Hôm nay,  

Xã Hội Dân Sự Hay Xã Hội Công Dân?

23/05/200700:00:00(Xem: 8129)

* Cuộc Cách Mạng Nhung tại Tiệp Khắc

Như ta đã biết XHDS là một khu vực trong cái không gian xã hội (social space) cùng tồn tại song song với khu vực Nhà nước và khu vực Thị trường. Khái niệm XHDS tuy đã được một số học giả nêu ra đã lâu, nhưng mới chỉ được trình bày rõ ràng, mạch lạc trong vài ba chục năm gần đây, nhất là từ khi phong trào tranh đấu cho Dân quyền và Nhân quyền bộc phát và dành được thắng lợi từ thập niên 1960 trở đi với cao điểm là công cuộc tranh đấu chống nạn kỳ thị chủng tộc của người da đen ở Mỹ do Mục sư Luther King lãnh đạo. Tiếp đến là những thắng lợi của công cuộc tranh đấu Nhân quyền ở Đông Âu, ở Liên Xô khiến đưa đến sự sụp đổ của khối Xã Hội Chủ Nghĩa do Liên Xô lãnh đạo và rồi trong giai đoạn tái kiến thiết xã hội thời kỳ hậu cộng sản, càng ngày người ta càng nhận ra cái nhu cầu cấp thiết là phải phục hồi và củng cố lại cái XHDS mà chế độ độc tài toàn trị đã làm cho thui chột đi để cho đảng Cộng sản một mình một chợ, làm mưa làm gió trên đất nước do họ cai trị.

Từ thời Leniné khởi xướng ra chủ trương "Vô sản chuyên chính"', thì các đảng cộng sản đã dùng mọi thủ đoạn để bóp nghẹt mọi tổ chức chính trị, xã hội, văn hoá, tôn giáo... nào mà không do chính họ điều động, chỉ huy. Hệ quả là họ đã triệt tiêu hết toàn bộ cái nền móng văn hoá đạo đức, tâm linh vốn là rường cột ngàn đời của xã hội.

Trong mấy tháng gần đây, tác giả bài viết này đã có dịp trình bày nhiều khía cạnh của XHDS trong một số bài đã được đăng trên internet và các báo ở hải ngoại. Và trong phần phản hồi của độc giả, có người nêu thắc mắc là nên dùng từ ngữ Xã Hội Công Dân thay vì XHDS. Tác giả xin được giữ nguyên chữ XH Dân sự, vì lý do sẽ được trình bày rõ ràng hơn ở phần cuối bài này, với mục đích là để không làm rối trí người đọc qua những biện luận phức tạp thường thấy nơi chốn hàn lâm trí thức.

Nhân tiện cũng xin được thưa luôn cùng bạn đọc là loạt bài về XHDS này sẽ gồm ít nhất là 20 kỳ nữa, thì mới hy vọng trình bày vấn đề một cách tương đối mạch lạc đầy đủ, rốt ráo được.

Tác giả chú trọng đến phương diện cụ thể, thực hành hơn là lý thuyết vốn đã được nghiên cứu bàn luận nhiều nơi chốn hàn lâm đại học. Vì loạt bài nhằm vào việc khơi động được sự ý thức và dấn thân nhập cuộc của đa số người trẻ tuổi vào công cuộc tái kiến thiết, xây dựng lại đất nước thời kỳ hậu cộng sản trong tương lai mấy năm sắp tới. Từ nhiều năm nay, tác giả đã chuyên tâm nghiên cứu về sự chuyển hoá dân chủ ở Đông Âu, về sự phục hồi XHDS ở những nước vừa thoát được ách độc tài chuyên chế do đảng cộng sản cai trị trong nhiều thập niên kể từ sau thế chiến 2.

Xét vấn đề trong bối cảnh toàn cầu, ta thấy rằng chính khái niệm Dân Chủ, Tự Do và Nhân Quyền vì được thể hiện trong cuộc sống của con người sau bao cuộc tranh đấu khắp nơi trên thế giới đã đưa đến sự phổ biến rộng rãi khái niệm XHDS trong mấy chục năm gần đây. Quan sát quá trình phát triển ngay tại các quốc gia có nền dân chủ vững mạnh như ở Âu châu và Hoa kỳ, thì sau cuộc khủng hoảng kinh tề toàn cầu 1929, chính quyền tại các nước này đều chủ trương mở rộng khu vực Nhà nước ra, khiến cho thu hẹp khu vực của XHDS lại. Nhất là trong thế chiến thứ hai, bởi vì phải dốc toàn lực cho nhu cầu quân sự, nên các chính phủ đã hạn chế, bóp nghẹt XHDS lại. Do đó mà khu vực Nhà nước càng ngày càng phình to ra, mà XHDS thì mỗi ngày càng bị lép vế, thui chột nhỏ bé lại. Đó là chưa xét đến các nước dưới chế độ độc tài toàn trị như Đức quốc xã hay Cộng sản, nơi mà Nhà nước thâu tóm mọi quyền lực trong tay, gộp cả khu vực Thị trường và khu vực XHDS dưới quyền sinh sát của một đảng độc tôn duy nhất với quyền lãnh đạo, chỉ huy duy nhất và tuyệt đối trong tay các lãnh tụ đảng như Bộ Chính Trị, Ban Chấp Hành Trung Ương vv....

Lại nữa, trong thời kỳ chiến tranh lạnh, cả hai khối cộng sản và tư bản đều thi đua võ trang và tập trung mọi tài nguyên vật chất, trí tuệ trong tay guồng máy Nhà nước để chuẩn bị chiến tranh. Do đó mà XHDS luôn luôn bị áp lực phải nhường bước cho Nhà nước tha hồ mà bành trướng to lớn hơn mãi. Quả thật, chiến tranh nóng hay lạnh, thì đều đưa đến hậu quả là bóp nghẹt XHDS lại để cho Nhà nước càng phình thêm ra mãi thôi.

Phải đến thập niên 1970 trở đi, thì cục diện mới thay đổi rõ rệt là XHDS mới khôi phục lại ngay ở các nước Tây Âu, Mỹ, Nhật... vốn đã có một nền móng dân chủ vững chắc. Một phần vì cơn sốt dầu hoả khiến cho Ngân sách tại các nước này không còn dồi dào để bao biện được hết các khoản chi tiêu cho nhu cầu của dân chúng. Do đó mà Nhà nước phải nhả ra cho các tổ chức tư nhân đảm trách giùm.

Điều này ta thấy rõ ngay trong các dịch vụ xã hội thông thường, Nhà nước không thể cáng đáng hết được, mà phải để cho các tổ chức phi chính phủ (non-governmental organisations) đứng ra gánh vác giùm. Cứ như thế, tiến trình "tư nhân hoá"' này đã chuyển vai trò chủ động từ Nhà nước sang cho các tổ chức tư nhân. Và đó là một sự nhường bước của Nhà nước đối với XHDS.

Tiếp đến kể từ ngày bức tường Berlin sụp đổ, khơi mào cho sự giải thể của chế độ độc tài toàn trị Cộng sản ở Đông Âu và Liên xô, thì việc phục hồi XHDS tại các nước này lại càng diễn ra một cách sôi nổi, ngoạn mục để cho Nhân phẩm và Quyền Con người được tôn trọng và bảo vệ vững chãi hơn. Có thể nói trong suốt thế kỷ 20, sau hai cuộc thế chiến và sự bạo tàn của hai nền độc tài Đức quốc xã và Cộng sản, cộng với công cuộc giải phóng các thuộc địa khỏi ách đế quốc thực dân cục diện thế giới thay đổi vũ bão khiến cho đã tạo tiền đề cho công cuộc phục hồi và củng cồ XHDS ở khắp nơi trên thế giới trong thế kỷ 21 của chúng ta ngày nay. Đó là một khởi đầu của Bình minh cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền cho các dân tộc trong thời đại của khoa học tiến bộ và văn minh nhân bản ngày nay, trong một thế giới đang bước vào kỷ nguyên toàn cầu hoá và con người mỗi ngày càng thêm liên đới huynh đệ với nhau hơn mãi. Đó cũng là niềm Hy vọng cho tương lai con cháu chúng ta.

Sau cùng, để trả lời câu hỏi XH Dân Sự hay XH Công Dân, người viết xin ngắn gọn trong vài câu như sau. XHDS dich từ chữ Civil Society, nó bao gồm ý niệm "văn minh, khoan hoà, lịch sự" (civilised, civility). Còn XH Công Dân thì gần với chữ Civic hơn, như Civic Education = Công dân giáo dục. Trong các bài kế tiếp, tôi sẽ xin được trình bày cặn kẽ hơn về khái niệm này, nó vừa có nội dung đạo đức, triết học, văn hoá cũng như xã hội học. Xin hẹn sẽ được tiếp tục hầu chuyện cùng quý bạn đọc trong những bài tiếp vậy nhé.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.