Hôm nay,  

Nhà Phê Bình Thám Tử

16/02/202519:13:00(Xem: 3128)

nha phe binh tham tu truyen ngan ngu yen

 

 

Xác Hoàng cháy đen, tìm thấy, kẹt trong chiếc xe nổ tung, cháy rụi. Đáng lẽ nhà quàn không trưng bày trong hòm mở nắp, nhưng di chúc của anh, đã viết sẵn, muốn được nhìn thấy người thân, bạn bè, người quen một lần cuối. Hoặc đó là câu viết trá hình cho ý nghĩ ngược lại. Anh có tiểu sử làm việc cho văn phòng thám tử tư nổi tiếng trong tiểu bang Texas, trước khi trở thành nhà phê bình nổi bật và có thú chơi leo núi. Cả hai nghề nghiệp này đều có điều gì ngược ngạo với sự thật.

Xác quấn băng vải đen, kín mít kiểu xác ướp Ai Cập. Xác đen, hòm nền vải đỏ láng, trông kỳ dị. Anh độc thân, chỉ có một em gái, Yến, và cô đã quyết định làm theo ý anh nhưng chỉ trưng bày một ngày, thay vì hai, sau đó sẽ đốt một lần nữa.  

Vì chỉ một ngày thăm viếng, người đến đông đảo từ sáng đến tối. Phòng quàn trở thành nơi xì xào, ,kéo dài ra ngoài sân trở thành ồn ào. Bạn văn chương của nhà phê bình, bạn vui chơi ăn nhậu với nhà thám tử, bạn thể thao leo núi, và bạn giang hồ, tụ tập như tại một ngã tư người đổ về từ bốn phương.

Quan tài mở nắp, chỉ một dàn hoa tang. Không có bàn thờ. Không nhang khói. Không có chữ viết treo lủng lẳng. Có người nhìn cảnh xơ xác, cảm thấy tội nghiệp. Có người cảm thấy nghệ thuật độc quạnh, cho là độc đáo.

Có lẽ, người chết cháy cần phải chôn cất vội vã. Sự chuẩn bị của mọi người gần như tối thiểu. Yến biết anh mình không tin đời sau. Mọi ý nghĩa, mọi giá trị đều ở đời này. Anh tin vào sự hữu hiệu, hữu ích của tinh thần và vật chất. Có trường hợp tinh thần cao hơn. Có trường hợp vật chất cần thiết hơn. Anh thường nói với Yến, sống là chuổi chọn lựa giữa tinh thần và vật chất. Vì vậy, nàng chọn lựa không khí tinh thần cho đám tang thay vì vật chất rình rang.

Hoàng quan sát, theo dõi người xung quanh.

Hoàng xém chút nữa bật la lớn khi cô bạn gái đến nhìn xác đen thui, tay chân cong queo, hình thể méo mó, cô gập người xuống, mửa thốc vào quan tài. Những người phục vụ nhà quàn và Yến rối loạn lau chùi kỹ lưỡng, dù sao vẫn phảng phất mùi chua. Cô bạn gái khóc thảm thiết, không biết vì thương xót hay vì xấu hổ. Yến lén lấy chai dầu thơm mang theo trong xách tay, xịt vào quan tài và lên thân xác người anh khốn khổ.

Thế giới của Yến yên tĩnh, khác hẳn thế giới của Hoàng. Nàng ly dị chồng, tuổi trạc ba mươi hơn, có hai đứa con. Làm việc cho một công ty kế toán. Sống khép kín với tâm nguyện nuôi con nên người. Có lần anh nàng nói, “Em li dị không phải đi tu.” Anh đưa cho Yến  cất giữ giấy tờ cần thiết. Trong di chúc, anh để lại cho em gái duy nhất tất cả tài sản. Bảo hiểm nhân thọ và hàng ngàn cuốn sách.

Yến ngồi trong phòng quàn suốt ngày, lịch sự chào hỏi, trả lời qua loa những câu hỏi qua chuyện.  Không biết từ đâu anh Hoàng quen nhiều người quá vậy. Em không thể dối lòng, anh chết, em cũng buồn, nhưng đồng thời thoải mái và vui. Số tiền bảo hiểm nhân thọ của anh sẽ giúp em mua nhà, thay xe cũ và cho con vào đại học. Thiệt là cảm ơn anh. Còn mấy ngàn cuốn sách, anh mua làm gì nhiều quá vậy. Bao nhiêu tiền đó, anh có thể làm nhiều chuyện có lợi hơn đọc sách. Người ta nói anh gàn. Đúng thôi. Từ nhỏ đã như vậy. Họ đến càng đông càng tạo nên không khí vui nhiều hơn buồn, cho dù buồn giả vờ. Rất ít người trang nghiêm, càng ít người thương tiếc. Họ chia ra nhiều nhóm khác nhau, thì thào, cười rúc rích. Có người đang cười vội tắt, vội bụm miệng vì cảm thấy có lỗi với người bị cháy. Sách của anh em không muốn giữ. Bỏ rác thì phí phạm. Các thư viện không còn nhận sách cho. Anh Hoàng, lái xe giỏi như anh, sao lại rớt xuống đèo? Hai người bạn của anh đang chụp hình xung quanh quan tài. Đó, anh thấy chưa, họ cố đưa đầu anh cháy vào khung chụp với ánh mắt giả buồn và khóe miệng nhếch vui. Mai họ sẽ đưa hình lên facebook với đôi lời thương tiếc quen thuộc để đổi lại mấy bàn tay bật ngón cái, trái tim, và mặt tròn phun lệ. Hoàng từng nói với Yến, nếu cái chết một người có thể tạo niềm vui cho người khác, cái chết đó có giá trị. Yến không tin.

Hoàng quan sát, theo dõi người xung quanh.

Yến đếm trên đầu ngón tay những người mặc y phục đen phù hợp viếng tang. Hầu hết mặc áo quần bình thường như đang đi làm hoặc đang dạo phố chợ ghé qua. Duy một đàn ông khác thường làm nàng chú ý. Ông mặc quần jean xanh và áo sweatshirt xám đậm, có mũ chùm, kéo che hết nửa mặt. Ông đến rất sớm. Ngồi yên trong một góc kiểu con mèo rình chuột. Khi người viếng đông dần, ông di chuyển nhẹ nhàng đến gần nhóm này rồi sang nhóm khác, tham dự nhưng không nói gì, có thể là người bạn câm hoặc một thám tử, bạn kỳ dị của anh Hoàng. Cũng có thể là gã vô gia cư chuyên đến đám tang lẫn lộn vào khách viếng để ăn chiều. Yến đã mang đến bánh mì, bánh bao, xôi chè, cà phê, nước uống trong phòng ăn cạnh bên. À, cây chanh anh mua cho em tết năm trước, tuần rồi mới ra hoa. Thơm thật là thơm. Kìa, có một cô đang đánh lại màu son môi để chụp với ma. Anh thật là giống ma.  Có lúc ông khách khác thường lẻn ra ngoài sân với đám ồn ào. Có lúc ông vào phòng quàn với nhóm xì xào. Dường như không ai quan tâm ông hiện diện, ngoài trừ Yến. 

Hoàng quan sát, theo dõi người xung quanh.

Bất chợt Hoàng nghe mấy bà ngồi hàng thứ ba thì thầm. -- “Không biết anh này lúc còn sống ăn ở ra sao mà đến nổi bị chết cháy. Chết rồi còn bị mửa lên. Có khi xui xẻo đến ba đời.” -- “Tôi quen anh ta khá lâu. Ham chơi thôi, tài hoa, tốt bụng, được nhiều cô chú ý.” -- “Thời buổi bây giờ mà còn nói chuyện dị đoan như bà. Bác sĩ Nhân, luật sư Thiện, giáo sư đại học Hoàng Tiến, cha mẹ họ chết đuối ở biển Đông khi vượt biên, xui chỗ nào đâu?”

-- “Nghe nói, khi kéo anh ra khỏi xe, chỉ còn thân mình và cái đầu. Không có chân tay. Chắc đã bị cháy rụi.” -- ”Cái xác kia tuy băng bó nhưng đầy đủ chân tay mà.” --”Chân tay giả.” --”Giả giống như thật, cong queo giống như cháy.” 

Có một lúc Hoành chú ý đến nhóm nhà văn đang đấu láo ở ngoài sân.

-- “Anh Hoàng mất sớm quá. Nghe nói anh sắp đưa ra một phong cách phê bình văn học mới. Các bạn có biết không?” -- “Ông nội này phê phán thẳng thừng làm mất lòng nhiều người. Các bạn biết mà. Họ thù cho đến chết.” -- “Ừ, dân ta mà thù ai, ngoài miệng tươi cười mà trong lòng đỏ lửa.” -- “Phê bình mà chỉ khen với nịnh thì phê bình làm gì. Viết một bài ca ngợi cho rồi.” -- “Văn học kém vì không có phê bình đúng đắn. Văn chương giậm chân tại chỗ, lỗi thời vì không có văn học cập nhật với thế giới.” -- “Anh ta phê phán sắt như dao bén. Đúng hay không chưa biết, nhưng ghét bỏ, thù hận là chắc rồi." -- “Các ông biết không, nhóm “Nhân văn Mã thượng” ghét thằng này lắm. Đám mạng lưới “Văn học truyền kỳ” cũng vậy.” -- “Đúng, tui ghét thằng đó.” -- “Vậy đến đây làm gì?” -- “Coi nó cháy.” -- “Mấy ông hèn quá. Lúc Hoàng còn sống sao không nói thẳng với nó hay viết bài chửi nó.” Một người trong bọn nói lớn tiếng, vất điếu thuốc xuống đất, giậm lên, chà nát tàn lửa, rồi bỏ đi ra. Chiếc xe Toyota của anh phóng nhanh khỏi bãi đậu. 

Hoàng quan sát, theo dõi người xung quanh.

Anh đi nhẹ vòng ra sau lưng nhóm đàn ông trung niên còn rề rà nơi phòng ăn với ly cà phê nóng. _ “Các ông biết không, lúc Hoàng còn làm thám tử tư, hắn giải quyết nhiều vụ án tưởng phải xếp hồ sơ vì không tìm ra thủ phạm.” -- “Nghe nói, anh ta bị bọn xã hội đen ám sát nhưng hụt chết.” -- “Tôi quen Hoàng khá lâu, biết rõ tính tình của anh ta. Hoàng tin tưởng vào việc sử dụng thực tế rồi hư cấu bằng tưởng tượng để cảm thấy được những mặt khác sâu, rộng và vô hình. Sau đó đem vô hình áp dụng lại, thực tập vào thực tế hữu hình. Như vậy có thể nhìn thấy những cách tiếp cận sự thật.”

 

Nhìn thấy Phượng ngồi lặng lẽ trong một góc. Hoàng xúc động đến gần, đứng im sau lưng. Chàng cảm được sức đau đớn của nàng toát ra từ vóc dáng lưng cong và đầu cúi xuống. Phượng là người yêu mới nhất, quen nhau hơn sáu tháng và chàng có ý định sẽ cưới nàng làm vợ, nhưng bây giờ thì không cách nào. Mọi chuyện xảy ra bất ngờ và nhanh chóng. Tiễn biệt người yêu qua đời sau là một thứ gì khủng khiếp hơn lời diễn tả mà người nữ phải cam nhận. Sợ mình không thể kìm chế được lòng, Hoàng bỏ đi qua nhóm khác.

 -- “Nghe nói, anh ta thay đổi cách phê bình văn học. Không biết có đúng không?” _ “Theo tôi hiểu thì như thế này.” _ “Đừng nói cao cấp quá, tôi không nắm bắt được.” __ “Này, tôi ví dụ bình dân nhá. Nếu anh phê phán tôi là bắc kỳ già, thành công nhờ trên bợ, dưới đạp. Tất nhiên tôi sẽ thù anh và chờ có dịp sẽ ra tay trả đủa. Nhưng nếu anh nói vui vẻ rằng tôi thành công nhờ lúc nào mất thăng bằng có người ở dưới đỡ đần, rồi khi kẻ trên chao đảo tôi lại xoay xở giúp họ lấy lại tư thế. Như vậy, tôi vừa hài lòng vừa hiểu rõ ngụ ý của anh.” -- “Hay a!”

Hoàng nhận ra anh Lực, người cố gắng giải thích học thuyết Phê bình Thám tử. Ví dụ của anh không sát nghĩa lắm. Thực tế, phê bình phải gần gũi với giải trí để người đọc có thể hưởng thụ sự thú vị văn chương. Nhưng phê bình đã theo học thuật và hàn lâm nghiêm túc quá xa, mất hết độc giả. Phê bình cần phát ra từ tấm lòng làm đẹp làm hay và một phong cách diễn đạt bình tĩnh xem trọng thẩm mỹ, không mang ý định phê chuẩn. Nhà phê bình cần chuyển hướng và tái tạo lại cơ bản.

-- “Anh chàng này thích leo núi. Dù là tài tử anh đã leo nhiều ngọn núi cao.” -- “Trò này nguy hiểm.” -- “Vâng, leo núi không chỉ cần can đảm mà cần tinh thần chinh phục cao.” -- “Anh Hoàng là một nghệ sĩ leo núi. Có lần anh bỏ ra nửa ngày đề lần mò như thằn lằn bò ra mõm đá cheo leo giữa trời, chỉ để bứng một cánh lan núi hiếm có.” Hoàng cảm thấy sung sướng khi nhớ lại giây phút anh gỡ hết rễ lan bám sâu vào đá, rồi một tay bỏ vào ba lô đeo bên hông. Tìm cái đẹp không phải dễ dàng chỉ phô trương bằng chữ. Sau khi tìm được, nuôi cái đẹp cho nó thêm đẹp lại là một công trình công phu khác.

Một nhóm trẻ chụm nhau ở góc phòng sau phòng quàn. Có đứa gọi Hoàng bằng anh, có đứa gọi bằng chú. Thậm chí có đứa gọi bằng thầy. Họ khá gần gũi với Hoàng về chữ nghĩa. Hoàng di chuyển từ tốn đến gần lắng nghe.  -- “Em ra trường cử nhân văn chương, rồi theo khoa nghiên cứu phê bình văn học, nhưng em thích lối phân tích phê bình của thầy Hoàng. Hay nhất là không gây rối.”-- “À, mới đây thôi. Trước kia anh Hoàng gây nhiều sôi nổi trong giới văn chương Việt. Lối phê bình cũ của anh trung thực mà đau đớn.”-- “Vậy sao, còn lối mới thì thế nào? -- “Anh chia sẻ với tớ, gọi đùa là lối “phê bình thám tử.” -- “Nghĩa là sao?” -- “Anh Hoàng nói, trước kia anh lầm, cần phải xin lỗi nhiều người. Lối phê bình mới bắt đầu từ khái niệm… Ê, muốn nghe không?” -- “Đừng lào xào để ảnh nói tiếp.” -- “Anh Hoàng giải thích với tớ rằng người ta thường nghĩ, thám tử là việc đi tìm bằng chứng để bắt kẻ gian. Không phải, công việc của thám tử là tìm ra sự thật. Đúng hơn, là làm sao để người khác thấy được sự thật. Phê bình không cần phải kết án đúng sai, mà làm sao cho sáng tỏ ý nghĩa của văn bản, của tác giả cho người đọc tiếp cận.” -- “Rồi sao?” -- “Tiếc quá, tớ không biết gì thêm.”

Hoàng muốn giải thích với họ, phương pháp tìm hiểu điều tra của thám tử khác với công an cảnh sát, càng khác với lối hành xử của tòa án và thẩm phán. Quan điểm hành sự của thám tử dựa trên khoa học và bằng chứng, cùng một lúc với khả năng tưởng tượng. Chỉ có tưởng tượng của người đọc mới bắt kịp vô thức của người viết. Nhưng anh không thể nói.

Hoàng quan sát, theo dõi người xung quanh. Họ bắt đầu ra về. Trả lại bản chất yên tĩnh thê lương dễ sợ cho nhà chứa xác.

Gần giờ đóng cửa. Vài người bạn thân với Hoàng giúp Yến dọn dẹp phòng ăn, đổ rác và sắp đặt lại bàn ghế. Xong việc, họ từ giã ra về. Trong phòng quàn chỉ còn Yến và người đàn ông đội mũ chụp.

Nàng đến trước quan tài nhìn anh mình đen đuổi nằm dị dạng. Anh Hoàng, mai em sẽ mang tro anh chôn dưới cây chanh trong chậu như anh dặn dò. Mùa sau chanh ra trái em sẽ làm chanh muối và kẹo chanh gừng. Xác chết quấn vải đen dưới ánh đèn vải đỏ láng, lấp lánh như lửa ngọn. Anh Hoàng, em không hiểu, mình chỉ có hai anh em mà sao ít thương nhau như những gia đình khác. Có lẽ vì khác tính. Anh giống ba, em giống má. Nhưng ba má thương nhau đến già. Có lẽ tại anh trăng hoa với đàn bà làm cho chồng em bắt chước. Ừ, không phải tại lỗi anh đâu. Yến nhìn xuống dưới phần chân của Hoàng, thấy chiếc khăn tay màu trắng của ai nhét dưới lớp vải. Vài góc khăn chĩa lên, vài nụ hoa kèn trinh bạch. Anh Hoàng, lại con nhỏ nào lãng mạn.

Yến tổng kết lại một ngày hơn 12 tiếng ở phòng quàn. Thời gian cuối cùng của xác chết với người sống trước khi tan vào tro bụi. Mửa, khóc, mỉa mai, ác ý, dò hỏi, chia sẻ, vân vân, đủ thứ loại tình cảm, dù tốt hay xấu cũng làm người sống mỏi mệt, làm người chết không được yên.

Thấy người đóng phòng xuất hiện, Yến lấy xách tay, chào, cảm ơn, hẹn ngày mai, nàng đi ra cửa. Người đàn ông kỳ dị đi xéo qua, chận đường nàng ngoài hành lang. Yến định sừng sộ, nhân viên nhà quàn còn nấn ná xung quanh.

Người đàn ông kéo vành mũ sụp lên. Ánh mắt và nụ cười quen thuộc, ông đưa ngón tay lên miệng, ra dấu đừng lên tiếng. Rồi đưa nàng xâu chìa khóa.  --”Em nhớ đến văn phòng làm giấy tờ lấy bảo hiểm. Chìa khóa lớn mở cửa trước phòng anh. Chìa khóa nhỏ mở tủ sắt ở đầu giường. Đừng tìm anh. Khi nào thuận tiện anh sẽ tìm em. Giữ im lặng, tuyệt đối, không cho ai biết.” Anh ta quay lưng bỏ đi, nói vừa đủ nghe: --”Thằng ăn cắp xe anh rớt đèo chết cháy. Đừng chôn tro nó dưới gốc chanh.”

Ngu Yên, 2024.
Truyện ngắn, 2,910 chữ. 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
“Làm nghệ sĩ là một lời cam kết với đồng loại rằng những vết rách của kiếp sống sẽ không biến ta thành kẻ sát nhân,” Louise Bourgeois từng viết trong nhật ký thuở thiếu thời. “Những kẻ làm thơ — tôi muốn nói: mọi nghệ sĩ — rốt cuộc là những kẻ duy nhất biết sự thật về chúng ta,” James Baldwin từng viết ở tuổi ba mươi, “…không phải binh lính, càng không phải chính khách… chỉ có thi sĩ.” Và sự thật ấy, cách ta yêu, cách ta cho đi, và cách ta chịu đựng –là chính bản thể của ta.
Tờ Việt Báo Kinh Tế số 28 ngày 13 tháng 2 năm 1993 có đăng bài thơ “Lửa, Thấy Từ Stockholm” của nhà thơ Trần Dạ Từ, nhân tuần lễ nhà văn Thảo Trường thoát khỏi nhà tù lớn đến định cư ở Hoa Kỳ. Đây là bài thơ Trần Dạ Từ viết từ 1989 rời Việt Nam, khi được các bạn Văn Bút Thụy Điển mời ăn cơm chiều, Ông nhớ đến bạn còn ở trong tù khổ sai dưới chân núi Mây Tào, Hàm Tân. 33 năm đã trôi qua kể từ ngày chúng ta chào đón nhà văn Thảo Trường đến Hoa Kỳ, 15 năm kể từ ngày Thảo Trường từ bỏ thế gian, Chiều Chủ Nhật tuần này, 22 tháng Sáu, nhân dịp tái xuất bản bốn cuốn sách của Thảo Trường (Hà Nội, Nơi Giam Giữ Cuối Cùng; Người Khách Lạ Trên Quê Hương; Ngọn Đèn; Lá Xanh), bạn bè văn hữu và gia đình cùng tề tựu tưởng nhớ Nhà Văn. Việt Báo trân trọng mời độc giả cùng đọc, cùng nhớ nhà văn lớn của chúng ta, một thời, một đời.
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Theo một ý nghĩa nào đó, Farrington đóng vai trò là một kiểu người có thể thay thế hoặc tồn tại ở bất cứ đâu, có thể là một nhân vật đặc trưng nào đó nhưng cũng có thể là một người bình thường. Bằng cách chọn chủ thể như thế, Joyce đưa Farrington vào bối cảnh đường phố Dublin và gợi ý rằng sự tàn bạo của gã không có gì là bất thường. (Lời người dịch).
Thông thường người ta thỏa thuận những tác phẩm và những tác giả đó thuộc về văn học bản xứ với phụ đề “gốc Việt.” Thỏa thuận đó đặt cơ bản trên ngôn ngữ, có tên gọi “ngôn ngữ chính thống”, còn tiếng Việt là “ngôn ngữ thiểu số.” Tất cả những ý nghĩa này được nhìn thấy và định nghĩa từ những người bản xứ của ngoại ngữ. Còn người Việt, chúng ta nhìn thấy và nghĩ như thế nào? Hai tập thơ tiếng Hán của Nguyễn Du, thuộc về văn học Trung Quốc hay Việt Nam? Những bài viết, sách in tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Latin của các học giả và các linh mục dòng tên, thuộc về văn học nào?
Đứa trẻ đi học bị bạn bè bắt nạt ở trường về nhà mét mẹ, một đứa trẻ bị trẻ con hàng xóm nghỉ chơi, về nhà mét với mẹ, cô con gái bị người yêu bỏ về tâm sự với mẹ, v.v., nói chung những đứa trẻ cần bờ vai của mẹ, bờ vai mẹ là nơi các con nương tựa. Con cái thường tâm sự với mẹ về những phiền não hàng ngày hơn tâm sự với cha. Ngày của mẹ là ngày tưng bừng, náo nhiệt nhất. Cha thường nghiêm nghị nên trẻ con ít tâm sự với cha. Nói như thế, không có nghĩa là trẻ con không thương cha? Không có cha làm sao có mình, cho nên tình thương cha mẹ cũng giống nhau, nhưng trẻ con gần mẹ hơn gần với cha. Khi đi học về, gọi mẹ ơi ới: mẹ ơi, con đói quá, mẹ ơi, con khát quá, mẹ ơi, con nhức đầu, mẹ ơi,... Tối ngày cứ mẹ ơi, mẹ ơi. Nhất là những đứa trẻ còn nhỏ, chuyện gì cũng kêu mẹ.
Giải thưởng cho thể loại Tiểu Thuyết (Fiction) về tay nhà văn Percival Everett với tác phẩm James. Tiểu thuyết James là sự tái hiện nhân vật Huckleberry Finn trong tiểu thuyết Adventures of Huckleberry Finn của văn hào Mark Twain. Nhà văn Percival Everett kể lại góc nhìn của Jim, người bạn đồng hành của Huck bị bắt làm nô lệ trong chuyến du lịch mùa Hè. Trong James, Percival Everett đã trao cho nhân vật của Jim một tiếng nói mới, minh họa cho sự phi lý của chế độ chủng tộc thượng đẳng, mang đến một góc nhìn mới về hành trình tìm kiếm gia đình và tự do.
Văn học miền Nam tồn tại mặc dù đã bị bức tử qua chiến dịch đốt sách và cả bắt bớ cầm tù đầy đọa những người cầm bút tự do sau ngày Cộng sản Bắc Việt chiếm lĩnh miền Nam. Chẳng những tồn tại mà nền văn học ấy đã hồi sinh và hiện đang trở thành niềm cảm hứng cho các thế hệ Việt kế tiếp không chỉ ở hải ngoại mà còn cả trong nước. Có lẽ chưa có một nền văn học nào trên thế giới đã có thể thực hiện được những thành quả trong một thời gian ngắn ngủi chưa đầy một thế hệ như vậy. Bài viết này sẽ tổng kết các lý do dẫn đến thành quả của văn học miền Nam trong 20 năm, từ 1954 tới 1975, một trong hai thời kỳ văn học phát triển có thể nói là rực rỡ và phong phú nhất của Việt Nam (sau nền văn học tiền chiến vào đầu thế kỷ 20). Tiếp theo là việc khai tử văn học miền Nam qua chiến dịch đốt và tịch thu các văn nghệ phẩm, cầm tù văn nghệ sĩ của Việt cộng. Và kế là những nỗ lực cá nhân và tự nguyện để phục hồi văn học miền Nam tại hải ngoại và hiện trở thành nguồn cảm hứng cho các thế hệ Việt..
Văn học luôn được xây dựng trên tác giả, tác phẩm và độc giả, với những cơ chế tất yếu là báo, tạp chí văn học, nhà xuất bản, mạng lưới văn chương, và phê bình. Gần đây thêm vào các phương tiện thông tin xã hội. Trên hết là quyền lực xã hội nơi dòng văn học đang chảy, bao gồm chính trị, tôn giáo. Giá trị của một giai đoạn văn học được đánh giá bằng những thành phần nêu trên về sáng tạo và thẩm mỹ qua những cơ chế như tâm lý, ký hiệu, cấu trúc, xã hội, lịch sử… Việc này đòi hỏi những nghiên cứu mở rộng, đào sâu theo thời gian tương xứng.
Có lần tôi đứng trước một căn phòng đầy học sinh trung học và kể một câu chuyện về thời điểm chiến tranh Việt Nam chấm dứt, về việc tôi đã bỏ chạy sang Mỹ khi còn nhỏ, và trải nghiệm đó vẫn ám ảnh và truyền cảm hứng cho tôi như thế nào, thì một cô gái trẻ giơ tay hỏi tôi: “Ông có thể cho tôi biết tại sao cha tôi không bao giờ kể cho tôi nghe về cuộc chiến đó không? Cha tôi uống rượu rất nhiều, nhưng lại ít nói.” Giọng nói cô run rẩy. Cô gái bảo cha cô là một người lính miền Nam Việt Nam, ông đã chứng kiến nhiều cảnh đổ máu nhưng nỗi buồn của ông phần nhiều là trong nội tâm, hoặc nếu đôi khi thể hiện ra ngoài thì bằng những cơn thịnh nộ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.