Hôm nay,  

Đọc ‘909 Bài Thơ Ba Dòng’ Như Vào Mật Thất Đọc Bí Kíp Thơ

17/09/202100:00:00(Xem: 2995)
909-Bai-Tho-Ba-Dong
Hình bìa tập thơ “909 Bài Thơ Ba Dòng” của Nguyễn Hưng Quốc.
 
Tôi biết đến Nguyễn Hưng Quốc như một nhà phê bình văn học kiệt xuất rất nhiều năm về trước khi tôi đọc khá nhiều tác phẩm của anh, trong đó có cuốn “Văn Học Việt Nam, Từ Điểm Nhìn H(ậu H)iện Đại,” “Nghĩ Về Thơ,” “Tìm Hiểu Về Nghệ Thuật Thơ Việt Nam,” “Văn Học Việt Nam Dưới Chế Độ Cộng Sản,” “Mấy Vấn Đề Phê Bình và Lý Thuyết Văn Học,” v.v… Nhưng đây là lần đầu tiên tôi đọc thơ của anh qua cuốn “909 Bài Thơ Ba Dòng” vừa được Lotus Media xuất bản năm 2021.

Cảm nhận đầu tiên của tôi khi đọc “909 Bài Thơ Ba Dòng” là lạ, dí dỏm và sâu. Lạ vì cấu trúc và chữ nghĩa của bài thơ. Chẳng hạn trong bài thơ số 580:
 
Anh hôn em
Đến cạn cả
Giấc mơ
 
Về cấu trúc, chỉ gỏn lọn trong 3 dòng, nó thật quá cô đọng đến mức không còn có thể rút ngắn thêm được nữa, mà như Nguyễn Hưng Quốc đã viết trong Lời Nói Đầu là “nó bị nén chặt, thật chặt.” Cấu trúc này quả thật là rất lạ trong thơ Việt Nam xưa nay. Còn chữ nghĩa trong bài thơ này nữa. “Giấc mơ” trong dòng cuối của bài thơ làm người đọc không thể đoán trước, nó rất bất ngờ. Nó đúng là mở ra một khung trời khác mới lạ cho cảm nghĩ của người đọc.

Dí dỏm, vì hầu như đại đa số các bài thơ trong “909 Bài Thơ Ba Dòng” đều ẩn hiện đâu đó cái nét dí dỏm rất dễ thương và cũng rất ý vị. Thí dụ, trong bài thơ số 569.
 
Để đến với trái tim
Hắn phải trườn qua
Thân thể nàng
 
Bài thơ nói lên một sự thật ít ai chối cãi nhưng cũng ít ai nghĩ ra cách miêu tả như thế. Nó có chút phàm tục trong ý nghĩa thanh cao. Nhưng đọc xong bài thơ, tôi tin chắc hầu hết người đọc đều không thể nhịn cười.

Sâu, vì rất nhiều bài trong “909 Bài Thơ Ba Dòng” hàm ngụ một thứ triết lý nào đó về tôn giáo, lịch sử, đời sống, văn học, v.v… , như bài thơ 862.
 
Tôi thụ giáo những giọt sương
Bài học Bát Nhã
Sắc tức thị không
 
Nhìn những giọt sương, nhà thơ họ Nguyễn có thể giác ngộ được triết lý sâu thẳm “sắc tức thị không” của Bát Nhã (Tiếng Phạn đọc là Prajana – dịch âm là Bát Nhã, dịch nghĩa là Trí Tuệ), là giáo lý đức Phật dạy về trí tuệ quán chiếu bản chất mong manh giả tạm, không có tự tánh, không có tự ngã, chỉ là rỗng không của tất cả mọi sự mọi vật trên cõi đời này. Mọi thứ đều vô thường, biến hoại như sương mai, chợt có chợt không.

Đọc “909 Bài Thơ Ba Dòng” tôi lại có cảm nghĩ như mình đã tình cờ đi lọt vào một mật thất mà trong đó chứa đầy những bí quyết tinh mật về thơ, về việc làm thơ và về nhà thơ. Có lẽ, với kiến thức và kinh nghiệm phong phú về phê bình văn học và thơ mà nhà thơ họ Nguyễn đã nắm chặt trong tay mình những bí quyết, hay cũng có thể nói là những minh giải về thơ. Và khi đọc những bài thơ này tôi còn thấy phảng phất hình bóng và hơi hướng của một cây bút lý luận văn học chuyên nghiệp ẩn hiện đâu đó trong bài thơ.

Mật thất thứ nhất trong “909 Bài Thơ Ba Dòng” chứa đựng những bí quyết hay những minh giải về thơ. Xin trích ra đây một số bài thơ để độc giả tường lãm. Những con số nằm trong dấu ngoặc ở cuối mỗi bài thơ là số bài thơ trong tác phẩm “909 Bài Thơ Ba Dòng.”
 
Thơ ra đời từ
Lãnh cung
Của những đóa hoa hồng (2)
 
Bài thơ không có gì ngoài chữ
Chữ giao cấu với chữ
Đẻ ra nhà thơ (54)
 
Ánh trăng đâm thẳng vào trái tim của hắn
Hắn mất tân
Và bài thơ tình ra đời (73)
 
Tất cả mọi người đều là những tù nhân
Thơ là sự cứu rỗi
Cuối cùng (82)
 
Thơ là lời thì thầm của trái tim
Thơ là trò chơi của chữ
Thơ là ngón tay đeo nhẫn của Chúa (98)
 
Thơ trở thành nguồn cứu rỗi duy nhất
Sau khi Thượng Đế bị
Truất phế (109)
 
Thơ là nơi tôi chôn giấu những nỗi
Không thể nói được
Với bất cứ ai (123)
 
Trong những điều kỳ diệu, ngôn ngữ đứng đầu
Trong ngôn ngữ
Thơ đứng đầu (166)
 
Một bài thơ như tiếng chó sủa vu vơ dưới trăng
Nó khiến người ta giật mình
Thấy ánh trăng đẹp (167)
 
Thơ làm mới ngôn ngữ
Ngôn ngữ làm mới cái nhìn
Cái nhìn làm mới con người (70)
 
Thơ chỉ là cô điếm già
Đứng ngắm trăng
Trong lúc chờ khách (187)
 
Bài thơ nào cũng đến bất ngờ
Khi tia nắng chạm vào ngay giữa
Trái tim hoa (205)
 
Hắn mất tích trong các bài thơ của hắn
Mọi tìm kiếm đều
Vô vọng (208)
 
Mỗi bài thơ là một đám cưới của chữ
Phần lớn đều
Tuyệt tự (213)
 
Trong khế ước của thơ
Sự thành thực chỉ là điều
Phù phiếm (214)
 
Hễ còn nỗi buồn còn nhớ nhung còn tuyệt vọng
Là còn có thơ
Thơ là tiếng kêu của sự bất toàn (216)
 
Thơ là những nụ hôn
Kín đáo
Xuyên địa lý (231)
 
Không ai ngăn được thời gian
Nhưng thơ có thể vĩnh cửu hóa
Một khoảnh khắc (264)
 
Thơ
Bí tích hôn phối
Giữa các chữ (324)
 
Thơ: Những chữ bị đánh cắp
Bởi một giấc mơ
Thủng đáy (331)
 
Thơ là tiếng thì thầm
Của những giọt sương mai
Chưa mất trinh (332)
 
Thơ là những đóa hoa
Trễ kinh
Đứng khóc (347)
 
Mỗi bài thơ là một thương tích
Từ vết cắn
Của chữ (360)
 
Thơ khuếch tán
Tiếng thở dài của những
Hạt sương đêm (407)
 
Thơ là lời tỏ tình của
Ngọn cỏ
Với một ánh sao xa (411)
 
Thơ: Lơ lửng giữa nói và không nói
Giữa từ vựng và phi từ vựng
Giữa thơ và phản thơ (530)
 
Bài thơ cởi truồng
Chữ giạng chân
Mà tất cả vẫn ẩn mật (535)
 
Mỗi bài thơ cõng một tia nắng
Chiếu sáng
Đường đi vào những giấc mộng (578)
 
Thơ chỉ thích những góc khuất thật quạnh quẽ
Nơi người ta nghe được
Tiếng cựa mình của chữ (689)
 
Thơ là những đóa hoa bị đẻ rơi
Trên đường lên
Núi Sọ (709)
 
Khi những họng núi lửa nở hoa
Và dòng sông gục đầu xuống khóc
Thơ ra đời (728)
 
Lửng lơ, tất cả các bài thơ hắn viết
Đều theo
Thi pháp của mây (786)
 
Thơ như một hạt bụi
Đậu trong mắt
Đủ làm người xốn xang (807)
 
Mỗi bài thơ là một thí nghiệm
Trên chữ
Về cái gọi là thơ (833)
 
Thơ không phản ánh sự thật
Nó tạo ra
Sự Thật (865)
 
Những bài thơ được viết
Để phụ họa
Các lời kinh của mưa (877)
 
Bài thơ cần kịch tính
Của ngọn núi lửa
Nổ bùng (883)
 
Thơ gắn liền với ý niệm phôi pha
Trong cõi vĩnh hằng
Không có thi sĩ (889)
 
Tất cả những bài thơ trên đều giúp cho người đọc hiểu thơ là gì, thơ nói về điều gì và chất liệu làm nên bài thơ. Tôi có cảm nghĩ nó giống như những khẩu quyết mà người học võ phải thuộc lòng để nắm bắt được cốt tủy thi triển của một đường võ.

Mật thất thứ hai ghi những bí quyết về việc làm thơ. Những bài thơ được trích dẫn dưới đây từ cuốn “909 Bài Thơ Ba Dòng,” là những bí quyết mà nhà thơ Nguyễn Hưng Quốc nói cho chúng ta biết kinh nghiệm làm thơ của anh. Kinh nghiệm thì thường khác biệt giữa người này và người nọ do tư chất riêng và do bối cảnh tâm tư, tình cảm, nhận thức, hoàn cảnh, v.v… của mỗi người. Nhưng đây là điều hiếm thấy được các nhà thơ trình bày theo thể cách này. Xin trích một số bài thơ trong “909 Bài Thơ Ba Dòng” để người đọc tiện việc theo dõi.
 
Làm thơ là đánh vật với chữ
Khi chữ thắng
Tác giả cũng thắng (181)
 
Làm thơ, hắn tìm cách phiên dịch
Những bài kinh nhật tụng
Của gió (204)
 
Để bày tỏ tình yêu
Hắn làm thơ
Còn nàng thì mất trinh (233)
 
Làm thơ
Tôi tự hóa kiếp tôi
Thành chữ (286)
 
Làm thơ như đột kích
Mỗi chữ một phát súng
Bất ngờ (414)
 
Làm thơ là một cách thủ dâm
Tinh khí chữ bắn vào
Hiu quạnh (592)
 
Thử thách lớn nhất của người làm thơ là
Nghe được tiếng chữ thở
Lúc chúng tự sướng (635)
 
Làm thơ là tự hành xác với chữ
Bao nhiêu tinh dịch trào xuống
Để có được một cành hoa (647)
 
Làm thơ là phóng thích những nỗi u uẩn
Để lòng được nằm nghiêng với
Những vạt nắng chiều (708)
 
Làm thơ, hắn nhập thể vào chữ
Chữ thở phập phồng
Những tình yêu của hắn (758)
 
Làm thơ là tìm kiếm tàn tích
Những nụ hôn cháy
Trong giấc mơ (882)
 
Làm thơ, hắn ăn cắp chữ
Từ những giọt
Mưa rơi (905)
 
Làm thơ, theo Nguyễn Hưng Quốc, là “hóa kiếp tôi thành chữ,” hay “hắn nhập thể vào chữ,” hoặc một cách đầy tượng hình “hắn ăn cắp chữ từ những giọt mưa rơi,” v.v… Nhưng tôi thích nhất là câu này: “làm thơ là nghe được tiếng chữ thở lúc chúng tự sướng.” Muốn nghe được “tiếng chữ thở” thì mình ắt phải “hóa kiếp thành chữ,” hay “nhập thể vào chữ.” Và như thế thì không còn khoảng cách giữa người làm thơ và chữ. Người làm thơ là chữ và chữ là thơ.
Mật thất thứ ba viết những bí quyết về nhà thơ. Trong mật thất này chỉ gồm mấy bài thơ, là ít so với hai mật thất mà tôi vừa đi qua ở trên. Xin trích đăng để độc giả thưởng thức.
 
Nhà thơ không làm ra chữ
Chính chữ làm nên
Nhà thơ (139)
 
Nhà thơ là kẻ phiên dịch bóng tối
Để ánh sáng hiểu được
Trái tim đêm (175)
 
Tất cả các nhà thơ đều nhẹ dạ
Trước sự cám dỗ của
Những nỗi vu vơ (261)
 
Nhà thơ lắng nghe và phiên dịch
Các cuộc chuyện trò giữa
Cỏ và sương (426)
 
Bao giờ hắn cũng muốn viết một cái gì đó
Nhưng chỉ khi hắn không viết
Hắn mới thực sự là nhà thơ (649)
 
Chỉ có các nhà thơ mới dịch được
Các văn bản của mây
Viết trên trời xanh (727)
 
Nguyễn Hưng Quốc cho rằng “Nhà thơ không làm ra chữ, chính chữ làm nên nhà thơ.” Vế thứ hai của bài thơ này thì có vẻ dễ hiểu, bởi vì chính người làm ra bài thơ thì mới được gọi là nhà thơ. Nhưng vế đầu của bài thơ thì không dễ hiểu tí nào cả, bởi vì “nhà thơ không làm ra chữ,” thì nhà thơ làm ra gì? Có lẽ chúng ta nên quay lại mật thất thứ hai trong đó ghi những bí quyết làm thơ thì chắc có câu trả lời. Đúng vậy, trong mật thất thứ hai, Nguyễn Hưng Quốc nói anh “hóa kiếp thành chữ,”“nhập thể vào chữ.” Bởi thế, nhà thơ không còn đứng ngoài chữ để nói mình làm ra chữ. Nhà thơ là chữ. Chữ là nhà thơ. Và do vậy, nhà thơ họ Nguyễn mới nói “Bao giờ hắn cũng muốn viết một cái gì đó, nhưng chỉ khi hắn không viết, hắn mới thực là nhà thơ.”(649) Cao siêu! Đây quả là cảnh giới thượng thừa của nghệ thuật.

Nguyen Hung Quoc

GS Nguyễn Hưng Quốc. (ảnh của Uyên Nguyên – nguồn: https://uyennguyen.net


Trong “909 Bài Thơ Ba Dòng” có nhiều điều khác mà Nguyễn Hưng Quốc cảm tác về tình yêu, chuyện vợ chồng, biển, sóng nước, mây, gió, trăng, mưa, mùa thu, lá vàng, nắng, hoa, sương đêm, các vì sao, giấc mộng, tiếng chim hót, v.v…

Có những bài thơ trong “909 Bài Thơ Ba Dòng” đọc lên là nghe và thấy cả một khung cảnh nghệ thuật như đang xem một bức tranh thiên nhiên sống động tuyệt đẹp. Chẳng hạn:
 
Hắn nhả khói thuốc vào mùa thu
Bầu trời trống
Treo hờ một khóe trăng non (878)
 
Hoặc có bài thơ chứa đầy âm thanh, màu sắc và hương vị:
 
Mở cửa cho tiếng chim vào nhà
Tiếng chim tròn và ngọt lịm
Như một trái cam (818)
 
Nhà thơ Nguyễn Hưng Quốc khép lại tập thơ “909 Bài Thơ Ba Dòng” bằng một câu hỏi bỏ ngõ nhưng chứa đựng cả một khung trời triết lý nghệ thuật cao siêu:
 
Những bài thơ ba dòng nhỏ xíu này
Có nặng bằng một hạt sương không?
Tôi không biết. Xin hỏi những ngọn cỏ (909)
 
Chỉ những ngọn cỏ mới cảm nhận được đích thật hạt sương có nặng không thôi. Nếu dùng tâm thức phân biệt, hay nói như Trần Na (Dignāga) trong Nhân Minh Luận của nhà Phật là dùng loại tri thức tỉ lượng, để suy đoán thì sẽ rơi vào tình trạng “người mù rờ voi,” -- là một thí dụ mà các nhà hiền triết Ấn Độ thuở xưa nêu ra để miêu tả sự suy đoán chân lý tuyệt đối bằng đầu óc hữu hạn và tương đối của con người. Nhưng những ngọn cỏ thì có bao giờ lên tiếng trả lời đâu và ngay cả hạt sương cũng vậy.

Vì thế, muốn có câu trả lời thì phải là hạt sương, phải là ngọn cỏ, hay phải “thể nhập,” phải “hóa kiếp” để lắng nghe cỏ và sương nói gì, như nhà thơ họ Nguyễn đã nói đâu đó trong tập thơ này.
 
Nhà thơ lắng nghe và phiên dịch
Các cuộc chuyện trò giữa
Cỏ và sương (426)
 
Cảm ơn nhà thơ Nguyễn Hưng Quốc và xin giới thiệu tập thơ “909 Bài Thơ Ba Dòng” đến với quý độc giả.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có thể hình dung như thế nào về truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm? Khi tôi khép lại các trang sách trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại" dày 630 trang mới ấn hành của vị giáo sư nổi tiếng về văn học chữ Nôm, khi chữ biến mất là hiện lên một cánh đồng cò bay thẳng cánh, nơi có sương mai và nắng sớm của ngôn ngữ Lục Tỉnh mà chúng ta ngỡ như đã biến mất từ nhiều thập niên trước, bây giờ như tình cờ hiển lộ trên ký ức như mây trời Núi Cấm. Nơi này, nơi kia trên các trang giấy tập truyện, giữa những chuyển biến truyện và đối thoại của nhân vật là khói sương của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, nơi niềm tin tự nhiên vào luật nhân quả, nơi đó cái thiện sẽ lưu giữ trong lòng người và những gì bất thiện sẽ phai nhạt theo quá khứ lịch sử.
Nhà văn Trịnh Y Thư vừa ấn hành tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, gồm nhiều bài viết trong nhiều chủ đề đa dạng, phần lớn là về văn học nghệ thuật, đôi khi là lịch sử, khoa học, xã hội. Tuyển tập dày 294 trang, đang lưu hành trên các mạng, như Amazon và Barnes & Noble. Nhìn chung, tác phẩm giúp độc giả soi rọi thêm nhiều cách nhìn đa dạng, mới mẻ, kể cả khi tác giả viết về những người viết chúng ta đã quen thuộc trong văn học Việt Nam, như về Ngô Thế Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Khánh Minh, và nhiều người khác...
Hans Fallada, tên thật là Rudolf Ditzen, người đã sống giữa những biến động của nước Đức — từ sự sụp đổ của Đế chế, đến cơn bão của Thế chiến thứ nhất, rồi bước vào cơn ác mộng của Đệ tam đế chế. Trước chiến tranh, Fallada là một nhà văn nổi tiếng, tác giả của Little Man, What Now?, được Hollywood dựng thành phim. Nhưng khi Hitler lên nắm quyền, ông bị cấm xuất bản, bị Gestapo rình rập, và bị ép phải viết những tác phẩm phục vụ tuyên truyền. Tưởng chừng như bị nghiền nát giữa bạo lực và sợ hãi, ông lại tìm thấy trong ngục tối một đường sống của tâm hồn – viết. Trong ngục tối, ông bí mật viết nên ba cuốn tiểu thuyết mã hóa, và sau chiến tranh, vừa thoát xác một người sống sót, ông viết cuốn cuối cùng: Mỗi người đều chết một mình (Every Man Dies Alone).
Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt đặc biệt trong hành trình của Ocean Vuong (1). Nhà văn, nhà thơ gốc Việt nầy đã trở thành một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của văn chương Mỹ đương đại. Không còn là “hiện tượng thơ”, không còn được biết đến qua nỗi đau di dân, không còn đứng trong hào quang của Night Sky with Exit Wounds hay thành công bất ngờ của On Earth We’re Briefly Gorgeous trước đây, Ocean Vuong năm 2025 là một nhà văn đang mở ra biên giới mới của chính mình với The Emperor of Gladness, NXB Penguin Press, New York, 2025)...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Vâng, cảm ơn nhà thơ thiền sư Thiện Trí. Ý nghĩa rất minh bạch, rằng hãy về thôi. Về thôi, về mặc Cà Sa / Về thôi cởi áo Ta Bà phong sương... Hiển nhiên, không phải là đổi y phục, mà phải là chuyển hóa nội tâm. Cởi áo Ta Bà không đơn thuần là rời bỏ đời sống cư sĩ hay thế tục, mà là buông bỏ tâm vọng động, tâm phân biệt, tâm chấp ngã vốn đã bị phong sương của sinh tử bào mòn. Mặc áo Cà Sa không nhất thiết là khoác lên mình chiếc áo của người xuất gia, mà là khoác lên tâm từ bi, trí tuệ, và vô ngã.
Khăn quấn. Áo sơ sinh. Muối. Tuyết. Băng. Năm vật trắng - năm tiếng gọi đầu tiên - đặt lên trang giấy như một chuỗi hạt. Trong tay Han Kang, chúng vừa là dấu hiệu khởi sinh, vừa là định mệnh. Đứa trẻ chưa kịp sống đã được bọc trong khăn trắng, và cũng chính khăn quấn ấy trở thành tấm liệm. Trắng ở đây không phải nền sáng, mà là sự trống vắng ngân nhịp toàn cuốn sách. Han Kang, nhà văn Hàn Quốc được biết nhiều qua The Vegetarian, tác phẩm đã đem về cho bà giải Nobel Văn chương năm 2024, xuất hiện trong văn học thế giới như một cơn gió lớn. Nhưng The White Book mới là tác phẩm tôi rất yêu của Bà – những dòng chữ lặng mà sáng, mong manh mà bám riết.
Cuốn sách này là một công trình phục vụ cộng đồng nhân kỷ niệm 50 năm xa quê hương sống đời viễn xứ (1975-2025). Sách được in thành 2 tập – Tập 1 gồm 41 tác giả và Tập 2 gồm 45 tác giả. Như vậy, tổng cộng có 86 tác giả, trong đó có nhiều tác giả đã nổi tiếng từ trước 1975. Tám mươi sáu tác giả đến vùng đất này bằng những cách khác nhau, trình độ khác nhau, nghề nghiệp khác nhau nhưng có một điểm tất cả đều giống nhau. Đó là: Họ đã sống và viết bên dòng Potomac.
Ngày 17 tháng 9 năm 2025, thi sĩ “Công giáo” Lê Đình Bảng đã bước vào độ tuổi thượng thọ. Ông đã chính thức đạt 83 tuổi Tây và 84 năm tuổi ‘Mụ’. Một độ tuổi cần nghỉ ngơi, an dưỡng tuổi già. Song với tình yêu văn chương, chữ nghĩa và đặc biệt là niềm tin vào tôn giáo, ông vẫn như một thanh niên tráng kiện, đầy đức tin và nhiệt huyết, khi cho ra mắt thi phẩm thứ 25, sau rất nhiều tác phẩm nổi tiếng với nhiều thể loại khác nhau như văn xuôi, nghiên cứu lịch sử, tôn giáo...sáng tác kể từ năm 1967 miệt mài cho đến nay...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.