Hôm nay,  

Bông Hồng Cô Đơn

23/02/202511:23:00(Xem: 3448)
Bong Hong Co Don
Ảnh của tác giả Trần Mộng Tú.

                                   

 

Mùa đông Tây Bắc về lấy hết đi những bông hoa trên mặt đất, cây cỏ mất hết cả màu xanh. Trời lúc nào cũng mưa được, không mưa sáng thì mưa trưa, không mưa trưa, thì mưa đêm, mưa nhỏ hạt thôi, nhưng đủ ướt đẫm vai ai, nếu đi bộ một quãng đường. Ban ngày đôi khi nắng chợt về sau cơn mưa nhỏ hạt kéo dài ba, bốn tiếng, nắng thoáng lên một hai tiếng rồi lại bỏ theo mưa. Người dân Tây Bắc Mỹ đã quen rồi, không thấy phiền muộn gì với mưa nắng chợt đến, chợt đi theo ngày.

 

Vườn trước vườn sau nhà tôi những bụi hoa nhỏ, chỉ còn lại những đám lá xám bạc nằm trên mặt đất. Duy nhất, cây hồng trước cửa nhà, một cây hồng màu cá salmon với những bông hoa to bằng chiếc chén, thường nở từ xuân sang thu, vào mùa đông hoa nhỏ và ít đi và dần dần rụng hết. Nhưng không biết bằng cách nào mà sáng nay, trời đã vào cuối đông mà một bông hoa nhỏ vẫn còn sót lại, nở nguyên vẹn. Nhìn cái cây đầy gai, cành vươn ra khô khốc, ngay cả chiếc lá nhỏ nhất cũng không còn, ta mới thấy cái kỳ diệu của mấy cánh hồng mong manh, đầy kiêu hãnh đó.

 

Bông hồng nhỏ duy nhất còn lại làm tôi liên tưởng đến những em bé sống còn trong chiến tranh, dưới bom đạn. Thỉnh thoảng sau một cuộc chiến, người ta chợt tìm thấy một sinh vật động đậy dưới những đống gạch của một thành phố đổ vỡ, của những trái bom đánh xập cả ngôi làng. Có cả em bé sơ sinh sống sót nằm bên cạnh xác Mẹ. Thật là kỳ diệu!

 

Bông hồng có biết nó là đóa hoa duy nhất còn sót lại trên những cành khô đầy gai nhọn, liệu hoa có sống hết mùa đông này không, khi sương và tuyết sẽ phủ hết cánh hoa? Em thơ có biết mình là người sống sót duy nhất trong gia đình, dưới tàn phá của chiến tranh? Em sẽ tiếp tục sống trong một đất nước đạn bom nhiều hơn bánh kẹo. Thật sự, điều này chỉ có Thượng Đế biết.

Đóa hoa sẽ nở hết vẻ mỹ miều của nó cho đến khi tàn tạ, em bé sẽ sống hết đời mình sau chiến tranh, nếu chiến tranh chấm dứt trên quê hương em. Đóa hồng sót lại và em bé sống sót. Cả hai đều cô đơn cả hai trong tay Thượng Đế.

 

Chiến tranh vẫn bốc khói ở nơi nào đó trên thế giới, vẫn làm rung động đến mặt đất yên lành của những nước đang được hưởng hòa bình, và phép lạ vẫn xảy ra dưới những thành phố đổ nát, trên những con đường di tản.

 

Con trai út của tôi dạy ở Montessori, cậu rất yêu và có kinh nghiệm với trẻ nên đã dạy hơn 20 năm rồi, cậu luôn có một người phụ dạy và bao giờ cũng là một phụ nữ, mới đây người phụ dạy nghỉ, thay vào một một phụ nữ khác, ngoài 40 tuổi. Gia đình bà mới định cư ở Mỹ dưới 2 năm, bà là người Ukraine di tản. (Khi ở Ukraine bà là giáo sư trung học.) Một hôm bà nói với con tôi là bà có một cậu con trai đang theo học ở College và rất cần được kèm thêm về Toán. Con trai tôi liền volunteer bố mình (Bố cậu về hưu cả 7 năm rồi, và hay kèm Toán miễn phí cho học sinh, sinh viên kém toán) Cậu thanh niên Ukraine sau một thời gian được kèm toán đã lấy được điểm A.

 

Christmas vừa qua, cậu mang cha mẹ tới nhà tôi cám ơn thầy giáo. Một cậu bé 20 tuổi, cao lớn, ngồi nói về chiến tranh và di tản. Cậu nói tiếng Anh giỏi hơn cha mẹ nên cậu làm thông ngôn cho hai người, khi họ gặp chữ khó… Gia đình họ có 4 người. Người Cha, ông Pavlo, lúc chiến tranh xẩy ra, ông đang làm việc ở bên Đức, ông làm về xây cất. Cô con gái lớn thì đang du học ở Ba Lan, bà Natalia là giáo sư của một trường Trung Học ở Ukraine. Họ chạy từ Ukraine đến Ba Lan rồi sang Mỹ định cư (trên giấy tờ họ chỉ có quyền ở lại cho đến khi Ukraine hết chiến tranh họ phải quay về.) Là một gia đình thuộc thành phần có học và khá giả nên họ mới chạy được ra khỏi bom đạn từ Ukraine tới Ba Lan và vào được Mỹ (Một học trò của bà Natalia ở Mỹ lâu năm, bảo lãnh gia đình bà vào Mỹ).

 

Với chính phủ Trump sắp tới, chiến tranh còn hay hết, họ có thể bị trục xuất sớm hơn, có thể cả ngay khi Ukraine vẫn còn bom rơi đạn nổ…Cầu mong cho chuyện đó không sẩy ra. Gia đình Ukraine này là một trong những gia đình may mắn. Bà Natalia ngồi kể về cuộc chiến ở Ukrain với tất cả nỗi kinh hoàng, khi binh lính Nga bắt được người Ukraine, họ tàn sát tất cả người già và trẻ em, ngay cả phụ nữ đang mang thai.

 

Tôi nhìn chàng thanh niên 20 tuổi, mặt còn lấm tấm mấy cái mụn trứng cá của tuổi đang lớn, nét hân hoan hiện rõ trên mặt khi câu báo đã lấy được điểm A về toán. Nếu bị trục xuất ra khỏi Mỹ và phải trở lại Ukraine hay Ba Lan, điều gì sẽ xảy ra cho cậu và gia đình…

 

Họ cho biết dù Ukraine có hết chiến tranh họ cũng muốn được ở lại Mỹ.

 

Chiến tranh Ukraine bắt đầu từ ngày 24 tháng 2 năm 2022, đến nay đã được 3 năm. Chiến tranh cũng đang diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới. Ngoài những người lính của bất cứ phe nào, nước nào, phải hy sinh thì trẻ em và người già là nạn nhân có con số cao nhất.

 

Tôi đọc trên một bản tin câu nói đau thương này: «bên nào có thể cung cấp nhiều đạn dược cũng như là nhiều "bia người đỡ đạn", thì bên đó có nhiều cơ may thắng thế » (RFI-Thế giới 1 năm hỗn loạn)

 

Càng kéo dài chiến tranh càng nhiều người chết, cả hai phía cùng chết và chắc chắn Ukraine sẽ chết nhiều hơn nếu tính theo phần trăm dân số… và mặc dù Ukraine không nhiều lính nhiều đạn bằng Nga.

 

Chiến tranh bao giờ cũng đi đôi với nỗi chết. Chết vì bom đạn, chết vì chạy loạn, đói khát, dẫm đạp lên nhau… nhưng trong những bức ảnh chiến tranh đau thương đó, như một phép màu, ta thỉnh thoảng lại bắt gặp một sự sống còn ngoài sức tưởng tượng của con người: Như em bé sơ sinh được lôi ra dưới đóng gạch còn sống khi một đầu cuống rốn vẫn dính vào cuống nhau của người mẹ đã chết, và em đươc đặt tên là Aya (tiếng A Rập có nghĩa là may mắn). Như một gia đình 8 người, không ai sống sót trừ bé gái lên 5 tuổi, được lôi ra dưới đống gạch ngói vụn vỡ… và còn bao nhiêu phép màu nữa chỉ có Thượng Đế mới giải thích được.

 

Một em bé sống sót trong chiến tranh khi cả nhà chết hết, có khác gì một bông hồng duy nhất còn sót lại trên một thân cây khô khốc không còn một chiếc lá chỉ còn toàn những gai tua tủa đâm vào mùa đông.

 

Em sẽ sống tiếp thế nào… trong tình thương không phải của từ cha mẹ, mà của bà con, dòng họ, hay những tấm lòng từ thiện của những đồng hương, của hội Bác Ái… Giống như đóa hoa sẽ tồn tại bao lâu giữa khắc nghiệt của mưa, tuyết mùa đông... Chỉ có Thượng Đế mới trả lời được những câu hỏi này.

 

Từ ngày 24 tháng 10 năm 2023 khi chiến tranh xảy ra ở Gaza đến nay, đã có 41,800 người thiệt mạng, trong số đó trẻ em đếm được là 17,600 em. Các em không chỉ chết vì bom đạn mà còn chết vì đói, lạnh. Có em bé nào được may mắn sống còn trong cuộc chiến Gaza như bông hồng sót lại trong mùa đông này?

 

Chiến tranh sẽ chấm dứt ở đâu đó hay sẽ tiếp tục và xuất hiện thêm ở một vài nơi khác. Thượng Đế có còn đang cúi nhìn xuống mặt đất này nữa không?

 

Tết âm lịch Ất Tỵ 2025 đang gõ trên cánh cửa thời gian. Ngoảnh mặt lại Việt Nam Cộng Hòa đã năm mươi (50) năm lịch sử sang trang. Bao nhiêu mái tóc xanh đã nhuộm đi nhuộm lại mà vẫn bạc màu, bao nhiêu người thân trong gia đình, người thân trong cộng đồng, người chỉ nghe tên nhưng chưa gặp mặt đã từ từ bỏ đi… Đi đâu nào ai biết chắc, chỉ đoán là họ đi về một nơi êm ả hơn,một nơi như có như không… một nơi mà người còn tỉnh thức đoán là… nơi cuối.

 

Trong 50 năm đất trời đảo ngược đó, đã có bao nhiêu bông hoa còn sót lại, sống còn với rung động của mưa nắng, giông bão đất trời.

 

Những bà mẹ trẻ 50 năm trước một thân gày, ôm con chạy dưới đạn bom, rồi một thân nuôi con, sống còn như bông hoa cô đơn tồn tại trên cành đầy gai và nắng lửa, mưa tuyết… Những bà mẹ đó bây giờ đã già lắm rồi và có người đã nằm yên trong đất.

 

Những người lính Quốc Gia còn sót lại của 50 năm đó, sau hơn 5,10 năm bị vùi dập trong những trại Cải Tạo, bị nhốt bỏ đói trong những thùng sắt (Conex) bây giờ ra sao? Bao nhiêu người đã thành cát bụi, đã tro than trôi ra biển, bao nhiêu người vẫn tồn tại, gậm nhấm nỗi đau trong nhà già.

 

Dù họ là ai, họ sống ra sao bây giờ… họ vẫn là những bông hoa cô đơn nhưng đầy nhân cách, sống còn với những chiếc gai và mùa đông khắc nghiệt của đời người.

 

Bông hoa hồng còn sót lại trên cái cây đầy gai, có qua được mùa đông này không? Sao mà khó thế! Nhưng tôi biết, bằng cách nào đó nó cũng tỏa hương cho đến cánh cuối cùng khi mùa đông tới.

 

Tôi đang nghĩ tới những người lính già trong những “Nhà Già” những bông hoa đơn độc giữa những cành đầy gai, vẫn kiên cường đếm từng mùa đông đi qua.

 

tmt

  • Đánh dấu: 50 năm VNCH di tản (4-30-1975) và 3 năm chiến tranh Nga và Ukraine. (2-24-2022-2025)
  • Bé Aya - có nghĩa là phép màu trong tiếng Ả Rập - được tìm thấy còn sống, bé bị chôn vùi dưới đám bê tông đổ nát sau hơn 10 giờ. Dây rốn của bé vẫn còn nối với cuống nhau của người mẹ đã chết.

 

  • Tin mới nhất trong tháng 2-2025 của NBC cho biết:  Chính phủ Donald Trump đang muốn dùng quyền lực của mình giúp đỡ Ukraine bằng cách trao đổi: Nếu Mỹ giúp Ukraine chấm dứt chiến tranh thì Ukraine phải để Mỹ có quyền khai thác khoáng sản đất hiếm của Ukrain để trả ơn. Đề nghị này Tổng Thống Zelenki đã không chấp nhận. (Kinh nghiệm của các nước nhược tiểu: Mỹ chẳng cho không ai cái gì bao giờ)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
“Làm nghệ sĩ là một lời cam kết với đồng loại rằng những vết rách của kiếp sống sẽ không biến ta thành kẻ sát nhân,” Louise Bourgeois từng viết trong nhật ký thuở thiếu thời. “Những kẻ làm thơ — tôi muốn nói: mọi nghệ sĩ — rốt cuộc là những kẻ duy nhất biết sự thật về chúng ta,” James Baldwin từng viết ở tuổi ba mươi, “…không phải binh lính, càng không phải chính khách… chỉ có thi sĩ.” Và sự thật ấy, cách ta yêu, cách ta cho đi, và cách ta chịu đựng –là chính bản thể của ta.
Tờ Việt Báo Kinh Tế số 28 ngày 13 tháng 2 năm 1993 có đăng bài thơ “Lửa, Thấy Từ Stockholm” của nhà thơ Trần Dạ Từ, nhân tuần lễ nhà văn Thảo Trường thoát khỏi nhà tù lớn đến định cư ở Hoa Kỳ. Đây là bài thơ Trần Dạ Từ viết từ 1989 rời Việt Nam, khi được các bạn Văn Bút Thụy Điển mời ăn cơm chiều, Ông nhớ đến bạn còn ở trong tù khổ sai dưới chân núi Mây Tào, Hàm Tân. 33 năm đã trôi qua kể từ ngày chúng ta chào đón nhà văn Thảo Trường đến Hoa Kỳ, 15 năm kể từ ngày Thảo Trường từ bỏ thế gian, Chiều Chủ Nhật tuần này, 22 tháng Sáu, nhân dịp tái xuất bản bốn cuốn sách của Thảo Trường (Hà Nội, Nơi Giam Giữ Cuối Cùng; Người Khách Lạ Trên Quê Hương; Ngọn Đèn; Lá Xanh), bạn bè văn hữu và gia đình cùng tề tựu tưởng nhớ Nhà Văn. Việt Báo trân trọng mời độc giả cùng đọc, cùng nhớ nhà văn lớn của chúng ta, một thời, một đời.
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Theo một ý nghĩa nào đó, Farrington đóng vai trò là một kiểu người có thể thay thế hoặc tồn tại ở bất cứ đâu, có thể là một nhân vật đặc trưng nào đó nhưng cũng có thể là một người bình thường. Bằng cách chọn chủ thể như thế, Joyce đưa Farrington vào bối cảnh đường phố Dublin và gợi ý rằng sự tàn bạo của gã không có gì là bất thường. (Lời người dịch).
Thông thường người ta thỏa thuận những tác phẩm và những tác giả đó thuộc về văn học bản xứ với phụ đề “gốc Việt.” Thỏa thuận đó đặt cơ bản trên ngôn ngữ, có tên gọi “ngôn ngữ chính thống”, còn tiếng Việt là “ngôn ngữ thiểu số.” Tất cả những ý nghĩa này được nhìn thấy và định nghĩa từ những người bản xứ của ngoại ngữ. Còn người Việt, chúng ta nhìn thấy và nghĩ như thế nào? Hai tập thơ tiếng Hán của Nguyễn Du, thuộc về văn học Trung Quốc hay Việt Nam? Những bài viết, sách in tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Latin của các học giả và các linh mục dòng tên, thuộc về văn học nào?
Đứa trẻ đi học bị bạn bè bắt nạt ở trường về nhà mét mẹ, một đứa trẻ bị trẻ con hàng xóm nghỉ chơi, về nhà mét với mẹ, cô con gái bị người yêu bỏ về tâm sự với mẹ, v.v., nói chung những đứa trẻ cần bờ vai của mẹ, bờ vai mẹ là nơi các con nương tựa. Con cái thường tâm sự với mẹ về những phiền não hàng ngày hơn tâm sự với cha. Ngày của mẹ là ngày tưng bừng, náo nhiệt nhất. Cha thường nghiêm nghị nên trẻ con ít tâm sự với cha. Nói như thế, không có nghĩa là trẻ con không thương cha? Không có cha làm sao có mình, cho nên tình thương cha mẹ cũng giống nhau, nhưng trẻ con gần mẹ hơn gần với cha. Khi đi học về, gọi mẹ ơi ới: mẹ ơi, con đói quá, mẹ ơi, con khát quá, mẹ ơi, con nhức đầu, mẹ ơi,... Tối ngày cứ mẹ ơi, mẹ ơi. Nhất là những đứa trẻ còn nhỏ, chuyện gì cũng kêu mẹ.
Giải thưởng cho thể loại Tiểu Thuyết (Fiction) về tay nhà văn Percival Everett với tác phẩm James. Tiểu thuyết James là sự tái hiện nhân vật Huckleberry Finn trong tiểu thuyết Adventures of Huckleberry Finn của văn hào Mark Twain. Nhà văn Percival Everett kể lại góc nhìn của Jim, người bạn đồng hành của Huck bị bắt làm nô lệ trong chuyến du lịch mùa Hè. Trong James, Percival Everett đã trao cho nhân vật của Jim một tiếng nói mới, minh họa cho sự phi lý của chế độ chủng tộc thượng đẳng, mang đến một góc nhìn mới về hành trình tìm kiếm gia đình và tự do.
Văn học miền Nam tồn tại mặc dù đã bị bức tử qua chiến dịch đốt sách và cả bắt bớ cầm tù đầy đọa những người cầm bút tự do sau ngày Cộng sản Bắc Việt chiếm lĩnh miền Nam. Chẳng những tồn tại mà nền văn học ấy đã hồi sinh và hiện đang trở thành niềm cảm hứng cho các thế hệ Việt kế tiếp không chỉ ở hải ngoại mà còn cả trong nước. Có lẽ chưa có một nền văn học nào trên thế giới đã có thể thực hiện được những thành quả trong một thời gian ngắn ngủi chưa đầy một thế hệ như vậy. Bài viết này sẽ tổng kết các lý do dẫn đến thành quả của văn học miền Nam trong 20 năm, từ 1954 tới 1975, một trong hai thời kỳ văn học phát triển có thể nói là rực rỡ và phong phú nhất của Việt Nam (sau nền văn học tiền chiến vào đầu thế kỷ 20). Tiếp theo là việc khai tử văn học miền Nam qua chiến dịch đốt và tịch thu các văn nghệ phẩm, cầm tù văn nghệ sĩ của Việt cộng. Và kế là những nỗ lực cá nhân và tự nguyện để phục hồi văn học miền Nam tại hải ngoại và hiện trở thành nguồn cảm hứng cho các thế hệ Việt..
Văn học luôn được xây dựng trên tác giả, tác phẩm và độc giả, với những cơ chế tất yếu là báo, tạp chí văn học, nhà xuất bản, mạng lưới văn chương, và phê bình. Gần đây thêm vào các phương tiện thông tin xã hội. Trên hết là quyền lực xã hội nơi dòng văn học đang chảy, bao gồm chính trị, tôn giáo. Giá trị của một giai đoạn văn học được đánh giá bằng những thành phần nêu trên về sáng tạo và thẩm mỹ qua những cơ chế như tâm lý, ký hiệu, cấu trúc, xã hội, lịch sử… Việc này đòi hỏi những nghiên cứu mở rộng, đào sâu theo thời gian tương xứng.
Có lần tôi đứng trước một căn phòng đầy học sinh trung học và kể một câu chuyện về thời điểm chiến tranh Việt Nam chấm dứt, về việc tôi đã bỏ chạy sang Mỹ khi còn nhỏ, và trải nghiệm đó vẫn ám ảnh và truyền cảm hứng cho tôi như thế nào, thì một cô gái trẻ giơ tay hỏi tôi: “Ông có thể cho tôi biết tại sao cha tôi không bao giờ kể cho tôi nghe về cuộc chiến đó không? Cha tôi uống rượu rất nhiều, nhưng lại ít nói.” Giọng nói cô run rẩy. Cô gái bảo cha cô là một người lính miền Nam Việt Nam, ông đã chứng kiến nhiều cảnh đổ máu nhưng nỗi buồn của ông phần nhiều là trong nội tâm, hoặc nếu đôi khi thể hiện ra ngoài thì bằng những cơn thịnh nộ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.