Ông Giáo Ngữ

30/03/202008:59:00(Xem: 1975)


 Tiếng kẻng ra chơi vừa vang lên, bọn học sinh ùa ra như ong vỡ tổ, chúng chạy nhảy chơi đùa la hét ầm ĩ quanh căn nhà. Bọn thằng Vinh, Trường, Cảnh… nổi tiếng nghịch ngợm như qủy sứ. Còn tụi con Lành, Lệ, Thúy…thì mê chơi banh đũa, ô làng, nhảy dây…Cả đám học sinh mệnh danh “ Nhất qủy nhì ma thứ ba học trò” nhưng nổi tiếng nhất vẫn là thằng Tèo. Người ta bảo nó đầu bò đầu bứu đến độ nếu nó có té ngã thì người ta xem mặt lộ có bể hay không chứ chẳng lo đầu nó sưng. Bọn nó đã phân công trước, tụi con gái mang theo muối ớt, mắm ruốc vừa ra chơi là thằng Tèo leo lên cây khế hái trái thảy xuống, tụi kia thì canh chừng ông giáo, kẻo không sẽ bị ăn đòn. Những trái khế to như bàn tay người lớn, chín vàng ươm. Cả bọn trốn sau đống khạp, lu, chậu… bên hông nhà vừa ăn vừa suýt xoa khen mắm ruốt ngon, ăn xong kéo laị bên lu nước dùng cái gáo dừa múc uống đã đời. Khế chua, nước lạnh ấy vậy mà chẳng đứa nào đau bụng chi cả. Chuyện tưởng êm xui, không ngờ có đứa nào mách lẻo với ông giáo. Ông giáo giận, đập cây thước bảng ầm ầm:

 - Nhà có phước sanh con giỏi lội, nhà có tội sanh con hay trèo! Tụi bây trèo hái khế, lỡ té xuống sứt tay gãy gọng thì biết làm sao đây? nghịch như quỷ sứ! 

 La thì la vậy chứ ông giáo Ngữ hiền khô, tóc trắng như ông tiên, cặp kiếng lão đeo xệ xuống lưng chừng sống mũi, mỗi khi nhìn ai thì phải ngước lên và lấy ngón tay đẩy kiếng lên. Ông giáo Ngữ lúc nào cũng cười hềnh hệch rất thân thiện và gần gũi với mọi người. Nhà ông giáo là một căn nhà cổ khá to, sân trước ông cho lợp tôn, xây tường thô nối với sảnh trước nhà để làm lớp học. Bên trong có chừng hai mươi dãy bàn ghế dài, những băng ghế nhẵn thín trơn lu vì bao nhiêu thế hệ học trò mài mòn đũng quần. Dân chợ Cây Da và các tổng quanh đây đã bao thế hệ biết chữ quốc ngữ là nhờ ông giáo Ngữ. Ngoại nói ông giáo đã dạy chữ quốc ngữ từ thời Việt Minh nhưng đến hồi quốc gia mới mở lớp dạy cho dân quanh vùng. Vậy là ông giáo đã dạy từ thế hệ ngoại, má, cậu, dì… cho đến tận thế hệ anh tôi và tôi. Không chỉ nhà tôi mà hầu hết dân quanh chợ Cây Da mấy thế hệ biết chữ quốc ngữ đều nhờ công ông giáo Ngữ cả. Ông giáo dạy chữ từ lúc thanh niên cho đến lúc lưng còng, tóc bạc. Tôi vẫn nhớ như in ông giáo thường ngâm nga và dạy tụi tôi:” O tròn như quả trứng gà

        Ô thời đội mũ, ơ thà mọc râu” 

 Hoặc giả như:” A bê xê dắt dê đi ỉa, a ấ ắ nhắc nhớ trả tiền”…

 Ông giáo dạy chữ quốc ngữ cho mọi người, tiền học phí cũng không nhiều nhỗi gì, cả chợ Cây Da và các ấp, tổng quanh vùng đều nhờ ơn ông giáo cả. Tôi và lũ bạn học là học trò  thuộc thế hệ thứ ba. 

 Hôm nọ, thằng Lĩnh đạp lên mấy tờ nhật trình, ông giáo phạt năm roi đau quắn đít:

 - Chữ nghĩa thánh hiền, không được đạp lên, không được quăng bỏ lung tung, không xài nữa thì phải đốt cho đàng hoàng! 

 Ở lớp học, ông giáo dạy thế, về nhà ngoại cũng nhắc hoài:

 - Chữ nghĩa thánh hiền không được đạp lên, không xài vào những việc ô uế, nếu không tôn trọng thì kiếp sau sẽ sanh ra làm người ngu si.

 Má tôi càm ràm:

 - Người ta lấy giấy nhật trình gói hàng tùm lum kìa! 

 Ngoại nói:

 - Người ta hổng biết mới làm bậy, đó là chuyện của người ta. Mình biết thì mình không làm bậy. Ai làm nấy chịu! 

 Không biết ông giáo thời Pháp thuộc có bằng cấp gì không? Nhưng trình độ quốc ngữ của ông rất giỏi. Ông thâu nhận học trò từ lớp mẫu giáo cho đến lớp năm, những độ tuổi và trình độ khác nhau ở trong một lớp, vậy mà tất cả đều thông suốt thế mới tài. Bao thế hệ ông bà, cha mẹ, con cháu biết chữ, biết tính toán đều nhờ ông giáo. Ông giáo chẳng cần danh hiệu “ nhà giáo nhân dân” hay “ nhà giáo ưu tú” chi cả, cũng chẳng văn bằng nọ kia… ấy vậy mà dạy rất tuyệt vời. Bọn học trò phân biệt rõ ràng ch – tr, dấu hỏi, dấu ngã, câu cú rành mạch, ngữ pháp sạch sẽ…Từ cái nền tảng này mà nhiều người sau này học lên cao và thành đạt. Thế hệ cha chú tôi thì việc học dở dang vì chiến sự, vì thời cuộc nhưng thế hệ tụi tôi thì học hành thông suốt, nhiều người thành danh có địa vị cao trong xã hội hoặc thành công trên thương trường. Thằng Thụ là một ví dụ điển hình, hồi đi học nhà nghèo lắm, không có cả chiếc xe đạp, ba là lính Cộng Hoà chết trận , nội làm thầy cúng độ nhật, ấy vậy mà giờ giàu kinh khủng. Thụ giờ là giám đốc doanh nghiệp xuất khẩu đá granite, bao nhiêu núi đá quanh vùng bị khai phá tan hoang. Bạn bè bảo rằng:” Nó có tên trong danh sách hai trăm người giàu nhất nước”. Thằng Dưỡng thì nhà có lò rượu sát bên đình, ngày đi học cũng nghèo mạt, ấy vậy mà giờ là bác sĩ có tiếng trong thành phố và cũng giàu nhất nhì xứ. Giờ nó giàu có, nổi tiếng tăm và cả tai tiếng vì những việc đi ngược với những gì mà ông giáo dạy năm xưa. Thằng Sáng, ba sĩ quan đi cải tạo và chết trong tù. Mẹ lanh lợi làm ăn, biết mánh mung dựa dẫm từ đó phát lên giàu to và trở thành nữ doanh nhân thành đạt. Sáng là công tử ăn chơi mát trời ông địa luôn, hồi đi học nó cũng nghịch không thua thằng Tèo, nó lấy hột mắt mèo mài lên ghế, tuị học trò ngồi lên bị ngứa đít nhảy tưng tưng, địt lủm bũm. Ông giáo điều tra ra và phạt nó qùy suốt buổi hôm ấy. 

 Thời gian trôi qua như bóng mây, thế sự thay đổi như bức tranh vân cẩu. Mỗi người một số phận, tôi lưu lạc lang bang tận chân trời và vẫn thường ví nơi ấy là một vùng phương ngoại. Dù xa xôi nhưng lòng luôn luôn nhớ và hướng về cố quận, vẫn thường thăm hỏi về ông giáo thông qua những người thân ở quê nhà. Ông giáo Ngữ, người dạy vỡ lòng chữ quốc ngữ cho ngoại, mẹ, cậu, dì, anh và thế hệ tôi.

 Lớp học chữ quốc ngữ của ông giáo đã đóng cữa từ lâu lắm rồi, ông giáo cũng như mọi con người khác, ngày càng già vì sự hủy hoại của thời gian. Suốt nhiều năm tháng sau khi đóng cữa lớp học, ông giáo ngày ngày ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế mây ở trước cửa nhà nhìn người qua laị. Thân xác ông giáo co rút laị, lưng khòm xuống trông còn nhỏ xíu và hom hem lắm, duy cặp kiếng lão vẫn đeo xệ xuống sống mũi và nụ cười hềnh hệch thì không hề thay đổi. 

 Những năm tháng cuối đời, ông giáo ngồi trong chiếc ghế mây nhìn người qua laị hay nhìn thế sự và lòng người? khi mà suốt đời dạy chữ cho người mà không thấy một ai còn nhớ đến mình, những đứa học trò “ nghịch như quỷ sứ” ngày xưa giờ đã nên ông nên mụ, đã thành danh, thành công trong cuộc đời. Người ta vẫn bảo: “ Người lái đò suốt đời đưa người qua sông, đến khi mình cần qua chẳng có ai đưa. Người hát đám suốt đời hát cho người, khi mình ra đi chẳng có ai hát cho một câu.” đời đôi khi dễ quên và khắc nghiệt lắm. Ông giáo Ngữ cứ ngồi trong ghế mây như thế nhìn đời cho đến lúc qua đời chẳng thấy một người học trò “ Nghịch như quỷ sứ” của ngày xưa đến viếng thăm.  


TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 03/2020

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Ở vùng quê người ta vẫn dùng một vài thứ lá như lá vối, lá "ngấy" (không phải lá ngái), lá bò bò, dây lá nhãn lồng (có nơi gọi lá mắm nêm) kiếm từ rừng rẫy về xắt ra, phơi khô trữ từng bao để nấu uống dần thay lá chè (trà). Nước các thứ lá ấy ai cũng dùng được, cả nhà sẽ uống suốt ngày...
Tôi sắp kể một chuyện thật ghê sợ, kể một cách không màu mè. Tôi chẳng mong đợi ai tin chuyện tôi kể cả. Quả vậy, có điên mới mong như vậy, vì chính những giác quan thật của tôi cũng phủ nhận sự hiển nhiên này. Phải.Tôi không điên và chắc chắn là tôi không nằm mơ. Nhưng ngày mai tôi không còn sống, và hôm nay tôi phải cất đi gánh nặng này trong tâm hồn. Mục đích trước mắt của tôi là trình bày một chuỗi các sự việc một cách rõ ràng, ngắn gọn, không bình luận. Bởi hậu quả của nó, những sự việc này đã làm tôi hoảng sợ, đã hành hạ tôi, đã hủy hoại tôi. Sau này có thể ai đó điềm tĩnh hơn, có đầu óc lập luận hơn tôi và không dễ bị kích động như tôi, sẽ hiểu được trường hợp của tôi không có gì khác hơn là luật nhân quả thông thường và rất tự nhiên.
Tuổi học trò là tuổi mang nhiều kỷ niệm khôn nguôi. Chúng ta nghĩ về thuở xa xưa đó như nghĩ về sân đá banh, suối Đốc Học, suối Mu-ri (Maury), thác Nhà Đèn, hồ Piscine, hồ Trung Tâm hay cột đèn ba ngọn, kể cả con chim, con dế, một thứ keo dính chặt trong trí nhớ học trò...
Trực thăng vừa đáp, cánh quạt thổi cát bụi tung mịt trời, cỏ tranh bên dưới ngã rạp, thân dập dềnh như sóng. Thăng nhảy xuống trước tiên, đảo mắt quan sát chung quanh rồi quay người lại giơ tay cho Chinh bám lấy để bước xuống. Cũng chiếc máy truyền tin cũ đeo sau lưng, nhưng hôm nay có vẻ nặng hơn vì gương mặt Chinh đanh lại chứ không nhìn Thăng cười và khẽ gật đầu như những lần đổ bộ trực thăng trước. Chinh mang máy cho Thăng đã ba năm, đeo hạ sĩ gần một năm. Thầy trò đã kề cận, cùng vào sinh ra tử không biết bao nhiêu lần, chưa bao giờ Chinh biểu lộ sợ hãi kể cả những lúc nguy khốn nhất, bị địch vây hãm phải mở đường máu để triệt thoái...
Chiều hôm ấy, một buổi chiều cuối mùa Hè năm 1956, trước cổng trường Võ Tánh Nha Trang, Trọng nhìn theo mái tóc dài thả sau hai bờ vai và tà áo dài trắng, và gọi lớn tên nàng nhưng Thu Nguyệt vẫn lặng lẽ tiếp tục đạp xe đạp, không đáp lại lời kêu gọi của Trọng, ngay cả ngoái đầu nhìn lại nhau lần cuối...
Sau khi đưa được gia quyến sang Tàu, Trần Ích Tắc đã được Nguyên chủ Hốt Tất Liệt cấp một dinh thự tại Ngạc Châu để ở. Nguyên chủ cũng ban cho ông nhiều bổng lộc nên gia đình ông vẫn có một cuộc sống sung túc...
Chị Bông gởi tâm sự cho chị Ngân Bình phụ trách mục “Tình Chàng Ý Thiếp” của một tuần báo. Chị than thở chuyện tình cảm hai vợ chồng già nhà chị lúc nào cũng xung khắc cãi nhau. Ông ấy lát gạch vườn sau chỗ cao chỗ thấp làm chị Bông vấp ngã mấy lần đã không biết điều xin lỗi còn mắng vợ xớn xác. Chị Bông tiết kiệm ngân quỹ gia đình, ở nhà chuyên mặc đồ thừa của con gái thì ông ấy nói quần áo ngắn cũn cỡn, váy màu mè xanh đỏ như bà đồng bóng...
Hình như có cái gì đó cần phải suy nghĩ cho trọn vẹn kỹ càng? Tôi dừng lại. Bắt gặp ánh mắt của tôi, người đàn bà tấp xe vào lề, mời mua vé số. Tôi lục tìm tất cả những đồng bạc lẻ. Xác suất rất nhỏ cho hạnh phúc rất lớn, thậm chí có thể đổi đời. Xác suất rất lớn cho nỗi thất vọng rất nhỏ – nhỏ đến độ thường bị lãng quên đâu đó ở ngăn ngoài chiếc ví, trong túi áo quần…
Con gái của tôi, làm Registered Nurse trong một bệnh viện. Bữa đó, nó bước vào phòng thăm một bệnh nhân nam, cỡ tuổi gần 70, đang truyền đạm truyền nước vì gặp vấn đề tiêu hoá, đúng lúc bác ấy đang facetime nói chuyện với người ở nhà bằng Tiếng Việt. Nó sinh ra ở Canada, nhưng có khiếu Tiếng Việt, nghe và nói khá rành rẽ, chỉ có đọc và viết thì nó không biết...
Năm 1972 là quãng thời gian với nhiều lo âu cho tôi và các bạn nam sinh cùng lớp vì hết niên học chúng tôi phải qua kỳ thi Tú tài I, đậu hay rớt tương lai sẽ là những khúc rẽ cuộc đời...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.