Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Đinh Cường, Nghệ Thuật Là Cứu Rỗi, Kỷ Niệm Là Đam Mê

22/01/201600:01:00(Xem: 4592)

Nhắc đến hoạ sĩ Đinh Cường, khách thưởng ngoạn nghệ thuật ở miền Nam Việt Nam trong thập niên sáu mươi, bảy mươi, hầu như ai cũng biết đến ông. Phải nói khi ấy là thời hưng thịnh của ngành mỹ thuật Việt Nam. Đó cũng là thời kỳ rực rỡ cùng sự xuất hiện của Hội Hoạ Sĩ Trẻ Việt Nam (1966) với một lực lượng hùng hậu những cây cọ mang đầy nhiệt huyết trong việc khai phá và nỗ lực đi tìm cái mới. Họ chủ trương tạo ra những cơ hội gặp gỡ nhau để trao đổi những kinh nghiệm hầu hình thành những đường lối sáng tạo độc đáo trong bầu không khí sinh hoạt hội hoạ trong sạch và cởi mở.

Có thể nói lòng hăng hái phát triển nghệ thuật khơi dậy sự thử thách nơi các hoạ sĩ trẻ thúc đẩy họ đi vào những cuộc thử nghiệm các trường phái nghệ thuật khác nhau từ lập thể, dã thú, biểu hiện, đến siêu thực, trừu tượng, vô hình dung, tân hiện thực... Họ là những Trịnh Cung, Đinh Cường, Nguyên Khai, Nguyễn Trung, Hồ Thành Đức, Đỗ Quang Em, Nghiêu Đề, Lê Tài Điển, Cù Nguyễn, Nguyễn Phước, Hồ Hữu Thủ, Mai Chửng, Dương Văn Hùng, Nguyễn Lâm, Nguyễn Đồng, Hoàng Ngọc Biên, Ngy Cao Uyên, Rừng...

Đinh Cường đảm nhiệm chức vụ Ủy Viên Kiểm Soát trong Hội Đồng Quản Trị HHSTVN. Từ đó ông đã bước vào thế giới tạo hình với một vũ trụ và tấm lòng đầy thơ. Ông đã không ngừng tìm kiếm, say sưa sáng tạo và thử nghiệm nhiều thể loại, trường phái, và hoạt động cho đến phút cuối đời. Với một lượng tranh đồ sộ tới cả ngàn bức tranh, những bài viết về hội hoạ, những bài thơ về kỷ niệm cùng bạn hữu mà ông chia sẻ trong thi ca, Đinh Cường đã để lại cho người yêu mến ông vô số những tài sản tinh thần sâu sắc, đẹp đẽ và đầy ý nghĩa.

blank
Dạ Khúc chim.

Hoạ sĩ Đinh Cường tên thật là Đinh Văn Cường, sinh năm 1939, tại Thủ Dầu Một, Bình Dương. Mất ngày 7 tháng 1 năm 2016 tại Hoa Kỳ. Ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế năm 1963, đến năm 1964 thì tốt nghiệp giáo khoa hội hoạ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định. Ông từng sống tại Huế, Đà Lạt và Sài gòn trước khi định cư tại Hoa Kỳ. Tranh ông được triển lãm trên nhiều thành phố tại quốc nội và nhiều quốc gia khác. Thơ và bài viết của ông về hội hoạ đăng trên các tạp chí Văn Học Nghệ Thuật: Hợp Lưu, Văn, Văn Học, Thế Kỷ 21, Da Màu, Tiền Vệ...

Là một người tài hoa, với một bản năng sáng tạo mạnh mẽ, hoạ sĩ Đinh Cường xuất sắc không những trong thế giới tạo hình mà cả trong phê bình nghệ thuật. Trong lãnh vực thi ca, thơ ông cũng rất sâu sắc và đầy thi vị.

Trong khuôn khổ nhỏ hẹp của bài này, tôi chỉ xin viết về mảng hội hoạ.

Ông quen biết rộng và có nhiều bạn. Trịnh Công Sơn, người bạn thiết của ông, đã hiểu ông tường tận và đã từng nhận xét về ông như sau “Rong chơi là một thứ kinh vương giả trong tâm hồn Đinh Cường. Cứ lên đường, dù cao nguyên dù biển, là đã nghe thấy trong Cường vang lên một tiếng reo vui mãn nguyện. Đi không chỉ là sứ mệnh của đôi chân, mà đi, với Cường, là lòng ngưỡng vọng linh thiêng về một tiếng gọi.” Trịnh Công Sơn gọi ông là một lãng tử đam mê kỷ niệm.

blank
Chân dung Bùi Giáng và dê.

Những vật thể phụ trong tranh ông thường là chim và ngựa, tượng trưng cho thể động, tượng trưng cho niềm khát khao được đi và đến. Ông yêu mến những nơi đã sống, lưu luyến nhiều chốn đi qua, gìn giữ, ấp ôm kỷ niệm đẹp nào lưu lại, và thương quý, chung thuỷ với tình thân bạn hữu. Đà Lạt, Huế, Paris bàng bạc những lưu dấu thơ mộng và đẹp đẽ cũng như niềm vui, nỗi nhớ, phút thảm sầu, đều được ông sắp đặt, thể hiện lên tranh. Phần lớn những chủ đề trong tranh ông xoay quanh âm nhạc, cảnh thiên nhiên, đá, hoa, chim, ngựa, cũng như người, bạn bè, nhất là thiếu nữ. Tranh thiếu nữ của ông thường có thêm hoa, chim, ngựa và khăn choàng. Những nơi ông sống và đi qua thường lạnh nên thiếu nữ trong tranh ông có thêm khăn quàng hay đội khăn giống thiếu nữ trong tranh Thái Tuấn.

Dạ Khúc chim 5/2006(Birds evening song) Oil on canvas, 30”x40”

Bức tranh đánh mạnh vào cảm xúc người xem qua bố cục xanh của đêm. Đêm cùng trăng tấu lên một hợp âm xanh nhạt và thẫm với những cánh chim vần vũ một tiết điệu xanh buồn thảm. Vị trí khác nhau của cánh chim mang màu sặc sỡ đậu trên cành, khiến tôi liên tưởng tới những nốt nhạc trầm, bổng, cao, thấp của một tấu khúc đêm. Chim trong tranh rất nhiều khiến tôi nhớ đến hai bức tranh "Nhiều mây chim bay không nổi" và "Người và chim" mà ông vẽ để tưởng nhớ Phạm Công Thiện. Có lẽ những câu thơ trong bài “Ngày sanh của rắn” của Phạm Công Thiện đã ám ảnh ông khôn nguôi, tôi đi đông chìm / trời âm u thung lũng khô / nhiều mây chim bay không nổi. Người thiếu nữ gầy guộc, cầm hoa, trong áo dài và khăn choàng đầu. Cô có khuôn mặt, sống mũi và thân hình đều dài của một hoạ sĩ Đinh Cường chịu ảnh hưởng Modigliani như nhiều hoạ sĩ Việt Nam vào thập niên 60 - 70. Theo tôi, “Dạ khúc chim” không những đẹp mà còn sống động phát nên những âm thanh kỳ ảo của một bài ca đêm.

Nói đến phần tranh chân dung, xem hơn trăm bức chân dung ông vẽ cho những văn nghệ sĩ ông quen biết, tôi càng hiểu thêm sợi giây tình bạn kết giao của ông dài đến mực nào. Có lẽ Đinh Cường là một hoạ sĩ Việt Nam vẽ chân dung cho bạn bè nhiều nhất. Bùi Giáng và Trịnh Công Sơn là người có nhiều tranh chân dung hơn cả. Tình bạn chiếm một ngăn lớn trong trái tim và đời sống tinh thần của ông.

blank
Chân dung tự hoạ.

Chân dung Bùi Giáng và dê

Nỗi nhớ và thương Bùi Giáng đã khiến ông vẽ nhiều chân dung nhà thơ qua các thời kỳ khác nhau. Bức vẽ theo thể minh hoạ (illustration) này có lẽ không đẹp và thơ mộng bằng bức "Bùi Giáng và Dê tím hoa cà", nhưng tôi nhắc nhở đến, vì nó thể hiện một loại tranh khác mà Đinh Cường đã vẽ và có theo đuổi. Tôi rất thích tranh ông vẽ theo thể loại này, với vài nét chấm phá đơn sơ nhưng vẫn hay, vì người hoạ sĩ nắm bắt được đặc điểm và chiều sâu của điều hay vật thể mà họ muốn miêu tả.

Chỉ vài nét phác miêu tả, ai cũng nhận ra được thi sĩ họ Bùi trong bức tranh này. Khuôn mặt Bùi Giáng bên trên, nàng dê núi trắng đeo vòng hồng ngự trị bên dưới tạo cho chàng thi sĩ một nét đẹp vừa hoang dại, vừa ngộ nghĩnh của các vị thần đầu người, mình thú trong huyền thoại cổ Hy Lạp. Cái khéo tài tình của Đinh Cường khi vẽ chân dung bè bạn là ông không chỉ lột được cái thần trên khuôn mặt, mà ông còn lột được khí chất cũng như nét đặc thù sinh hoạt của họ trong cuộc sống thường nhật. Khoảng trống hẹp màu hồng phớt phía trái bức tranh tiết lộ thêm đây là em dê trắng, vòng hồng trong thơ,... Này em Đen chiếc vòng vàng tươi lắm / Này em Vàng chiếc trắng há mờ đâu / Này em Trắng chiếc hồng càng lóng lánh / Này đây em Hoa Cà hỡi! chiếc nâu... (“Nỗi lòng Tô Vũ”, thơ Bùi Giáng)

Ngoài việc vẽ chân dung cho bạn bè, Đinh Cường cũng đã vẽ vài bức chân dung tự hoạ cho mình. Mỗi bức ông vẽ theo một kiểu khác nhau theo từng thời kỳ và biến động của cuộc sống ông. Tôi chọn ra bức dư ới đây vì, theo tôi, không những nó nổi bật mà nó còn thể hiện được cá tính đặc thù của ông cũng như màu sắc và lối vẽ ông theo đuổi trong thời gian đó (2009).

Chân dung tự hoạ (Auto Potrait) Đinh Cường, 5/2009

Xem tranh Đinh Cường mà bỏ quên loạt tranh tôn giáo của ông, tôi nghĩ là một thiếu sót lớn. Ông có trên 20 bức tranh tôn giáo, phần lớn nói về Đạo Phật.

blank
Niệm (2).

Ông từng tâm sự:

“Nghệ thuật là đời sống riêng biệt, hiếm hoi. Tôi đã vẽ trong mọi hoàn cảnh, nơi chốn. Không biết để làm gì? Có lúc gần như tuyệt vọng, đôi khi thấy mình được cứu rỗi. Và tôi lại tiếp tục vẽ, tiếp tục suy nghiệm... Xin đừng bắt tôi giải nghĩa tranh. Nó hiện ra đó và tôi đã hụt hơi, mệt mỏi. Thế giới xa lạ được dựng lên từ một hồi ức hay một bắt gặp vụt đến, rồi loang dần trên mỗi khoảng không đen... Xin hãy cảm, nhớ đừng bao giờ tìm hiểu.”

Tôi đồng ý với tác giả về những lời ông bày tỏ. Tôi xem tranh ông với cảm nhận và nhận định của riêng tôi. Khách thưởng ngoạn cũng vậy, họ nhìn tranh và thấy được gì, có nghệ thuật hay không, xấu hay đẹp, kỳ quặc hoặc tuyệt vời, là tuỳ thuộc ở mắt kẻ nhìn. “Art, like beauty, is in the eye of beholder”. Nhất là tranh tôn giáo, sự thụ nhận và cảm nhận về tôn giáo mỗi người mỗi khác nên sự chọn lựa của tôi để giới thiệu với độc giả chỉ là một cảm nhận riêng tư.

Bức Niệm (2) này gây ấn tượng mạnh mẽ cho tôi. Sau đây là những gì tôi cảm nhận.

Niệm Phật là một phép tu trong Phật giáo, thuộc về Tịnh Độ Tông. Phép Niệm Phật này cũng tương tự như Phép Toạ Thiền, Niệm Hơi Thở trong phái Thiền Tông. Khi toạ thiền, “thiền giả phải thoát ra sự vướng mắc của tư tưởng, ảnh tượng, khái niệm, vì mục đích của toạ thiền là tiến đến một tình trạng vô niệm, tỉnh giác, không dung chứa một nội dung nào. Sau một giai đoạn kiên trì trong vô niệm, hành giả sẽ bỗng nhiên trực ngộ thể tính của mình, đó là tính Không, cái “thể” của vạn vật.” (theo Wikipedia).

Trung tâm bức hoạ là hai nhân vật nam và nữ, chắp tay, quay mặt đi, mỗi người một phía. Chung quanh họ là những sắc màu tượng trưng cho đất, nước, gió, lửa. Đinh Cường rất khéo léo và có chủ ý trong việc dùng màu. Những màu lạnh, xanh, nhu hoà, tượng trưng cho tính âm, ông dành cho người nữ. Những màu nóng, đỏ, cam, vàng, tính dương, người nam có nhiều. Con người của thất tình, lục dục có đủ, ông gom lại trong các sắc màu. Sau khi toạ thiền tìm được thân an, tâm không loạn và chánh niệm, thì trong phút an bình ấy cả hai nhân vật nam và nữ nhập làm một. Không có ngã, không có giới tính, không tạp niệm, và chính giữa tranh là một đoá sen trắng thơm ngát hương tinh khiết.

blank
Trăng và đá đen.

Sau cùng tôi xin chia sẻ cùng bạn đọc một loại tranh trừu tượng mà Đinh Cường đặc biệt ưa thích vì ông vẽ rất nhiều. Một số lớn các cựu hoạ sĩ thành danh Việt Nam như Nguyên Khai, Trịnh Cung, Cao Bá Minh, cũng đi vào thử nghiệm thể loại tranh này.

Bức "Trăng và Đá Đen" là một trong những sáng tác mới nhất tháng 9, năm 2015 trước lúc ông mất, nay thuộc bộ sưu tập của Dr. Ha Phan Ho.

Bức tranh hình chữ nhật với nền màu đỏ nóng chủ đạo đã khiến hai vật thể “Mảnh trăng” màu trắng và “Đá đen” nổi bật, đối xứng qua một lằn ranh mỏng mảnh màu đen, tựa như hai phía của cuộc đời, con người và thiên nhiên, tĩnh và động. Không cần biết ông vẽ gì. Chúng ta chỉ cần tưởng tượng ra một hoạ sĩ Đinh Cường đang lang thang giữa bờ biển của Great Salt Lake ở Utah là nơi ông tạo tác bức tranh này. Cát nơi đây trắng trong như thuỷ tinh và bên trên là mảnh trăng treo lơ lửng phản ảnh màu trắng của cát, của Mẹ Đất. Tình cờ ông nhặt được một hòn đá đen còn lấm tấm bụi cát trắng và mang nó về nhà làm vật lưu niệm. Người ở tuổi già thích hồi tưởng và, qua đó, tất cả ký ức đời ông sống lại. Những thăng trầm của cuộc sống, được mất, đua chen, tất bật trong cuộc đời đã trôi qua, chỉ còn lại hòn đá đen trơ gan cùng tuế nguyệt. Hòn đá lấm bụi cát đời ông giờ cũng nằm xuống bình yên, thôi lao xao, bất động.

Tôi xin thắp một nén hương, cầu nguyện cho hương hồn ông được an lạc ở cõi bình yên đời đời.

(trích Thế Giới Nghệ Sĩ số 49)

Trịnh Thanh Thủy

Tài Liệu Tham Khảo
http://dinhcuongpaintings.blogspot.com/

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Báo chí tự phong “cách mạng” của Cộng sản ở Việt Nam đã hiện nguyên hình là cái loa tuyên truyền cho đảng để phủ nhận quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí của dân. Việc này đã, một lần nữa, được chứng minh vào dịp kỷ niệm 96 năm của điều gọi là “ngày báo chí cách mạng Việt Nam” (21/6/-1925 – 21/6/2021). Ngày 21/6 được chọn để đánh dấu việc ông Hồ Chí Minh đã một mình thành lập và biên tập Báo Thanh niên - cơ quan của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh Niên - tại Quảng Châu (Trung Quốc) để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam.
Sartre là con người hoài nghi muôn thuở nổi trôi giữa hai cực Hiên Hữu và Hư Vô- L'Être et Le Néant. Chủ thuyết Existentialisme của Jean Paul Sartre là hiện thân của nước Pháp và Châu Âu ở hậu bán thế kỷ thứ XX. Charles De Gaule có lý khi ông bảo Sartre là nước Pháp- "Sartre, c'est la France"./.
Chúng ta nên công nhận rằng "cuộc tranh luận về lạm phát" hiện nay như là những gì mà nó đang là: một dấu vết sai lầm được đặt ra bởi những người tìm cách cản trở những nỗ lực của chính quyền Biden để giải quyết một số vấn đề cơ bản nhất của Mỹ. Thành công đòi hỏi nhiều công chi. Cuối cùng, Hoa Kỳ cũng may mắn có được giới lãnh đạo kinh tế mà họ sẽ không chịu khuất phục trước nỗi sợ hãi.
Trước khi hạ cánh an toàn, Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh đã không quên bầy tỏ sự quan ngại sâu sắc về cái mối tình hữu nghị (rất) mong manh giữa nước ta và nước bạn: “Tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung Quốc.”
Hôm nay tôi và quý vị là người được đón nhận ngày lễ quốc gia đầu tiên để ghi nhớ ngày Juneteenth. Chúng ta hãy cùng nhau đi vào lịch sử để ôn và tìm hiểu thêm về ngày này và hi vọng từ đó chúng ta sẽ có những bài học sẽ làm cho cuộc sống ta thêm phần ý nghĩa về tình người cũng như đạo đức.
Cuộc họp thượng đỉnh giữa hai tổng thống Biden và Putin được báo chí quốc tế quan tâm và tin tức về cuộc họp này được loan tải rộng rãi. Phần tóm lược sau dựa vào các bản tin và bình luận của các cơ quan truyên thông Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc về cuộc họp này.
Một tiểu tiết khá thú vị được ghi nhận trong cuộc gặp gỡ này là TT Biden đã đến biệt thự Villa La Grande, nơi tổ chức cuộc họp sau Putin. Theo bản tin của VOA Anh ngữ, dù Putin đã đến khá đúng giờ, nhưng đây là sắp xếp chu đáo của các nhân viên Bạch Ốc nhằm ngừa sự tái diễn như TT Donald Trump đã bị Putin cho đợi đến 30 phút trong cuộc họp thượng đỉnh tại Helsinki vào năm 2018, dù trước đó Trump đã đến muộn khi đến họp với NATO hay yết kiến Nữ Hoàng Anh.
Nền âm nhạc Việt Nam đã mất đi những khuôn mặt tài hoa, nhân cách… nhưng, rất may đã gởi lại những ca khúc bất tử. Nhạc sĩ tài hoa của nhân loại Johann Sebastian Bach (1865-1750) cho rằng “Âm nhạc có thể giúp tinh thần rũ sạch mọi bụi trần của cuộc sống thường ngày” nên khi “đầu óc vẩn đục” hãy lắng nghe ca khúc của tác giả đã quý mến để rũ sạch bụi trần.
Tôi đã được đọc rất nhiều bài trong “Hoa Cỏ Bên Đường” trước khi chúng được chọn cho vào tuyển tập này. Mấy năm nay, cô Kiều Mỹ Duyên luôn dành cho Bút Tre hân hạnh đăng những bài viết ngắn của cô. Bài nào cũng được độc giả khen tặng, đặc biệt bài “Cho Nhau Thì Giờ” gây tác động sâu sắc đến người đọc.
Dưới thời Việt Nam Cộng hòa ở trong Nam, chuyện tranh luận giữa Chính quyền và người dân về những ưu, khuyết điểm của chế độ chính trị là việc bình thường. Các Dân biểu và Nghị sỹ tại lưỡng viện Quốc hội có quyền chất vấn Thủ tướng và các Bộ trưởng Chính phủ bất kỳ lúc nào thấy cần. Nhưng ở Việt Nam Dân chủ Công hòa miền Bắc trước năm 1975 thì khác. Phê bình đảng cầm quyền là tự mở cửa vào tù. Đại biểu Quốc hội và các Hội đồng Nhân dân các cấp chỉ biết làm việc theo lệnh của Bộ Chính trị và cấp trên.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.