Hôm nay,  

Đọc Tập Truyện “Hạt U Minh” Của Trần Kiêm Trinh Tiên

26/09/202500:00:00(Xem: 1033)

HAT-U-MINH
Tập truyện ngắn vừa phát hành của nhà văn Trần Kiêm Trinh Tiên có một nhan đề rất là buồn, “Hạt U Minh.” Nhiều truyện trong tập này như dường viết về các lằn ranh bị vượt qua. Thí dụ, lằn ranh tình yêu (hay như dường là tình yêu) giữa một ni cô và một chàng trai trong trường Dòng. Hay thí dụ, mối tình giữa một thiếu nữ Huế và chàng trai Mỹ, và chàng chết khi bùng nổ các trận đánh trong Tết Mậu Thân ở Huế. Hay như truyện cuối trong tập, khởi đầu là các hình ảnh liên hệ tới Kinh Thánh Ki Tô Giáo, giữa truyện là ký ức một thiếu nữ về một truyện Thiền... Cuộc đời, vâng cuộc đời, thực sự là không có lằn ranh, dù là màu da hay tôn giáo. Tác giả có vẻ như muốn nêu chủ đề từ những chuyện đời thường. 

U minh... Có một địa danh là Huyện U Minh ở tỉnh Cà Mau, và có một khu rừng tên là Rừng U Minh nằm ở tỉnh An Giang và Cà Mau, sát Vịnh Thái Lan. Nghĩa là, rất xa. Nếu bạn nhớ thêm, thời học Văn trong lớp Đệ Tứ (bây giờ là lớp 9) ở Miền Nam trong các năm 1960s, hẳn là bạn đã từng học về chữ “u minh” được hiểu theo nghĩa rất buồn trong Hoa Tiên Truyện, một truyện thơ Nôm thế kỷ thứ 18 của Nguyễn Huy Tự. Chữ “u minh” có nghĩa là: bóng tối và ánh sáng, cũng có nghĩa là cõi chết và cuộc sống. Trích mấy câu trong Hoa Tiên Truyện:

U-minh đôi ngả khơi chừng,
Một niềm sắt-đá biết rằng thấu không?
Kiếp này đã lỏng giải đồng,
Mảnh duyên gắn-bó còn hòng kiếp sau

Than ôi, buồn tới như vậy kìa. Dĩ nhiên, Hoa Tiên Truyện không liên hệ gì tới tập truyện ngắn Hạt U Minh. Nhưng cõi này là những nỗi buồn bất tận, như dường Trần Kiêm Trinh Tiên viết truyện như lời kể buồn nhiều hơn vui. Những dòng cuối truyện ngắn "Hạt U Minh" cũng rất là buồn, ghi lời kể từ tôi, nhân vật chính, trích:

"Niệm Tâm Kinh Bát Nhã mà lòng tôi như cơn gió thổi qua thảo nguyên trống không, thăm thẳm. Từ nay trong ngôi chùa xưa chỉ còn lại một mình tôi, hạt u minh của mẹ. Và mẹ là trang cổ thư, tôi có đọc suốt đời cũng không sao hiểu hết." (Hạt U Minh, tập truyện Hạt U Minh, trang 29)

Hạt U Minh cũng là tựa đề một truyện ngắn trong tập truyện cùng tên, được viết trong một bầu không khí kể lại theo kỹ thuật, có lúc như tự sự, có lúc như tả thực, có lúc như kể theo trí nhớ. Truyện ngắn trung tâm này được viết theo lời kể của nhân vật chính là một ni cô, về sau lên làm trụ trì một ngôi chùa nhỏ, nhưng cảm xúc có khi nghĩ về một chàng trai bên một trường Dòng, hiểu là của một dòng tu Thiên Chúa Giáo.
 
Khi độc giả tìm sách này trên mạng Amazon, sẽ thấy phần giới thiệu là:

“Trinh Tiên có duyên với văn chương từ thời còn đi học. Năm 1974, truyện "Sao núi" của Tiên- được ký tên với bút danh Trần Thị Thái Khương- được chấm giải nhất của Báo Điện Tín trong cuộc thi "Viết cho Việt Nam Hoà Hợp". Và bây giờ, tập truyện ngắn "Hạt U Minh" của Tiên ra đời, gồm những tác phẩm Tiên đã viết trong một thời gian dài, sau khi đã rời Huế và thiên di qua những vùng miền rất xa.

Tập truyện này chỉ gồm 8 truyện ngắn, nhưng ôm chứa trong lòng một thế giới rộng dài: những câu chuyện trong đó đã diễn ra trong khoảng thời gian hơn nửa thế kỷ, trong không gian trải rộng qua nhiều châu lục. Đó là những cuộc đời Việt tại Úc, Nhật, Pháp, Mỹ...Những câu chuyện khiến ta xúc động bùi ngùi, vì trong đó có rất nhiều hợp tan, mừng tủi và thương nhớ...”

Phần giới thiệu trên là trích từ bài “Nhẹ nhàng mà day dứt khôn cùng” của Trần Thùy Mai nơi đầu sách, trang 9-10. Bạn có thể tìm thấy sách này ở:
Trên trang web riêng, nhà phê bình Trần Kiêm Đoàn có một bài bình luận, nhận định về tập truyện Hạt U Minh của Trần Kiêm Trinh Tiên, trích như sau:
“...Tác phẩm Hạt U Minh là một cánh diều căng gió với không gian riêng của nó; một không gian điên đảo mà bình lặng đầy ắp biến cố giữa thuở chiến tranh, ngày hòa bình, buổi giao thời, bước thoát ly, thái độ khước từ, nhập cuộc, khổ hạnh, đóng đinh và hệ lụy lâu dài hay tức thời của nó ở bất cứ vùng trời nào khi mà con người vừa là một sản phẩm mà cũng vừa là động cơ tái tạo của hoàn cảnh.

Thế giới trong tác phẩm Hạt U Minh là những mảnh đời hiện thực và chuỗi biến hiện – thánh thiện, bác ái, từ bi, nhỏ nhen, độc ác, âm mưu vừa phản kháng vừa hội nhập – mang đậm tính người vừa gian manh bất ổn như tên chúa đảng hải tặc; vừa thiện lành như vị thiền sư có mặt nhan nhản từ Huế tới muôn phương. Tác giả đã hồi tưởng hay xây dựng nhân vật của tác phẩm với tầm nhìn từ những góc khuất tâm lý, trải nghiệm và hoàn cảnh xuất thân thấm đẫm nếp văn hóa nhạc và hoa nhiều hơn là hận thù và vũ khí.

Triết lý Phật giáo bàng bạc như những dấu ấn vô hình thâm xuyên các truyện không theo lối thuyết giảng, mà thẩm thấu qua từng chi tiết đời thường: là tiếng chuông u minh chùa Thiên Mụ vọng về lẫn trong tiếng rền xa của đại bác từ Trường Sơn...” (Trần Kiêm Đoàn: https://trankiemdoan.net/hat-u-minh/)

Thực tế, nói một cách truyền thống theo các cụ thì ngay những dòng đầu truyện đã cho thấy là “oan nghiệt” khi một ni cô ngẩn ngơ nhớ tới một thầy Dòng (Ki Tô Giáo). Các đoạn văn đầu tiên của truyện Hạt U Minh được tác giả Trần Kiêm Trinh Tiên viết, trích:

“Lần thứ hai trong năm, lúc Chùa sửa soạn cho vụ mùa, Sư bà trụ trì lại cho tôi hai tuần nhập thất. Khi nghe Sư cô Giáo Thọ báo tin, cổ họng tôi đắng khô. Bao giờ Nhà Dòng ở bên kia đồi cũng phái thầy Huyên kéo chiếc máy cày sang làm đất giúp Chùa vài hôm. Như thế là tiêu tan hy vọng được gặp lại thầy mùa này. Tôi ngẩn ngơ đứng nhìn ra chiều đang vàng lắm ở trên đồi mà không thấy Sư cô Giáo Thọ quay đi, giấu tiếng thở dài.

“Ngay từ hôm đầu tiên vào thất, tôi đã bắt gặp cái tâm tôi như “vượn chuyền cành”. Chỉ một tiếng người lao xao bên ngoài cũng đủ làm cho con ngựa chứng bất kham trong tôi trỗi dậy. Tôi nhớ thầy Huyên. Không biết từ mùa nào, khi Thầy kéo chiếc xe máy cày về lại Nhà Dòng, lòng tôi cũng đi theo về bên ấy...” (HUM, trang 17-18)

Thôi thì, phải dằng co như thế mới thành truyện cho gay cấn? Truyện không có nhiều chi tiết kịch tính, nhưng tác giả đi sâu vào diễn biến tâm lý nhân vật "tôi" -- một ni cô trẻ. Ni cô có nỗi nhớ da diết với thầy Huyên, và tự ý thức rằng đang có "tâm vượn chuyền cành." Tác giả cũng trích dẫn lời dạy của Thiền sư Thích Nhất Hạnh để cho thấy ni cô đang muốn an tâm, khi nỗi nhớ thầy Huyên ám ảnh đến mức "hồ như mình đang bước đi trên sóng" (trang 18) hay "cái tâm cuồng si tội nghiệp ấy đang mang đến cho tôi vị mặn đậm của mùi mồ hôi đàn ông" (trang 19). Những hình ảnh này cho thấy sự đấu tranh quyết liệt giữa đời và đạo, giữa khao khát tình yêu đời thường và giới luật của một người tu hành.

Nút thắt của câu chuyện được mở ra khi Sư bà gửi ni cô về Huế tìm mẹ. Đây không chỉ là một chuyến đi vật lý mà còn là một hành trình tinh thần quan trọng. Việc nhận ra mẹ mình là O Lượm, một người đàn bà mất trí, đã giúp nhân vật "tôi" chuyển hóa nhận thức. Bất hạnh của người mẹ trở thành nơi an trú cho tâm hồn cô, ý thức thâm sâu về nỗi khổ trần gian. Cái nhìn về Khổ Đế hiện thân nơi người mẹ giúp ni cô nhìn lại những xao động của bản thân, nhận ra cái "tâm như vượn chuyền cành" ngày xưa chỉ là sự "chém những đường gươm vô minh vào khoảng không" (trang 26).

U Minh là tối và sáng, là sống và chết, là sinh và diệt. Hạt U Minh là hình ảnh biểu tượng, khi ni cô trong vai nhân vật "tôi" tự coi mình là một "hạt giống lạc loài" bị số phận thả rơi xuống chốn cửa thiền – “Tôi là hạt giống của cõi nào mà cánh chim đã thả lạc nơi này?” (trang 19). Tương tự, ni cô kể, “Tôi thầm cảm ơn cánh chim của số phận đã thả rơi tôi, hạt giống lạc loài, xuống chốn cửa thiền” (trang 27).

Sau khi tìm thấy cội nguồn, ni cô nhận ra mình chính là "hạt u minh" của mẹ -- một hạt mầm được sinh ra từ cõi tối tăm, bất hạnh của một người phụ nữ mất trí. Tuy nhiên, hạt mầm đó lại nảy nở trong môi trường thanh tịnh của nhà chùa, rồi cuối cùng, chính hạt mầm này lại trở về làm nơi nương tựa cho người mẹ bất hạnh. Cái chết của người mẹ càng khiến "hạt u minh" ấy trở nên quý giá và thiêng liêng, là "trang cổ thư" (trang 29) mà cô nguyện suốt đời đọc, suốt đời chiêm nghiệm.

Trần Kiêm Trinh Tiên sử dụng lối kể chuyện nhẹ nhàng, giàu chất thơ, kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự, độc thoại nội tâm và miêu tả. Tác giả thường xen kẽ Kinh Phật, như Bát Nhã Tâm Kinh, và lời dạy an tâm của Thầy Nhất Hạnh. Một đôi nơi, tác giả trích dẫn Kinh Thánh. Nhưng nổi bật về thủ pháp truyện là cách sử dụng nhiều hình ảnh, mà chúng ta đọc, đôi khi thấy như xem phim. Thí dụ, như các hình ảnh kinh điển (tâm vượn chuyền cành, hiệp sĩ mù chém gươm vô minh) và so sánh tinh tế (mẹ tôi nằm bình yên như chiếc lá khô)...

Một truyện khác, cũng gợi nhiều suy nghĩ, là truyện ngắn Dáng Xưa (trang 49-71). Có thể nói theo kiểu nhạc tình trước 1975 thì truyện này là “Bản tình ca dang dở giữa khói lửa chiến tranh,” nơi đây là mối tình lặng lẽ nhưng nồng nàn giữa cô gái Huế tên là Hiên và chàng trai Mỹ tên Timothy. Họ lo sợ nghĩ về nhau, nhớ nhau trong khi các trận đánh Tết Mậu Thân 1968 bùng nổ từ góc phố này tới góc phố kia, và khi Huế êm tiếng súng thì cô Hiên mới biết rằng xác anh Timothy được tìm thấy ở An Lăng. Bi thảm là, Timothy không có lời nào trong truyện cho thấy anh là chiến binh Mỹ. Trong truyện, anh được tác giả kể là làm cho “Ty” và như thế, có thể anh là cố vấn nông nghiệp cho Việt Nam hay nhà nghiên cứu về nông nghiệp, vì anh làm việc với các số liệu về những con thỏ, con bò... Tác giả không nói rõ chỗ này.

Mối tình cô gái Huế với chàng trai Mỹ rất là gian nan. Thân phụ của cô nói: “Con nhà gia giáo không lấy chồng Mỹ.” Chúng ta không thể hình dung mối tình này sẽ như thế nào, nếu chàng Timothy không chết trong trận Mậu Thân. Trong dòng văn học Việt Nam, có nhiều tác phẩm viết về chiến tranh và ký ức tuổi trẻ. Nhưng “Dáng Xưa” của Trần Kiêm Trinh Tiên lại mang đến một âm hưởng riêng: nhẹ nhàng mà ám ảnh, bi thương mà sâu lắng tình người. Đây không chỉ là một câu chuyện tình dang dở, mà còn là lời tưởng niệm một thế hệ thanh xuân bị chôn vùi trong khói lửa.

Cô gái Huế tên Hiên và chàng trai Hoa Kỳ Timothy. Họ có những giây phút đẹp đẽ, những hẹn hò ngập nắng vàng, những món quà bé nhỏ đầy thương nhớ. Nhưng chiến tranh đã không cho phép tình yêu ấy nở hoa. Ngày hẹn Tết Mậu Thân, Hiên chờ đợi trong vô vọng, và kể từ đó, “dáng xưa” chỉ còn ở lại trong ký ức.

Điều làm nên sức hút của truyện là cách Trần Kiêm Trinh Tiên kết hợp giữa hoài niệm riêng tư và ký ức lịch sử. Câu chuyện của Hiên và Timothy không chỉ là chuyện tình cá nhân, mà là biểu tượng cho rất nhiều mối tình bị tan vỡ trong chiến tranh. Từng chi tiết đời thường – một vòng chỉ thêu, tiếng chuông đồng hồ, bản nhạc Phạm Duy, bữa cơm Tết đơn sơ – trở thành những ký ức đau lòng, cho thấy hạnh phúc mong manh đến thế nào trước bạo lực súng đạn.

Giọng văn trong “Dáng Xưa” mềm mại, đậm chất trữ tình, nhiều chỗ như thơ. Người đọc bắt gặp những hình ảnh gợi cảm: “dáng cành ngô đồng in như mực tàu trên lụa ngà” (trang 51), “vạt áo dài nâu trông buồn hiu hắt trong nắng hanh” (trang 51), hay tiếng gõ của chuông đồng hồ “như hỏi mình: đã học bài chưa?” (trang 55). Chính chất thơ ấy làm dịu đi cái bi thương, nhưng cũng khiến nó thấm sâu hơn, như một dư ba kéo dài sau khi gấp lại trang sách.

Cái kết của truyện đưa nhân vật “tôi” trở lại với gia đình Timothy nơi đất khách. Người mẹ già đã lẫn trí nhớ, những kỷ vật còn lại – cây ngựa gỗ, chiếc lược ngà, khung ảnh – đều gợi lên một khoảng trống mênh mông. Đó là khoảng trống của tình yêu chưa trọn, của tuổi trẻ không bao giờ trở lại, và của một thế hệ bị lịch sử bỏ lại phía sau.

“Dáng Xưa” vì thế không chỉ là truyện ngắn về tình yêu, mà còn là một bản tưởng niệm tuổi xuân. Nó khiến người đọc nhận ra: chiến tranh không chỉ giết sinh mạng, mà còn hủy diệt những mầm hạnh phúc. Và trong nỗi mất mát đó, ký ức trở thành nơi nương tựa duy nhất. “Dáng xưa” ấy, dù mong manh, vẫn sống mãi trong lòng người kể và trong tâm thức độc giả.

Một hình ảnh rất kinh điển về Tết Mậu Thân ghi trong nhật ký của cô Hiên, nhân vật chính của truyện Dáng Xưa: “Súng nổ rền bốn phía không ngớt, cho đến gần sáng. Có những tiếng nổ lớn như tiếng bộc phá khiến con Mực hoảng sợ, sủa inh ỏi. Thầy vặn thử radio như những khi Sàt Gòn có đảo chánh nhưng không bắt được làn sóng. Không ai đoán được chuyện gì đang xảy ra. Mẹ trải chiếu dưới gầm bộ ngựa gõ cho cả nhà nằm tạm. Lòng em như lửa đốt. Mẹ nhắc em niệm Phật. Em không còn nhớ nỗt một câu kinh. Ôt Timmy, sao em cứ mãt lo sợ điều bất trắc xảy đến cho anh?” (trang 61)

Truyện ngắn của Trần Kiêm Trinh Tiên nhìn chung là những bước đi có vẻ như vượt qua những lằn ranh cách biệt. Tác giả gài những mối tình gay cấn vào những lằn ranh tôn giáo, màu da trong một bối cảnh Việt Nam, trong và rồi ngoài nước. Đúng như nhà phê bình Trần Kiêm Đoàn đã viết: “Triết lý Phật giáo bàng bạc như những dấu ấn vô hình thâm xuyên các truyện...”

Có thể có một lời nào ngắn gọn nói về các truyện ngắn của chị Trần Kiêm Trinh Tiên? Có lẽ nên nói rằng, đó là những lời kể thơ mộng để nói lên ước mơ yêu thương và hòa bình từ một nhà văn nữ trưởng thành trong thời nội chiến Việt Nam, nơi tất cả mọi người dân Việt đều mang theo những vết thương hậu chiến. Nơi đó, những dòng chữ của tác giả được viết như “muốn gửi lòng mình trên chiếc lá khô trôi theo con sông về xuôi... anh đã nằm lại với mảnh đại bác xuyên thủng ngực. Cũng bên một khúc quanh của dòng sông” (trang 36-37).

Nơi đó, tác giả tự nhìn về nỗi cô đơn sáng tác của mình như lời kể ở trang 138: “... tôi nhìn lên phía sau, chỉ âm u bóng đêm. Nơi ấy, trong khu vườn quạnh hiu, có con chim đang đứng hót một mình.” 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có thể hình dung như thế nào về truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm? Khi tôi khép lại các trang sách trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại" dày 630 trang mới ấn hành của vị giáo sư nổi tiếng về văn học chữ Nôm, khi chữ biến mất là hiện lên một cánh đồng cò bay thẳng cánh, nơi có sương mai và nắng sớm của ngôn ngữ Lục Tỉnh mà chúng ta ngỡ như đã biến mất từ nhiều thập niên trước, bây giờ như tình cờ hiển lộ trên ký ức như mây trời Núi Cấm. Nơi này, nơi kia trên các trang giấy tập truyện, giữa những chuyển biến truyện và đối thoại của nhân vật là khói sương của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, nơi niềm tin tự nhiên vào luật nhân quả, nơi đó cái thiện sẽ lưu giữ trong lòng người và những gì bất thiện sẽ phai nhạt theo quá khứ lịch sử.
Nhà văn Trịnh Y Thư vừa ấn hành tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, gồm nhiều bài viết trong nhiều chủ đề đa dạng, phần lớn là về văn học nghệ thuật, đôi khi là lịch sử, khoa học, xã hội. Tuyển tập dày 294 trang, đang lưu hành trên các mạng, như Amazon và Barnes & Noble. Nhìn chung, tác phẩm giúp độc giả soi rọi thêm nhiều cách nhìn đa dạng, mới mẻ, kể cả khi tác giả viết về những người viết chúng ta đã quen thuộc trong văn học Việt Nam, như về Ngô Thế Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Khánh Minh, và nhiều người khác...
Hans Fallada, tên thật là Rudolf Ditzen, người đã sống giữa những biến động của nước Đức — từ sự sụp đổ của Đế chế, đến cơn bão của Thế chiến thứ nhất, rồi bước vào cơn ác mộng của Đệ tam đế chế. Trước chiến tranh, Fallada là một nhà văn nổi tiếng, tác giả của Little Man, What Now?, được Hollywood dựng thành phim. Nhưng khi Hitler lên nắm quyền, ông bị cấm xuất bản, bị Gestapo rình rập, và bị ép phải viết những tác phẩm phục vụ tuyên truyền. Tưởng chừng như bị nghiền nát giữa bạo lực và sợ hãi, ông lại tìm thấy trong ngục tối một đường sống của tâm hồn – viết. Trong ngục tối, ông bí mật viết nên ba cuốn tiểu thuyết mã hóa, và sau chiến tranh, vừa thoát xác một người sống sót, ông viết cuốn cuối cùng: Mỗi người đều chết một mình (Every Man Dies Alone).
Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt đặc biệt trong hành trình của Ocean Vuong (1). Nhà văn, nhà thơ gốc Việt nầy đã trở thành một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của văn chương Mỹ đương đại. Không còn là “hiện tượng thơ”, không còn được biết đến qua nỗi đau di dân, không còn đứng trong hào quang của Night Sky with Exit Wounds hay thành công bất ngờ của On Earth We’re Briefly Gorgeous trước đây, Ocean Vuong năm 2025 là một nhà văn đang mở ra biên giới mới của chính mình với The Emperor of Gladness, NXB Penguin Press, New York, 2025)...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Vâng, cảm ơn nhà thơ thiền sư Thiện Trí. Ý nghĩa rất minh bạch, rằng hãy về thôi. Về thôi, về mặc Cà Sa / Về thôi cởi áo Ta Bà phong sương... Hiển nhiên, không phải là đổi y phục, mà phải là chuyển hóa nội tâm. Cởi áo Ta Bà không đơn thuần là rời bỏ đời sống cư sĩ hay thế tục, mà là buông bỏ tâm vọng động, tâm phân biệt, tâm chấp ngã vốn đã bị phong sương của sinh tử bào mòn. Mặc áo Cà Sa không nhất thiết là khoác lên mình chiếc áo của người xuất gia, mà là khoác lên tâm từ bi, trí tuệ, và vô ngã.
Khăn quấn. Áo sơ sinh. Muối. Tuyết. Băng. Năm vật trắng - năm tiếng gọi đầu tiên - đặt lên trang giấy như một chuỗi hạt. Trong tay Han Kang, chúng vừa là dấu hiệu khởi sinh, vừa là định mệnh. Đứa trẻ chưa kịp sống đã được bọc trong khăn trắng, và cũng chính khăn quấn ấy trở thành tấm liệm. Trắng ở đây không phải nền sáng, mà là sự trống vắng ngân nhịp toàn cuốn sách. Han Kang, nhà văn Hàn Quốc được biết nhiều qua The Vegetarian, tác phẩm đã đem về cho bà giải Nobel Văn chương năm 2024, xuất hiện trong văn học thế giới như một cơn gió lớn. Nhưng The White Book mới là tác phẩm tôi rất yêu của Bà – những dòng chữ lặng mà sáng, mong manh mà bám riết.
Cuốn sách này là một công trình phục vụ cộng đồng nhân kỷ niệm 50 năm xa quê hương sống đời viễn xứ (1975-2025). Sách được in thành 2 tập – Tập 1 gồm 41 tác giả và Tập 2 gồm 45 tác giả. Như vậy, tổng cộng có 86 tác giả, trong đó có nhiều tác giả đã nổi tiếng từ trước 1975. Tám mươi sáu tác giả đến vùng đất này bằng những cách khác nhau, trình độ khác nhau, nghề nghiệp khác nhau nhưng có một điểm tất cả đều giống nhau. Đó là: Họ đã sống và viết bên dòng Potomac.
Ngày 17 tháng 9 năm 2025, thi sĩ “Công giáo” Lê Đình Bảng đã bước vào độ tuổi thượng thọ. Ông đã chính thức đạt 83 tuổi Tây và 84 năm tuổi ‘Mụ’. Một độ tuổi cần nghỉ ngơi, an dưỡng tuổi già. Song với tình yêu văn chương, chữ nghĩa và đặc biệt là niềm tin vào tôn giáo, ông vẫn như một thanh niên tráng kiện, đầy đức tin và nhiệt huyết, khi cho ra mắt thi phẩm thứ 25, sau rất nhiều tác phẩm nổi tiếng với nhiều thể loại khác nhau như văn xuôi, nghiên cứu lịch sử, tôn giáo...sáng tác kể từ năm 1967 miệt mài cho đến nay...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.