Hôm nay,  

“Mỗi người đều chết một mình”: Những bước chân lặng lẽ giữa đêm dài

19/12/202500:00:00(Xem: 436)

bìa sách
“Every Man Dies Alone – Han Fallada”: Tác phẩm dựa trên câu chuyện kháng cự có thật, càng trở nên cấp thiết khi những tư tưởng phát xít thế kỷ 20 lại xuất hiện trong ngôn ngữ chính trị hiện nay.
***

Có những cuốn sách như những vết thương không lành của lịch sử, dai dẳng, không nguôi. Mỗi người đều chết một mình của Hans Fallada là một trong những tác phẩm như thế, một bản ký sự không khoa trương, không hiệu triệu, chỉ kể lại những bước chân nhỏ bé, lặng lẽ giữa những ngày tháng mà con người phải học cách sống trong bóng tối.
 
Hans Fallada, tên thật là Rudolf Ditzen, người đã sống giữa những biến động của nước Đức — từ sự sụp đổ của Đế chế, đến cơn bão của Thế chiến thứ nhất, rồi bước vào cơn ác mộng của Đệ tam đế chế. Trước chiến tranh, Fallada là một nhà văn nổi tiếng, tác giả của Little Man, What Now?, được Hollywood dựng thành phim. Nhưng khi Hitler lên nắm quyền, ông bị cấm xuất bản, bị Gestapo rình rập, và bị ép phải viết những tác phẩm phục vụ tuyên truyền. Tưởng chừng như bị nghiền nát giữa bạo lực và sợ hãi, ông lại tìm thấy trong ngục tối một đường sống của tâm hồn – viết. Trong ngục tối, ông bí mật viết nên ba cuốn tiểu thuyết mã hóa, và sau chiến tranh, vừa thoát xác một người sống sót, ông viết cuốn cuối cùng: Mỗi người đều chết một mình (Every Man Dies Alone).

Tác phẩm được hoàn thành chỉ trong 24 ngày, dựa trên hồ sơ thật của một cặp vợ chồng thợ thuyền ở Berlin — Otto và Anna Quangel. Sau khi mất con trai nơi chiến trận, họ chọn cách chống lại Hitler bằng một hành động giản dị đến ngây thơ, viết và rải những tấm bưu thiếp, với những dòng chữ run rẩy: “Hỡi các bà mẹ! Führer đã giết con tôi. Rồi hắn sẽ giết cả con bà.” Những tấm bưu thiếp ấy không thay đổi được vận mệnh, nhưng lại là ánh sáng cuối cùng của lương tri trong một thế giới ngập tràn bóng tối.
 
Trong Mỗi người đều chết một mình, Fallada không vẽ nên hình ảnh anh hùng. Ông chỉ kể lại đời sống như nó vốn có — những ngày tháng đen tối, những con người hèn yếu, những khoảnh khắc im lặng đầy ám ảnh. Vợ chồng Otto và Anna, như bao người khác, từng tin tưởng vào kẻ mà họ gọi là “người dẫn đường”, từng cúi đầu trước những lời tuyên truyền. Nhưng khi mất đi người con duy nhất, họ mới thấy rõ: người mà họ từng tin tưởng, chính là kẻ đã giết chết linh hồn dân tộc.
 
Thế giới của Mỗi người đều chết một mình là bức tranh ẩm thấp của một dân tộc bị trói trong khủng bố: người đưa thư e dè, chủ tiệm thú nuôi vật lộn mưu sinh, viên cảnh sát Gestapo truy lùng như thú săn mồi. Ai cũng lo sợ, ai cũng cúi đầu — và mỗi cái cúi đầu lại là một nhát chém vào lương tri nhân loại. Fallada hiểu rằng chế độ độc tài không chỉ giết người bằng súng đạn và ngục tù, mà bằng sự tê liệt đạo đức thường ngày: nụ cười dè chừng, lá đơn tố giác, sự im lặng thỏa hiệp.
 
Fallada dựng nên cả một Berlin thập niên 1940: những con phố ngột ngạt, những viên chức sợ hãi, những kẻ chỉ điểm. Ống kính của ông soi cả hai phía: những người âm thầm kháng cự, và những kẻ tưởng mình chỉ “sống cho qua ngày”, như nhân vật viên thanh tra Gestapo Escherich – một người từng làm cảnh sát lương thiện, rồi dần dà trở thành công cụ cho bạo lực – nơi cái lý tưởng tự giác ngã gục giữa sợ hãi và đòi hỏi pháp lý. Bị dằn vặt, bị hạ nhục, ông vẫn không đủ can đảm phản kháng, nhưng cũng chẳng còn lòng trung tín với chế độ. Đó chính là hình ảnh của số đông người Đức thời đó: mắc kẹt giữa hai hố sâu, vừa ghê tởm, vừa vô năng.
 
Fallada không rao giảng. Ông chỉ ghi lại cơn hấp hối của một xã hội bị nỗi sợ điều khiển. Nhưng sau cùng, chính sự yếu đuối và niềm tin mong manh của những con người bé nhỏ ấy lại khiến độc giả tin rằng vẫn còn một giá trị bền bỉ trong nhân loại — lòng dũng cảm của lương tri. Giữa những ngày tháng đen tối ấy, những tấm bưu thiếp nhỏ bé của Otto và Anna như những đốm lửa le lói, không thể đốt sáng bóng đêm, nhưng đủ để cho thấy: con người chưa bao giờ hoàn toàn mất đi phẩm giá.
 
Tác phẩm được dịch sang Anh ngữ bởi Michael Hofmann vào năm 2009, và nhanh chóng trở thành hiện tượng văn học thế giới. Primo Levi ca ngợi nó là “cuốn sách vĩ đại nhất viết về cuộc kháng cự Đức quốc xã”. The New Yorker gọi nó là “bức chân dung rùng rợn và chân thực nhất về đời sống thường nhật dưới thời chiến”. Nhưng điều khiến Mỗi người đều chết một mình vượt qua cả tiểu thuyết hay lịch sử, là nó đặt câu hỏi mà mọi thời đại đều phải đối diện: Trong một xã hội bị nỗi sợ điều khiển, con người có thể làm gì để giữ được phẩm giá của mình?
 
Fallada không đưa ra câu trả lời dễ dàng. Ông không nói đến cách lật đổ chế độ, không vẽ ra viễn cảnh chiến thắng. Ông chỉ kể lại hành trình của một người đàn ông và một người đàn bà, giữa những con phố Berlin ngột ngạt, với những tấm bưu thiếp nhỏ bé và một niềm tin mong manh. Nhưng chính từ những điều giản dị ấy, tác phẩm lại trở thành lời cảnh tỉnh âm thầm cho nhân loại: chống lại sợ hãi không phải là hành động chính trị, mà là trách nhiệm con người.
 
Đã gần tám mươi năm kể từ ngày Mỗi người đều chết một mình ra đời. Nhưng trong thời đại hôm nay — khi phong trào cực đoan và hận thù lại gõ cửa nhân loại — tác phẩm này vẫn là lời cảnh báo: trong bất cứ thời nào, khi sợ hãi trở thành thói quen và im lặng hóa thành đạo đức, thì chính lúc ấy, chúng ta đang ngả dần về phía bóng tối.
 
Hans Fallada đã chết, như các nhân vật trong sách Mỗi người đều chết một mình, nhưng ông để lại một di chúc bất diệt — rằng phẩm giá con người không thể đánh mất, dù chỉ trong ý nghĩ.
 
Nina Lê
 
Tham khảo:
  1. The New Yorker, “Bức chân dung rùng rợn và chân thực nhất về đời sống thường nhật dưới thời chiến”, 2009.
  2. Hillary Kelly, “And the Germans who didn’t”, The Atlantic, 29/11/2025.
  3. Bookshop.org, trang giới thiệu tác phẩm và tác giả, cập nhật 2025.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có thể hình dung như thế nào về truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm? Khi tôi khép lại các trang sách trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại" dày 630 trang mới ấn hành của vị giáo sư nổi tiếng về văn học chữ Nôm, khi chữ biến mất là hiện lên một cánh đồng cò bay thẳng cánh, nơi có sương mai và nắng sớm của ngôn ngữ Lục Tỉnh mà chúng ta ngỡ như đã biến mất từ nhiều thập niên trước, bây giờ như tình cờ hiển lộ trên ký ức như mây trời Núi Cấm. Nơi này, nơi kia trên các trang giấy tập truyện, giữa những chuyển biến truyện và đối thoại của nhân vật là khói sương của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, nơi niềm tin tự nhiên vào luật nhân quả, nơi đó cái thiện sẽ lưu giữ trong lòng người và những gì bất thiện sẽ phai nhạt theo quá khứ lịch sử.
Nhà văn Trịnh Y Thư vừa ấn hành tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, gồm nhiều bài viết trong nhiều chủ đề đa dạng, phần lớn là về văn học nghệ thuật, đôi khi là lịch sử, khoa học, xã hội. Tuyển tập dày 294 trang, đang lưu hành trên các mạng, như Amazon và Barnes & Noble. Nhìn chung, tác phẩm giúp độc giả soi rọi thêm nhiều cách nhìn đa dạng, mới mẻ, kể cả khi tác giả viết về những người viết chúng ta đã quen thuộc trong văn học Việt Nam, như về Ngô Thế Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Khánh Minh, và nhiều người khác...
Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt đặc biệt trong hành trình của Ocean Vuong (1). Nhà văn, nhà thơ gốc Việt nầy đã trở thành một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của văn chương Mỹ đương đại. Không còn là “hiện tượng thơ”, không còn được biết đến qua nỗi đau di dân, không còn đứng trong hào quang của Night Sky with Exit Wounds hay thành công bất ngờ của On Earth We’re Briefly Gorgeous trước đây, Ocean Vuong năm 2025 là một nhà văn đang mở ra biên giới mới của chính mình với The Emperor of Gladness, NXB Penguin Press, New York, 2025)...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Vâng, cảm ơn nhà thơ thiền sư Thiện Trí. Ý nghĩa rất minh bạch, rằng hãy về thôi. Về thôi, về mặc Cà Sa / Về thôi cởi áo Ta Bà phong sương... Hiển nhiên, không phải là đổi y phục, mà phải là chuyển hóa nội tâm. Cởi áo Ta Bà không đơn thuần là rời bỏ đời sống cư sĩ hay thế tục, mà là buông bỏ tâm vọng động, tâm phân biệt, tâm chấp ngã vốn đã bị phong sương của sinh tử bào mòn. Mặc áo Cà Sa không nhất thiết là khoác lên mình chiếc áo của người xuất gia, mà là khoác lên tâm từ bi, trí tuệ, và vô ngã.
Khăn quấn. Áo sơ sinh. Muối. Tuyết. Băng. Năm vật trắng - năm tiếng gọi đầu tiên - đặt lên trang giấy như một chuỗi hạt. Trong tay Han Kang, chúng vừa là dấu hiệu khởi sinh, vừa là định mệnh. Đứa trẻ chưa kịp sống đã được bọc trong khăn trắng, và cũng chính khăn quấn ấy trở thành tấm liệm. Trắng ở đây không phải nền sáng, mà là sự trống vắng ngân nhịp toàn cuốn sách. Han Kang, nhà văn Hàn Quốc được biết nhiều qua The Vegetarian, tác phẩm đã đem về cho bà giải Nobel Văn chương năm 2024, xuất hiện trong văn học thế giới như một cơn gió lớn. Nhưng The White Book mới là tác phẩm tôi rất yêu của Bà – những dòng chữ lặng mà sáng, mong manh mà bám riết.
Cuốn sách này là một công trình phục vụ cộng đồng nhân kỷ niệm 50 năm xa quê hương sống đời viễn xứ (1975-2025). Sách được in thành 2 tập – Tập 1 gồm 41 tác giả và Tập 2 gồm 45 tác giả. Như vậy, tổng cộng có 86 tác giả, trong đó có nhiều tác giả đã nổi tiếng từ trước 1975. Tám mươi sáu tác giả đến vùng đất này bằng những cách khác nhau, trình độ khác nhau, nghề nghiệp khác nhau nhưng có một điểm tất cả đều giống nhau. Đó là: Họ đã sống và viết bên dòng Potomac.
Ngày 17 tháng 9 năm 2025, thi sĩ “Công giáo” Lê Đình Bảng đã bước vào độ tuổi thượng thọ. Ông đã chính thức đạt 83 tuổi Tây và 84 năm tuổi ‘Mụ’. Một độ tuổi cần nghỉ ngơi, an dưỡng tuổi già. Song với tình yêu văn chương, chữ nghĩa và đặc biệt là niềm tin vào tôn giáo, ông vẫn như một thanh niên tráng kiện, đầy đức tin và nhiệt huyết, khi cho ra mắt thi phẩm thứ 25, sau rất nhiều tác phẩm nổi tiếng với nhiều thể loại khác nhau như văn xuôi, nghiên cứu lịch sử, tôn giáo...sáng tác kể từ năm 1967 miệt mài cho đến nay...
Tập truyện ngắn vừa phát hành của nhà văn Trần Kiêm Trinh Tiên có một nhan đề rất là buồn, “Hạt U Minh.” Nhiều truyện trong tập này như dường viết về các lằn ranh bị vượt qua. Thí dụ, lằn ranh tình yêu (hay như dường là tình yêu) giữa một ni cô và một chàng trai trong trường Dòng. Hay thí dụ, mối tình giữa một thiếu nữ Huế và chàng trai Mỹ, và chàng chết khi bùng nổ các trận đánh trong Tết Mậu Thân ở Huế. Hay như truyện cuối trong tập, khởi đầu là các hình ảnh liên hệ tới Kinh Thánh Ki Tô Giáo, giữa truyện là ký ức một thiếu nữ về một truyện Thiền... Cuộc đời, vâng cuộc đời, thực sự là không có lằn ranh, dù là màu da hay tôn giáo. Tác giả có vẻ như muốn nêu chủ đề từ những chuyện đời thường.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.