Hôm nay,  

Người Bạn Cài Nơ Đỏ

10/4/202400:00:00(View: 3085)
 
Red ribbon
 
LTG: Khắp nơi, trong nước lẫn ngoài nước, mọi người đang tích cực lạc quyên cứu trợ hậu quả trầm trọng của cơn bão YAGI mới tàn phá Việt Nam vừa qua, nhắc lại kỷ niệm của hai buổi lạc quyên cứu trợ nạn nhân bão lụt miền Trung khác từ thế kỷ trước.
Năm đó, 1999,  miền Trung Việt Nam nhất là ở Huế đang chịu trận thiên tai bão lụt lịch sử lớn nhât từ trước cho đến thời điểm bấy giò. Trong hội chợ tết, người Việt ở đây San Jose vui Xuân nhưng không quên đồng bào ở quê nhà.  Từng đoàn Hướng Đạo Sinh Việt Nam được phân phối nhiệm vụ cầm những thùng lạc quyên để quyên tiền cứu trợ.
 
Đang lang thang trong hội chợ, hai em bé trong đồng phục Hướng Đạo chận tôi lại. Một trai một gái. Bé gái cao hơn bé trai non nữa cái đầu, chửng chạc nói “Chú ơi, ủng hộ đồng bào bảo lụt đi chú”. Trọn một câu tiếng Việt, tuy phát âm không trọn vẹn, nhưng khá rõ ràng. Tôi nhìn hai em, nhất là bé gái đang thắt cái nơ trên đầu cái nơ mầu đỏ!
 
Tôi bỗng thấy lòng bâng khuâng man mác.
 
Hồn tôi như bay lạc về lại cái chợ TÂN ĐỊNH của mấy mươi mấy năm về trước, khoảng năm 1970 hay 71.
Khi đó tôi mới chập chững năm đầu tiên trung học, cũng vào năm miền Trung bị bão lụt tàn phá nặng nề nên nhà trường huy động học sinh tổ chức một buổi lạc quyên để hưởng ứng chiến dịch cứu trợ đồng bào ruột thịt.
Đúng 10 giờ sáng, tất cả học sinh được phân công cứ hai người thành một nhóm chuẩn bị lên đường. Tôi lớ ngớ thế nào bị xếp chung toán với một bạn khác thuộc lớp… con gái. Tôi nào muốn như vậy! Nhưng lúc bắt cặp xếp toán, tôi chậm chân chậm tay thế nào để bị lọt sổ cuối cùng lẻ loi một mình, và bạn đó chắc cũng rứa. Hai cái lẻ loi này bèn ghép lại thành một cặp vậy.
 
Tôi ngượng lắm, bởi vì bạn là con gái trổ mã sớm nên cao hơn tôi đến nửa cái đầu. Tôi thấy tôi lùn quá, hơi quê, nhưng biết làm gì hơn? Lúc đó thì dĩ nhiên tôi biết tên bạn, nhưng khi ngồi viết những dòng chữ này, thì đã quên rồi. Bạn đừng trách. Tôi chỉ còn nhớ bạn kẹp một cái nơ màu đỏ trên đầu. Vậy tôi tạm gọi bạn là NƠ ĐỎ nghe.
 
Bắt đầu công tác. Tôi lãnh phần đeo thùng tiền cứu trợ, còn bạn Nơ Đỏ thì được giao cọc giấy huy hiệu cứu trợ cùng hôp kim gút dùng để gắn lên tay áo khách bộ hành. Chúng tôi không được phép đi xa, chủ yếu là chung quanh hai chợ Tân Định và Đa Kao, cùng những con lộ chính như Hai Bà Trưng, Trần Quang Khải… mà thôi.

Buổi sáng hôm đó, cả trường vui vẻ nhộn nhịp như ngày tất niên. Vừa ra khỏi cổng trường, Nơ Đỏ dắt tôi chạy ù lại chợ Tân Định. Bạn khôn lắm, nói là phải tới… xí trước. Quả nhiên hai đứa tôi tới chợ sớm nhất, gặp giờ thiên hạ đang đi chợ đông đảo nên tha hồ múa gậy vườn hoang. Chúng tôi phải tranh thủ thời gian, vì trong chốc lát các toán khác sẽ tới chia phần. Khi gặp một nhóm đông người, một mình bạn gắn huy hiệu không xuể, tôi phải phụ một tay, dĩ nhiên là chỉ ở những… người lùn, tôi có thể với tới. Thông thường chúng tôi không phải nói gì cả, chỉ cần nhìn thùng lạc quyên có in câu “CỨU TRỢ NẠN NHÂN BÃO LỤT” là ai cũng vui vẻ móc túi lấy tiền. Lâu lâu có người hỏi han thì Nơ Đỏ lễ phép giải thích “Dạ, tụi cháu lạc quyên cho nạn nhân miền trung bị bão lụt”. Hầu như không ai nỡ lòng nào từ chối cả. Thỉnh thoảng gặp vài anh thanh niên có vẻ lơ là né tránh, là đến phiên tôi ra tay. Tôi chạy lại nắm áo “Cứu trợ đồng bào bị bão lụt đi anh”, và cương quyết đứng chờ cho tới khi chàng móc ví mới chịu. Một lần tôi thấy anh lính lơ láo mua thuốc lá gần đó, bèn nhanh nhẹn chạy lại. Anh lính trừng mắt nhìn tôi “Lính nghèo thấy mẹ, lấy tiền đâu cho, mầy!” Nói vậy mà anh cũng cầm mớ tiền lẻ thối lại nhét vào thùng.
 
Chưa đến hai tiếng đồng hồ, hình như khắp chợ ai cũng có huy hiệu cứu trợ gắn trên tay áo. Chúng tôi bắt đầu ế. Phải chú ý kỹ hơn tìm kiếm khách hàng mới. Đứng ngơ ngác hồi lâu, tôi và Nơ Đỏ cùng để ý thấy một bà xách giỏ đi chợ, mà sao tay áo… trống trơn! Chúng tôi mừng húm nhào tới. Giữa lúc Bạn đang sắp sửa gắn huy hiệu cứu trợ lên , bà xua tay nói “Bác cho rồi mà cháu”, và móc túi áo lấy ra tấm giấy lạc quyên đưa ra trước mặt “Thấy chưa?” Hai đứa tôi quê quá tiu nghỉu quay đi. Mới được mấy bước, nghe bà gọi giật lại “Nè, mà khoan đã cháu”. Bà tiến lại cầm tờ năm chục nhét vào thùng. Hai đứa tôi mừng rỡ chưa kịp nói tiếng cám ơn, bà đã ôm cả hai vào lòng thốt “Con cái nhà ai mà giỏi vậy nè trời”. Tôi hơi mắc cỡ, nhưng cảm thấy thật sung sướng. Ước chi có mạ tôi cạnh bên, bà sẽ hãnh diện về thằng con. Quay sang Nơ Đỏ, thì bạn đang chớp chớp mắt có vẻ cũng cảm động lắm… như tôi.
 
Xế trưa, khu chợ đã vắng, và thùng tiền khá nặng, chúng tôi thong thả trở về trường. Bây giờ mới cảm thấy cơn mệt. Mồ hôi tôi ướt đẫm lưng áo. Phần bạn cũng tơi tả không kém. Những giọt mồ hôi lấm tấm chảy dài trên đôi má đỏ bừng bừng dưới cơn nắng ban trưa. Lòng tôi thấy vui quá. Hình như đây là lần đầu tiên trong đời trực tiếp làm việc nghĩa. Tôi khoái chí cầm thùng tiền lắc lia liạ, lắng nghe tiếng lẻng kẻng kim khí chạm nhau bên trong, xen lẫn tiếng lụp bụp của những tờ tiền giấy. Nơ Đỏ cũng hả hê quên hết cơn mệt. Bạn thắt hai tà áo dài lại gọn gàng với nhau, nhặt một miếng gạch vụn bên đường, ném về phía trước, lò cò nhảy tới khom lưng luợm lên, rồi lại ném, cứ thế…Thỉnh thoảng bạn ngưng chơi, giành thùng tiền tôi đang đeo, lắc qua lắc lại nghe leng leng… leng keng… và cười sung sướng.
 
Sau này, trong sinh hoạt Hướng Đạo, tôi cũng nhiều lần có dịp làm công tác xã hội tương tự, nhưng niềm vui không tràn đầy như lần đầu tiên này. Bạn Nơ Đỏ sau buổi lạc quyên đó, thỉnh thoảng gặp lại trong trường, chúng tôi chỉ vẫy tay chào chút xíu, đại khái muốn nói “A, tụi mình cũng quen nhau chứ bộ!” Qua năm sau, tôi không còn gặp lại bạn nữa. Có phải qua ba tháng hè con gái thay đổi mau lẹ tôi nhận không ra? Hay bạn đổi sang trường khác? Hay có khi vẫn còn đó, nhưng đã đổi màu nơ kẹp tóc mà tôi lại cứ ngây thơ đi kiếm cái nơ
đỏ không còn trên đầu của bạn nữa… đến nỗi vụng về đánh mất người bạn có chung một kỷ niệm của thời ấu thơ.
 
Câu chuyện lạc quyên năm nào đã chìm sâu vào tâm tưởng. Bạn cài nơ đỏ của tôi bây giờ không biết ở đâu. Tôi lỡ đánh mất tên của bạn đâu đó trong vùng trời ký ức. Không biết bạn có may mắn đến được bến bờ tự do? Và tình cờ đọc được những dòng chữ này.
 
Nhìn hai em bé trước mặt, tôi cảm động quá, chỉ muốn như bà hàng chợ năm nào ôm cả hai em vào lòng và nói "Con cái nhà ai mà giỏi vậy nè trời!”
 
Nghĩ trong đầu thôi. Luật lệ Mỹ đâu cho người lớn ôm ghì con nít như ở Việt Nam đâu! Tôi chỉ có thể xoa đầu hai bé để khen ngợi. Nhưng khi vỗ tay lên đầu bé gái, tự nhiên buột miệng “Té ra bạn vẫn còn cài cái nơ đỏ đó à?”
 
Cháu nhìn tôi ngạc nhiên không hiểu ông chú này nói cái chi lạ quá!
 
./.
ThaiNC
 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.