Hôm nay,  

Tháng Năm, nhớ Mẹ

5/13/202321:19:00(View: 3694)
Tùy bút Mother's Day

mother 7

Tháng 5, tháng diễn ra lễ mừng Mother Day ở nhiều nước trên thế giới. Đó là ngày nhắc nhở để nhân loại biết tôn vinh người Mẹ và tình mẹ. Ai trong chúng ta cũng đều do mẹ sinh ra nhưng việc ý thức tình yêu của mẹ dành cho mình và sự đáp trả tình yêu ấy không giống nhau ở tất cả mọi người do nhiều lý do và hoàn cảnh khác nhau.
     Năm mẹ 45 tuổi, cha tôi qua đời. Mẹ tôi ở vậy nuôi con và chăm sóc mẹ chồng, bà nội tôi, khi ấy đã già. Anh chị tôi đã lớn, hai anh đầu làm việc ở công sở, chị Ba phụ mẹ công việc đồng áng, chỉ chị Năm và tôi còn đi học. Gia đình tôi thuộc hàng khá giả ở quê, có cả thợ cày, người giúp việc, vườn rộng, ruộng nhiều nên không lo cơm gạo. Mẹ tôi đảm trách việc nông tang, giỗ chạp trong gia đình và hiếu hỷ trong làng. Thời gian ấy, tôi mới vừa xong tiểu học, xuống trường quận chừng 7 cây số cách nhà học đệ nhất cấp, trường Trung học Quế Sơn, món quà mà Tổng Thống Ngô Đình Diệm khi về thăm tặng cho quận qua lời hứa với cụ Phủ Lương Trọng Hối, đồng liêu với Người chốn quan trường cuối đời nhà Nguyễn.
     Đi học xa nhà, dù được về vào cuối tuần nhưng xa vòng tay ôm ấp của mẹ và chìu chuộng của anh chị, xa ngôi nhà yêu thương và bạn bè trong xóm, tôi buồn lắm, nhất là khi mọi người dành hết yêu thương cho chàng út phải sớm mồ côi cha. Nhưng rồi, tuổi nhỏ chóng quên, tôi phải  thích nghi để lo học hành, một việc rất khó khăn với đứa nhỏ nhà quê mới mười hai tuổi. Đã quá xa về thời gian tính từ ngày ấy, tôi nhớ mình đã đi về cuối tuần bằng cách đi bộ cùng với bạn bè. Thỉnh thoảng có nhờ vài anh lớn tuổi hơn học cùng trường chở bằng xe đạp. Kỷ niệm duy nhất về mẹ ngày ấy chỉ còn hai việc. Mẹ tôi về ngoại, cách nơi tôi trọ chỉ 3 cây số nhưng tôi không cách nào qua thăm bà và dù chỉ vài ngày nữa là lại được về thăm. Có lần, chuẩn bị theo bạn xuống trường vào trưa chúa nhật, nhân ở sát trong núi, có người đem phần thịt heo rừng ra chia cho nhà tôi (*), mẹ chế biến vội một ít cho ăn, bữa ăn rất ngon miệng và nhớ mãi đến giờ. Anh chị em tôi luôn phục tài nấu ăn của mẹ.
     Một trong những điều mà tôi cho là “điểm son” trong đời mẹ là cách cư xử với các con dâu. Thương yêu, bao dung nhưng trong khuôn phép. Có lẽ điều này bắt nguồn từ quá khứ cư xử bà nội đã dành cho mẹ nên mẹ đối xử với ba cô con dâu luôn thân mật, nhẹ nhàng. Nghe kể lại rằng thời ông nội và cha tôi làm nghề bốc thuốc, gia đình thờ Quan Công bên cạnh bàn thờ ông bà, tổ thuốc. Nghiêm cấm sử dụng thịt trâu, thịt chó trong nhà nhưng bà và mẹ tôi lại thích món thịt trâu nên mẹ con “toa rập” nhau, mua về và đem ra góc vườn nấu để cùng ăn. Chuyện hư thực thế nào không rõ, kể lại việc này về bề trên là bất kính nhưng như một minh họa cho những nhận định của mình. Mẹ tôi đối với con dâu bình đẳng, không kể tuổi tác hay giàu nghèo. Sai, bà chỉnh ngay, có lúc chỉnh trước mặt các anh. Do vậy, các nàng dâu luôn luôn yêu quý và kính trọng bà kể cả khi họ bước vào tuổi 70 - 80!
     Tôi là con út, lại mồ côi cha sớm, mẹ cưng chìu và yêu thương là chuyện bình thường nhưng các anh chị tôi đã thành gia nên thất mẹ tôi vẫn luôn quan tâm lo lắng cho họ, cả lúc khó khăn lẫn khi thuận lợi. Thời bao cấp, từ một công chức chính phủ VNCH, hai anh tôi phải lao vào đời kiếm sống nuôi bầy con 5 – 6 đứa. Anh Cả phải chạy xe đạp thồ, những ngày mưa, chiều, mẹ nhìn ra cửa “trông đứng trông ngồi”. Chỉ đến khi anh dắt xe vào nhà bà mới yên tâm! Sau này, khi các anh có cuộc sống ổn định, gia đình khá giả, mỗi lần mưa, mẹ vẫn thấy thương những người “đội mưa kiếm sống” khi nghĩ đến lúc khó khăn của con mình. Anh Hai tôi phụ người bạn đứng máy xay xát, ngày nào không có hàng để làm là bà đi ra, đi vào, lo lắng! Thương con là vậy nhưng nhiều lúc cũng quá đáng lại làm các anh bực mình khi cho rằng mẹ can thiệp sâu vào công việc của họ.
     Xuất thân và làm dâu đều trong gia đình khá giả, ít nhất là đối với quê tôi ngày ấy nhưng mẹ tôi không có cách cư xử của một số người giàu: tự dắc, huênh hoang, chảnh chọe. Bà đối xử rất tốt với thợ cày, thợ gặt và người giúp việc trong nhà nhất là miếng ăn miếng uống, kể cả sau này, với người giúp việc cho anh chị tôi. Có lẽ nhờ biết ơn bà nên khi quê tôi loạn lạc (chính quyền Quốc gia cai quản ban ngày, ban đêm thi thoảng Việt cộng về tuyên truyền, huy động lương thực trong dân) những người thợ cày luôn chạy về báo để bà, mẹ và chị Ba tôi chuẩn bị đi tránh.
     Năm bà 90 tuổi, lúc tôi đang làm việc ở Cam Ranh, bà đi thăm cháu nội đích tôn ở Sài Gòn. Khi cháu đón bà ở sân bay, gọi cho tôi báo tin rồi chuyển máy cho bà. Sau vài câu hỏi thăm sức khỏe bà qua chuyến bay, mẹ tôi “nhập đề trực khởi” ngay : “Mẹ nhờ con tạm ứng cho mẹ số tiền . . . và chuyển cho chú Tám. Mẹ sẽ trả khi gặp con gái con trong này. Nói với chú là mẹ gửi biếu chú uống trà”. (Chú Tám là em họ cha tôi nhưng hai gia đình rất gần vì ông cố tôi ít con cái).
     Hồi sống ở Bangkok (hơn 4 năm) tôi gom góp tất cả hình ảnh Mẹ mà mình có được, bằng vốn hiểu biết vi tính còm cõi của mình, theo cách vừa học vừa làm, tôi thực hiện một PPS về mẹ. Khi anh chị em và con cháu tổ chức mừng thượng thọ bà 100 tuổi – sau Tết năm 2013 (10 năm trước), đem PPS này chiếu lên màn hình TV, ai cũng ngạc nhiên và vui khi thấy lại cả quảng đời của bà, của Mẹ. Còn nhớ khi coi PPS, cô cháu tôi đã khóc, những giọt nước mắt thật lòng!
     Cật ruột của mẹ tôi có bốn người: dì Ả và dì Cạnh đã mãn phần, vợ chồng cậu Sáu đã định cư ở Mỹ, chỉ còn lại dì Năm đơn thân ở quê, thỉnh thoảng ra chơi với chị, ở lại dăm ba ngày hoặc lâu hơn. Do vậy, mừng thượng thọ Mẹ kết hợp với thượng thọ dì. Coi như “hai trong một” để dì vui và không cảm thấy bị bỏ rơi. Còn nhớ, ngày ấy mẹ tôi minh mẫn lắm. Bà cầm micro nói lời cám ơn con cháu đã tổ chức, cám ơn bà con và bạn bè của con đến dự, rõ ràng, rành mạch. Trong tiệc mừng, bà bưng ly đến từng bàn mời khách. (kể cả con cháu, hôm đó khoảng 60 người).
     Mẹ tôi sống khỏe thêm hai năm, sau đó thì bà yếu dần – nhưng vẫn còn minh mẫn. Bà bị “bệnh tuổi già”, vừa co rút các cơ vừa bị tai biến. Bài viết này thay cho một lời tri ân đến hai chị đã thay gia đình hai anh và vợ chồng tôi trực tiếp lo cho bà từng miếng ăn, giấc ngủ, vệ sinh thường nhật và có những việc các chị làm vì muốn tự mình chăm sóc hơn là nhờ người giúp việc! Tuy vậy, điều đáng khâm phục ở mẹ tôi là bà rất ít muốn làm phiền mọi người. Bà tự lo những việc trong khả năng của mình như ăn uống, đi vệ sinh, ngồi dậy, nằm xuống . . .
     Khi bà yếu, ở Bangkok tôi về vài ba lần mỗi năm. Mỗi lần về ở với bà từ 3 tuần đến cả tháng, mẹ và cả nhà rất vui vì các anh và các cháu thường đến chơi, sắm vài món nhậu, và mẹ, vui vẻ nhậu cùng! Về, tôi hạn chế ra ngoài kể cả thăm bè bạn mà chỉ quanh quẩn bên bà, nhờ đó, chứng kiến thường xuyên để thấy khâm phục cốt cách và trí tuệ bà. Ông sui anh Hai từ Bình Định vượt hơn 200 cây số xe đò ra thăm, mẹ tôi gượng ngồi dậy tiếp khách. Gần trưa, bà nhắc các chị lo cơm nước mời khách. Có lần đứa con anh Cả từ cửa hàng dắt vợ về ghé tạt vào thăm. Chàng này muốn “thử” bà, chỉ vào vợ mình và hỏi “Bà nội, bà biết cô nào không?”, mẹ không nói gì, chỉ cười cười. Cháu hỏi lại lần thứ 2, bà nghiêm nét mặt: “Thằng này thiệt dại, vợ mình mà không biết là ai, phải hỏi bà sao con?” Lần khác, con trai thứ tư của anh Hai đến thăm bà, chàng này uống đâu đó về nên phải tật nói lặp. “Bà nội ơi, hôm trước bà ăn bồ câu vợ con hầm đem đến bà thấy ngon miệng không? Nếu bà thích, vài hôm nữa vợ con hầm đem xuống bà ăn nhé”. Bà trả lời là thích. Cháu ngồi chơi, xoa bóp tay chân cho bà rồi nói thêm hai lần câu “vài hôm nữa vợ con hầm đem xuống bà ăn nhé”. Mẹ tôi nói ngay: “Bà cám ơn cháu nhưng bà chỉ ăn được một con, mà cháu cho đến ba con thì bà ăn sao nổi?i”.
Năm mẹ 105 tuổi, bà qua đời. Phút lâm chung của bà có đủ con, dâu từ lớn đến nhỏ, rất đông các cháu cũng có mặt. May mắn là cậu tôi, tuổi gần 90 cũng từ quê đi taxi cùng con gái ra với mẹ tôi kịp thời. Quan tài bà đem về quê ngoại tôi cách nhà chừng 60 cây số. Đám tang tổ chức trọng thể, đủ các nghi thức truyền thống tại nhà ở phố lẫn trước đông đủ bà con đến tận huyệt mộ ở quê để tiễn biệt trước giờ hạ huyệt.
     Rất nhiều người nói là bà có phước từ khi về già đến lúc qua đời. Đó là kết quả của một hiện kiếp sống đạo đức, hiền lương và thiện lành. Chỉ mong tất cả con cháu lấy điều này làm gương để biết điều chỉnh thái độ sống của mình. Riêng anh chị em tôi, học được rất nhiều điều từ mẹ. Chúng tôi vẫn luôn coi bà là cô giáo vĩ đại nhất của mình, vẫn không quên “Những điều mẹ dạy” dù chúng tôi đều quá ngưỡng 70!
     Mẹ ơi, khi sống, mẹ đã trải lòng với cuộc đời, với xã hội nên con luôn tin, ở nơi xa xăm đó, mẹ cũng luôn vui vẻ bình an khi đoàn tụ với những người thân đã mãn phần nếu tin là có “thế giới bên kia” Mẹ nhé.

 

– Nguyễn Hoàng Quý

(Sài Gòn, 14/4/2023)


(*) Thời đệ nhất Cộng Hòa, ở quê, gia đình tôi góp tiền giao cho bà con ở gần chân núi, cách nhà chừng 5-6km để nuôi dê và đào hố bắt heo rừng thường xuống chân núi uống nước. Mỗi lần bắt được heo, họ đem thịt ra nhà.

 

 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.