơi con nít so với khí giới của Tây phương. Mất nước là chuyện đương nhiên. Tiểu thươnggiáo tre là những binh khí cầm tay thời đánh nhau hai bên giáp chiến, hỏa hổ là súng hỏa mai, đạn đi chừng 100m, mỗi lần bắn xong phải nạp thuốc súng kế tiếp. Quân Pháp chỉ cần đứng xa nửa cây số là an toàn bắn phá quân ta cho tới khi tất cả trở thành bình địa…

[98] Nguyên chú: Là cha Đoan; cha nầy coi họ Chợ Quán, có công nhiều lắm, khi giặc vừa yên, người cất nhà thờ theo cây gỗ An Nam rất xứng đáng; sau người xuống lập họ tại Lương Hòa, bây giờ ra một họ rất sung, lắm người trấn nhậm tại đó. (NTK: thuộc làng Chánh Hòa bao gồm xã Lương Hòa, Lương Bình và Hựu Thành (Đức Hòa-Long An) hiện nay).

[99] Nguyên chú: Đức cha Dominique Ngải, Đức cha nầy chịu khó nhọc với con nhà có đạo quá chừng.

[100] Thời đó mấy Đức Cha liên lạc với quân Pháp quá chặt chẽ để mong cứu  tín đồ của mình nhưng cũng từ đó tạo nên  sự thù ghét đạo của chánh quyền.

[101] Liên lạc với quân Pháp mong rằng cứu được người có đạo đương bị giam cầm, trong số đó có hai anh em biện Phượng.

[102] Làm dấu ra tuồng: Ra dấu cho biết chuyện gì đó.

[103] Nguyên chú: Tới kỳ, việc gì hễ Chúa định rồi dầu có mưu kia cách nọ cũng chẳng đổi được.

[104] Nguyên chú: Các quan, quân An Nam.

[105] Đào tị: Chạy trốn.

[106] Ổ-Gà Truông ấy: Cái truông tên gọi là Ổ Gà. Chưa biết nay là nơi đâu! Có lẽ nào là Xóm Gà ở Gà Vấp bây giờ! Vùng xóm Gà, Gò Vấp và An Thới Tây cách nhau không xa.

[107] Hồn thiên cõi trời: Hồn bay về Trời. Lên Thiên Đàng.

[108] Bửng tưng: Còn nói tưng tưng, tâng tâng…: Vừa sáng sớm, nay nói sớm bửng,

[109] Lính cựu: Quân sĩ đã giải ngũ hay hồi hưu…

[110] Cả câu: Khóc quá nhiều.

[111] Nang thát: Những thứ để đựng đồ vật khi đi đường

[112] Đem đàng: Dẫn đường, chỉ đường.

[113] Nguyên chú: Làng Tân Thới Nhì thuộc về đồn Tân Thới (Hốc Môn).

[114] Ổ Gà: Nhắc lại: Xóm Gà ở Gà Vấp ngày nay chăng?

[115] Nguyên chú: Khi đào lên thì gặp cái gông của ông biện Phượng, cái của ông biện Du không biết bỏ nơi nào lật đật không kiểm được cho nên đem về có một cái bây giờ còn để theo chỗ để trấp hài cốt tại trường La tinh. (NVS: Sách viết cả trăm năm nay nên bây giờ chúng ta cũng không biết trường La tinh nầy ở đâu. Người chuyên môn về lịch sử đạo ở Sàigòn hoặc người chuyên môn về địa danh Sàigòn mách giùm).

[116] Tùng nhơn: Những người đi theo.

[117] Từ chỗ bị hành hình tới chỗ làm lễ là nhà thờ Chợ Quán đi xe trâu độ chừng 10 giờ vậy cũng không xa lắm.

[118] Chí thiết chí tha: Cách nói khác của quá thiết tha, quá tha thiết. HTC giải nghĩa thiết tha, tha thiết là lắm lắm.

[119] Bức tức: HTC, Thổn thức, áy náy. Đức Cha sầu não ủ ê, Tưởng thôi bức tức, chẳng hề nào khuây (Á Thánh Gẫm Tử Đạo vãn).

[120] Cả câu: Lúc nầy còn hơi lộn xộn, tuy người Pháp đã chiếm Sàigòn xong nhưng chưa an định thiệt sư. Riêng sự kiện cả đoàn đem xác hai ông nầy từ Tây Thới về Chợ Quán dễ dàng cũng cho biết rằng vùng Sàigòn lúc đó có thể nói là người Pháp làm chủ thiệt sự.

[121] Lễ mồ, lễ hát: Những lễ trong đám xác bên đạo Da Tô.

[122] Nguyên chú: Nền nhà thờ cũ nầy khi vua Minh Mạng đã triệt phá đến năm 1887 mới cất lại nhà thờ Chợ Quán bây giờ đó.

[123] Tùng nhứt nhi chung: Vợ nhứt định sống thác chỉ một chồng mà thôi.

[124] Vò vò: Loại ong nhỏ, thường lấy đất mà làm ổ trên tường nhà. Đây tả cảnh nhà buồn  chẳng cần săn sóc nên nhện, vò vò hiện ra.

[125] Giáo hoàng Piô IX.

[126] Người nghiên cứu về vấn đề tử vì đạo và phong thánh có thể theo đây để hiều rõ hơn.

[127] Cho minh: cho rõ ràng chính xác.

[128] Đây chỉ Giáo Hoàng Piô IX.

[129] Lịnh troàn: Lịnh truyền.

[130] Khán nghiệm: Khám nghiệm theo cách nói bây giờ.

[131] Bàng hoàng: HTC, Bồi hồi, bức tức, không yên.Trong bụng bắt bàng hoàng.

[132] Sạch tinh: Sạch thiệt sạch. Tinh: Nguyên chất ròng

[133] Trắp nhỏ: Hộp đựng nhỏ đựng vật, trắp thi (đựng bài thi), trắp viết (đựng viết), trắp trầu (đựng trầu), trăp thuốc (đựng thuốc xỉa của người ăn trầu)… Thành ngữ: Sửa trắp nưng khăn: Việc săn sóc chi tiết của người vợ đối với chồng.

[134] Khởi hoàn: Khải hoàn, thành công. Chết nhưng giữ được lòng tin của mình, và được ghi công.

[135] Thù ba: Phồn hoa. Nơi rất là xa hoa, náo nhiệt.

[136] Noi gương đứng ấy: Noi gương đấng ấy, Chúa.

[137] Phù trì: Phò trì, tức giúp đỡ khi gặp khó khăn. HTC, Phù trì: Che chở, giúp sức cho, giữ gìn, ủng hộ.

[138] Tư tưởng rằng quỷ vây quanh con người để cám dỗ làm điều sai bậy bên đạo Thiên Chúa cũng giống như bên đạo Phật bình dân nói về sự hiện diện của Tam Bành trong con người, Tam Bành khi thắng thế thì con người mất hết lý trí.

[139] Đạo nào cũng nói rằng cõi trời là nơi ở đời đời của linh hồn con người giữ đạo làm điều tốt lành.

[140] Hai ông Biện Phượng và Biện Du được lên Thiên Đàng, đó là theo sự suy nghĩ của người viết đồng thời là do sắc phong của Tòa Thánh.











Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Không có cách nào để bọc đường tin này: Một nửa người Mỹ lớn tuổi sẽ béo phì rất nghiêm trọng trong vòng hơn 12 năm nữa, theo một phúc trình mới tiên đoán.
Cựu Bộ Trưởng Y Tế Anh quốc Matt Hancock trong chức vụ mới đươc bổ nhiệm tại Liên Hiệp Quốc đã bị thu hồi chỉ 3 ngày sau khi được bổ nhiệm. Hancock, người từ chức Bộ Trưởng sau khi lộ cú xì căng đan vì bị máy giám sát thu hình đang da díu với 1 cô phụ tá, đã được bổ nhiệm vào LHQ giữ chức giúp các quốc gia Châu Phi hồi phục sau đại dịch COVID-19.
Trong cộng đồng Việt Nam cũng đã có khá nhiều hồi ký chính trị của các nhà lãnh đạo và các nhân vật nổi tiếng trong trường văn trận bút. Nhưng rất hiếm những cây bút nữ lưu Việt Nam viết hồi ký văn nghệ. Trong giới điện ảnh thì chỉ có riêng Kiều Chinh. Đã có nhiều tác giả viết về con người thường được coi là đệ nhất minh tinh của màn ảnh miền Nam Việt Nam từ sau cuộc di cư 1954. Bây giờ đến lượt Kiều Chinh viết về mình.
Tổng Thống Joe Biden hôm Thứ Sáu nói những người chống lại trát đòi của Ủy ban Hạ Viện Điều tra Bạo Loạn 6/1/2021 cần bị truy tố bởi Bộ Tư Pháp. Biden tuyên bố như thế khi trả lời phỏng vấn của phóng viên CNN Kaitlan Collins. Hiện thời được biết, cựu phụ tá cao cấp Steve Bannon của Trump đã cho biết chống lại trát đòi.
Phản biện của lò thiêu người Do Thái là lời xách động của Hitler và Phát xít Đức? Gina Peddy, Giám đốc điều hành về học trình học khu Carroll Independent School District tại Southlake, Texas, đang bị phản đối sau khi bà yêu cầu các giáo viên đưa ra các quan điểm phản biện nếu các học sinh được cung ứng các sách về lò thiêu Holocaust.
Project Vietnam Foundation hiện đang phối hợp với Trung tâm Y tế Miyoco để cung cấp vắc xin cho cộng đồng- chúng tôi sẽ tiêm tại Trung tâm Y tế Miyoco 15975 Harbor blvd, Fountain Valley (Harbor / Lilac) Thứ Bảy ngày 30 tháng 10 năm 2021 từ 8:30 sáng đến 12 giờ trưa cho vắc xin tăng cường Thứ Bảy ngày 6 tháng 11 năm 2021 từ 8:30 sáng đến 12 giờ trưa cho vắc xin trẻ em 5-11yo Thứ Ba-Thứ Sáu trừ Thứ Năm, từ 4-6 giờ chiều- vui lòng đặt hẹn bằng cách gọi (714)546-6575
Kim Vân Kiều. Nhưng đây là Tuồng Kim Vân Kiều, và là bản Nam Bộ, Nam Kỳ Lục Tỉnh. Trong khi Truyện Kiều của Nguyễn Du viết theo thể thơ lục bát, trong bầu không khí văn học quý tộc, những người dân Nam Bộ đã làm cho bình dân hóa, và chuyển thành một phiên bản tuồng để trình diễn cho khán giả xem. Truyện Kiều tập trung vào yếu tố đọc, Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ tập trung vào yếu tố sân khấu. Do vậy Truyện Kiều là nét thơ tài hoa riêng của nhà thơ Nguyễn Du, ngồi viết trong đơn độc. Trong khi đó, Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ là đóng góp tập thể của nhiều nhà sáng tác trong một thời gian dài khoảng 60 năm
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.